tiểu thủ công nghiệp ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng - Pdf 45

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) luôn giữ vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển nông thôn Việt Nam, không chỉ làm tăng thu nhập cho nông
dân mà còn tạo nên những sản phẩm độc đáo mang đậm dấu ấn bản sắc văn
hóa đặc trưng cho mỗi vùng, miền và được lưu giữ từ đời này qua đời khác.
Phát triển TTCN là một trong những nội dung lớn của Đảng và Nhà
nước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X đã xác định rõ: “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn, nhất là những ngành, nghề sử dụng nhiều lao động, xem đây
là hướng chính để tạo nhiều việc làm mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho
nông dân”. Cụ thể hóa chủ trương trên, nhiều địa phương đã chủ động tổ chức
sản xuất, khôi phục lại ngành nghề truyền thống và tìm kiếm thị trường mới,
đáp ứng nhu cầu của thị trường. Sự biến đổi đó đã góp phần đem lại bộ mặt
mới của khu vực nông thôn, một phần lao động trong thời gian nông nhàn, lao
động dôi dư đã có việc làm ổn định.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sức ép dư thừa lao động ở nông thôn và
sự chuyển dịch lao động ra thành phố ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập
giữa nông thôn và thành thị ngày một gia tăng. Vì vậy, sự phát triển TTCN rất
có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát
huy những giá trị truyền thống của dân tộc.


2


bàn huyện Hòa Vang từ năm 2006-2010 và đề xuất các giải pháp nhằm phát
triển TTCN của huyện đến năm 2020.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích chuẩn tắc và phân tích
thực chứng trong kinh tế - xã hội. Sử dụng rộng rãi các phương pháp tổng hợp
thống kê, thống kê mô tả và thống kê phân tích. Nguồn số liệu sử dụng trong
đề tài bao gồm: số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp.
- Số liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ niên giám thống kê, các
tài liệu văn bản, sách báo, tạp chí, báo cáo, website và tư liệu do địa phương
cung cấp có liên quan đến đề tài.
- Số liệu sơ cấp được thu thập và tổng hợp thông qua điều tra, phỏng
vấn các cơ sở sản xuất TTCN theo phiếu điều tra với bảng câu hỏi đã
được chuẩn bị sẵn, phạm vi điều tra là: điều tra chọn mẫu 60 cơ sở sản xuất
TTCN trên địa bàn huyện Hòa Vang.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển TTCN trên địa bàn
huyện Hòa Vang.
Đánh giá thực trạng phát triển TTCN, chỉ ra những thành tựu, hạn chế,
thách thức và nguyên nhân hạn chế của sự phát triển TTCN trong thời gian
qua tại huyện Hòa Vang.


4

Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển TTCN trên địa bàn huyện Hòa
Vang.
5. Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Liên quan đến phát triển TTCN, ở Việt Nam đã có nhiều công trình
nghiên cứu bao gồm ở khía cạnh kinh tế, môi trường, xã hội và kỹ thuật.

phát triển và thực trạng của làng nghề TTCN, đồng thời nêu được những khó
khăn, vướng mắc về thị trường của làng nghề TTCN vùng đồng bằng sông
Hồng; xác định phương hướng phát triển và các giải pháp để mở rộng thị
trường TTCN vùng đồng bằng sông Hồng.
Các công trình trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn, đã phân tích
đánh giá toàn diện về sự phát triển ngành TTCN trên các khía cạnh khác
nhau.
Nghiên cứu tổng quát các vấn đề liên quan đến phát triển ngành TTCN
thành phố Đà Nẵng đã có công trình nghiên cứu như:
- “Quy hoạch phát triển Công nghiệp thành phố Đà Nẵng đến năm
2020” do Sở công thương thực hiện. Đề tài này nhằm làm rõ các tiềm năng,
nguồn lực và các đặc thù của Thành phố Đà Nẵng để xây dựng các quan
điểm, định hướng phát triển cho công nghiệp một cách phù hợp; xây dựng cơ
cấu, mục tiêu phát triển công nghiệp thích ứng với các giai đoạn phát triển.
Nội dung Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
đến năm 2015.
- Đề tài “Quy hoạch xây dựng và phát triển các làng nghề thành phố
Đà Nẵng đến năm 2015, có xét đến năm 2020” do Sở Công Nghiệp thực
hiện đã tập trung vào những định hướng cơ bản phát triển và khôi phục các
làng nghề và nghề TTCN trên địa bàn thành phố đến năm 2015 có xét đến
2020.


6

Trên cơ sở quy hoạch phát triển TTCN của thành phố Đà Nẵng,
UBND huyện Hòa Vang có Đề án “Phát triển ngành Công nghiệp-Tiểu thủ
công nghiệp, Thương mại-Dịch vụ huyện Hòa Vang giai đoạn 2007-2010”.
Đề án đã nêu ra một số căn cứ xây dựng Đề án; đánh giá thực trạng ngành
công nghiệp-TTCN, thương mại-dịch vụ huyện Hòa Vang giai đoạn 20022006; trên cơ sở đó đưa ra mục tiêu và giải pháp phát triển công nghiệpTTCN, thương mại-dịch vụ huyện Hòa Vang giai đoạn 2007-2010.

định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay.
Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công
cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản [2].
- Thủ công mỹ nghệ: là các nghề thủ công làm ra các sản phẩm mỹ
nghệ hoặc các sản phẩm tiêu dùng được tạo hình và trang trí tinh xảo giống
như sản phẩm mỹ nghệ. Ở sản phẩm mỹ nghệ, chức năng văn hóa, thẩm mỹ
trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường [2].
- Thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ
công. Cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công [2].


8

- Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao
gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ. Thường các cơ cở công
nghiệp nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành [2].
- Làng nghề tiểu thủ công nghiệp: là làng có nghề tiểu thủ công nghiệp
phát triển với một tỷ lệ số hộ và tỷ lệ thu nhập từ nghề TTCN nhất định, trở
thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếu được của người dân trong
làng. Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%, ở Việt Nam đang có xu
hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhập của làng từ
nghề thủ công. Tỷ lệ đó được duy trì và ổn định trong nhiều năm [2].
- Các ngành nghề sản xuất tiểu, thủ công nghiệp bao gồm [12]:
+ Chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản.
+ Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt
may, cơ khí nhỏ ở nông thôn.
+ Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông
thôn.
Như vậy, có thể hiểu tiểu thủ công nghiệp là:
- Ngành sản xuất thủ công là chủ yếu, có thể sử dụng tiến bộ kỹ thuật

cũng ít đi. Ngành nghề thủ công đã tạo việc làm cho khoảng 30% lực lượng
lao động ở nông thôn. Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm
ổn định cho 27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao động. Ngoài lao
động thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành nghề còn thu hút lao động nhàn rỗi ở
nông thôn (bình quân 2-5 người/hộ, 8-10 người/cơ sở)1. Đặc biệt ở nghề dệt,
thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao động. Nhiều
làng nghề thu hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt động ngành nghề.
1

Nguồn: Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn


10

Sự phát triển làng nghề truyền thống không những chỉ thu hút lao động ở gia
đình làng xã mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương
khác đến làm thuê. Bên cạnh đó, sự phát triển của các làng nghề còn kéo theo
nhiều nghề dịch vụ khác phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người
lao động.
Hơn nữa, sự phát triển của các nghề thủ công đã có vai trò tích cực
trong việc hạn chế di dân tự do. Sự phát triển này thực sự sẽ tạo ra một
chuyển biến mới quan trọng trong việc tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cải
thiện đời sống nhân dân. Người dân nông thôn luôn có tâm lý gắn bó với làng
quê. Do vậy, khi đã có việc làm và thu nhập ổn định mà nguồn thu nhập này
lại cao hơn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì họ sẽ không muốn đi tìm
việc nơi khác. Việc phát triển làng nghề theo phương châm “ly nông, bất ly
hương” không chỉ có khả năng lớn giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho
người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự
do ở nông thôn hiện nay [2].
- Phát triển TTCN góp phần phát triển nông thôn, kinh tế địa phương

bố rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra
một khối lượng sản phẩm hàng hóa khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh
tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng. Năng lực sản xuất,
kinh doanh của các làng nghề là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản
xuất hàng hóa ở nông thôn [2].
- Phát triển ngành TTCN góp phần phát huy thế mạnh nội lực của địa
phương
Các nghề thủ công cho phép khai thác triệt để hơn các nguồn lực ở địa
phương, cụ thể là nguồn lao động, nguyên vật liệu, tiền vốn. Làng nghề


12

truyền thống có thể làm được điều này vì nó có nhiều loại quy mô, dễ dàng
chuyển hướng kinh doanh v.v…
Một khi TTCN ở nông thôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một đội ngũ
lao động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới. Chính thông qua lực lượng
này để tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản
xuất, làm cho sản phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, khả năng cạnh
tranh trên thị trường lớn. Như vậy nghề TTCN càng phát triển mạnh nó càng
có điều kiện để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Hơn nữa, khi cơ
sở vật chất kỹ thuật được tăng cường và hiện đại, chính là tạo điều kiện thuận
lợi cho đội ngũ lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính
tổ chức tính kỷ luật. Đồng thời trình độ văn hoá của người lao động ngày một
nâng cao, lại là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
nghệ vào lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong làng nghề [2].
- Phát triển ngành TTCN góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc của
địa phương
Lịch sử phát triển của ngành các nghề thủ công gắn liền với phát triển
văn hóa dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hóa, đồng thời là biểu hiện tập

sản phẩm thủ công giúp định hướng phong cách sản phẩm công nghiệp.
Phát triển TTCN sẽ nâng tỷ trọng của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế
ở nông thôn và tăng tốc độ phát triển kinh tế nông thôn. Đồng thời với thúc
đẩy phát triển công nghiệp, phát triển các làng nghề sẽ kéo theo phát triển
nông nghiệp để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm
của công nghiệp, thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các nghề
dịch vụ....Do vậy, phát triển TTCN sẽ góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn [2].


14

1.1.3. Đặc điểm của tiểu thủ công nghiệp
- Xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác,
còn tồn tại cho đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng
những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công
nghệ truyền thống. Sản phẩm TTCN tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có
giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ
thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản
sắc văn hóa Việt Nam.
- Phát triển trên cơ sở kỹ thuật tinh xảo và tài hoa của đôi tay và trí óc
của nhiều thế hệ nghệ nhân, được mọi lứa tuổi tiếp thu và có hành nghề.
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam.
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, hòan tòan trong nước hoặc chủ yếu nhất
[28].
1.2. Nội dung và hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển
của Tiểu thủ công nghiệp
1.2.1. Nội dung của phát triển Tiểu thủ công nghiệp
Phát triển TTCN là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện

học công nghệ, chú trọng đầu tư đổi mới máy móc thiết bị. Chú trọng công
tác khuyến công, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất, phát triển mô hình
sản xuất hiệu quả nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất TTCN.
1.2.1.4. Phát triển hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
TTCN có nhiều hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó hộ gia đình vẫn
chiếm đa số về lao động và số cơ sở sản xuất, số lượng loại hình tổ chức
doanh nghiệp và hợp tác xã chiếm tỷ lệ thấp. Để TTCN có sự tăng trưởng và
phát triển ổn định, cần khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp TTCN.
Vì hình thức hoạt động này có lợi thế là tính linh hoạt trong việc giải quyết
các vấn đề sản xuất kinh doanh.


16

1.2.1.5. Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm tiểu thủ công nghiệp
Một trong những khó khăn hiện nay của các doanh nghiệp đó là vấn đề
thị trường và tiêu thụ sản phẩm. Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh, các đơn
vị cần chủ động trong việc phát triển thị trường và tiêu thụ sản phẩm.
Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế tiếp cận, tìm kiếm và mở rộng thị trường. Chú trọng hỗ trợ công
tác quảng bá, giới thiệu tiêu thụ sản phẩm TTCN.
Để việc tiêu thụ sản phẩm được phát triển, ổn định cần chú trọng thực
hiện liên doanh, liên kết trong tổ chức sản xuất, thực hiện gắn kết việc thu
hút, tạo nguồn nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm.
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển tiểu thủ
công nghiệp
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô nguồn lực sản xuất
- Số lượng cơ sở sản xuất TTCN (số cơ sở, số hộ sản xuất TTCN)
- Số lượng lao động TTCN
- Vốn đầu tư sản xuất TTCN

bình quân): là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng vốn của doanh
nghiệp để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí sử dụng vốn là
thấp nhất.
- Tỉ suất lợi nhuận (lợi nhuận/doanh thu): là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi
nhuận (trước thuế hoặc sau thuế) thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh,
hoạt động tài chính, các hoạt động khác với tổng doanh thu thuần thu về.


18

1.2.2.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng sản xuất tiểu thủ công nghiệp
- Tốc độ phát triển, tốc độ phát triển bình quân giá trị sản xuất TTCN.
- Tốc độ tăng, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất TTCN.
1.2.2.5. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức đóng góp của tiểu thủ công nghiệp
- Tỉ lệ giá trị sản xuất TTCN/giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành)
- Tỉ lệ giá trị sản xuất TTCN/giá trị sản xuất của toàn nền kinh tế (giá
hiện hành).
1.3. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của tiểu
thủ công nghiệp
Quá trình hình thành và phát triển các nghề TTCN chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội. Trong đó, các nhân tố kinh tế, xã hội
có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự
phát triển kinh tế gồm có:
1.3.1. Nguồn lao động
Nguồn lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của TTCN, có tác
động đến sản lượng đầu ra của doanh nghiệp. Trong ngắn hạn, khi năng suất
lao động và tiền công chưa có thay đổi lớn thì quy mô lao động trực tiếp
quyết định quy mô sản lượng đầu ra. Vì vậy, muốn đạt được sự tăng trưởng
nhanh trong TTCN thì phải có nguồn lao động dồi dào và phải mở rộng được
sản xuất nhất là những ngành cần nhiều lao động như ngành trang phục, thuộc

một thị trường tiêu thụ ổn định; mua nguyên, vật liệu và trả công lao động,
phần này chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm; đầu
tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công


20

đoạn có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng cao năng
suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
1.3.3. Tiến bộ khoa học, công nghệ
Một trong những lý do làm hiệu quả kinh tế ở các doanh nghiệp thấp là
do thiếu kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Do vậy vấn đề nâng cao kỹ thuật, đổi
mới công nghệ là vấn đề luôn được quan tâm ở các doanh nghiệp. Tùy thuộc
vào loại hình kinh doanh, đặc điểm ngành kinh doanh, mục tiêu kinh doanh
mà doanh nghiệp có chính sách đầu tư công nghệ thích đáng. Tuy nhiên, việc
phát triển kỹ thuật công nghệ đòi hỏi phải có đầu tư lớn, phải có thời gian dài
và phải được xem xét kỹ lưỡng 3 vấn đề:
- Dự đoán đúng cầu của thị trường và cầu của doanh nghiệp về loại sản
phẩm doanh nghiệp có ý định đầu tư phát triển. Dựa trên cầu dự đoán này
doanh nghiệp mới có những mục tiêu cụ thể trong đổi mới công nghệ.
- Lựa chọn công nghệ phù hợp. Các doanh nghiệp trên cơ sở mục tiêu
của sản xuất đã đề ra có những biện pháp đổi mới công nghệ phù hợp. Cần
tránh việc nhập công nghệ lạc hậu, lỗi thời, tân trang lại, gây ô nhiễm môi
trường,... .
- Có giải pháp đúng về huy động và sử dụng vốn hiện nay, đặc biệt là
vốn cho đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả thì
cần sử dụng vốn có hiệu quả, đúng mục tiêu nguồn vốn đầu tư công nghệ.
Rút ngắn thời gian xây dựng để nhanh chóng đưa dự án đầu tư vào
hoạt động luôn là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc nâng cao hiệu quả
kinh tế của đầu tư kỹ thuật công nghệ.

không thể không đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng một số tiến bộ khoa
học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất.
Trong những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công
nghệ đã có những tác động quan trọng tới sự đổi mới kỹ thuật – công nghệ


22

trong các làng nghề. Sự đổi mới công nghệ gắn liền với điện khí hóa, cơ khí
hóa sản xuất. Nhiều làng nghề đã sử dụng điện làm động lực chạy máy như
máy xay xát, máy nghiền bột, cắt bánh (bún, bánh tráng), thay tay quay bằng
mô tơ...
1.3.4. Nguyên vật liệu
Yếu tố nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất
TTCN. Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuất
đến nơi có nguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành
sản phẩm của các đơn vị sản xuất. Cho nên, các làng nghề thường chú ý nhiều
đến yếu tố nguyên vật liệu. Trước đây, phần lớn các làng nghề được hình
thành do có nguồn vật liệu tại chỗ và nghề nghiệp chủ yếu được gắn bó với
nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Có nhiều hình thức cung ứng
nguyên vật liệu khác nhau phù hợp với điều kiện và khả năng của người sản
xuất, việc khai thác và cung ứng các nguồn nguyên, vật liệu tại chỗ của nhiều
làng nghề truyền thống đã cạn kiệt, phải vận chuyển từ những nơi khác về,
điều kiện khai thác, vận chuyển có ảnh hưởng tới việc đảm bảo nguồn nguyên
liệu cho các làng nghề. Nguyên nhân là do sự khai thác bừa bãi, không có kế
hoạch đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên. Trong điều kiện khoa học và công
nghệ phát triển như hiện nay, nguyên vật liệu cho các làng nghề đã có sự
phong phú, đa dạng. Một loại nguyên vật liệu có thể dùng cho nhiều loại sản
phẩm, ngược lại một loại sản phẩm có thể dùng nhiều loại nguyên liệu thay
thế. Vì vậy, vấn đề chọn lựa và sử dụng các loại nguyên vật liệu thay thế hợp

sức khỏe, trình độ tri thức và kỹ thuật tay nghề cao, tạo điều kiện cho TTCN
phát triển.


24

1.3.6. Thị trường
Trong giai đoạn hiện nay, sự hình thành các yếu tố của nền kinh tế thị
trường đã tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của TTCN.
Sản xuất của TTCN đã trở thành sản xuất hàng hóa, chịu sự tác động khách
quan của quy luật cung cầu, giá cả, lợi nhuận và cạnh tranh. Sản phẩm của
TTCN với tư cách là hàng hóa được bán tự do trên thị trường theo quy luật
giá trị.
Sự tồn tại và phát triển của TTCN phụ thuộc rất lớn vào khả năng đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và thường xuyên biến đổi của thị
trường. Những nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường có
sự phát triển nhanh chóng. Sự thay đổi của thị trường tạo định hướng cho sự
phát triển của TTCN. Những nghề mà sản phẩm của nó phù hợp với nhu cầu
của xã hội, có khả năng tiêu thụ lớn thì vẫn phát triển. Ngay cả trong mỗi một
nghề, cũng có những làng nghề phát triển, trong khi một số làng nghề khác lại
không, ít chú ý đến sự thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng và giá cả nhằm
đáp ứng được sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường.
Tóm lại, thị trường vừa là động lực, là điều kiện, là thước đo kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Là động lực, thị trường đề ra nhu cầu cho sản xuất kinh doanh, định
hướng mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
- Là điều kiện, thị trường đảm bảo cung ứng có hiệu quả các yếu tố cần
thiết để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Là thước đo, thị trường kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các
phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [16].




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status