LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI SỞ KẾ
HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HẢI PHÒNG
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung luận văn “Chất lượng dịch vụ hành chính công tại
Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng”, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ
nhiệt tình của thầy TS. Phan Anh người đã trực tiếp hướng dẫn và định hướng khoa học
cho tôi trong quá trình viết luận văn, các thầy cô giáo Chương trình đào tạo Thạc sĩ quản
trị kinh doanh đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ tôi rất nhiều về tài liệu. Tôi cũng xin gửi
lời cảm ơn chân thành tới Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng, Bộ phận một cửa Sở Kế
hoạch và Đầu tư Hải Phòng đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu, giúp đỡ tôi để có thể hoàn
thành luận văn này một cách tốt nhất.
Vì thời gian và khả năng còn hạn chế, luận văn này không tránh khỏi thiếu sót, tôi
xin chân thành cảm ơn mọi ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học trong
ngành và những người quan tâm để luận văn này được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
i
MỤC LỤC
10
Từ viết tắt
TCVN
CLDV
NLPV
TDPV
DN
CTHD
DNTN
CN
VPĐD
ĐKKD
Nghĩa của từ
Tiêu chuẩn Việt Nam
Chất lượng dịch vụ
Năng lực phục vụ
Thái độ phục vụ
Doanh nghiệp
Công ty hợp danh
Doanh nghiệp tư nhân
Chi nhánh
Văn phòng đại diện
Đăng ký kinh doanh
iv
Hoàng Anh Tuấn – IeMBA – H02
cao chất lượng cung ứng các dịch vụ hành chính công, tạo sự hài lòng và thoả mãn của
khách hàng. Đề tài nghiên cứu “Chất lượng dịch vụ hành chính công tại Sở Kế hoạch và
1
Đầu tư Hải Phòng” là cần thiết đối với Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng với câu hỏi
nghiên cứu là:
1. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ hành chính công với sự hài lòng của khách
hàng như thế nào?
2. Yếu tố nào tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ
hành chính công tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng?
3. Những gợi ý nào cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công và tăng
sự hài lòng của khách hàng khi đến giao dịch tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công dựa trên ý kiến của khách hàng đến
giao dịch tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng. Nghiên cứu mối quan hệ, yếu tố nào tác
động đến sự hài lòng của khách hàng. Đưa ra các đề xuất, kiến nghị, gợi ý nhằm hoàn
thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải
Phòng.
2.2 Nhiệm vụ
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ, dịch vụ hành chính công,
quản lý chất lượng, quản lý chất lượng trong dịch vụ hành chính công, khách hàng và sự
hài lòng của khách hàng để từ đó có cái nhìn tổng quát về vấn đề này.
Nghiên cứu, thu thập và phân tích các số liệu của bảng hỏi dành cho các khách
hàng sử dụng dịch vụ hành chính công tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng.
Đề xuất một số ý kiến nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện dịch vụ
hành chính công nhằm hướng tới sự hài lòng, thoả mãn của khách hàng.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
mãn của khách hàng.
- Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ, dịch vụ hành chính công và sự hài
lòng, thoả mãn của khách hàng.
- Các yếu tố đánh giá chất lượng dịch vụ, dịch vụ hành chính công và sự hài lòng,
thoả mãn của khách hàng.
Chương 2: Phân tích thực trạng của dịch vụ hành chính công và sự hài lòng, thoả
mãn của khách hàng tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đăng ký doanh nghiệp.
- Tổng quan về Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đăng ký doanh nghiệp - Sở Kế
hoạch và Đầu tư Hải Phòng
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ hành chính công tại bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả đăng ký doanh nghiệp - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng.
3
- Phân tích, đánh giá kết quả điều tra về sự hài lòng, thoả mãn của khách hàng đối
với dịch vụ hành chính công tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đăng ký doanh nghiệp Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng.
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc
thực hiện dịch vụ hành chính công nhằm hướng tới sự hài lòng, thoả mãn của khách hàng
tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đăng ký doanh nghiệp - Sở Kế hoạch và Đầu tư
Hải Phòng.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phục vụ tại bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả đăng ký doanh nghiệp - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng.
4
CHAPTER 1: TỔNG QUÁT HOÁ CÁC LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH
VỤ, DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ SỰ HÀI LÒNG, THOẢ MÃN
CỦA KHÁCH HÀNG
vụ hành chính công mà chỉ sử dụng khái niệm “dịch vụ công” cho tất cả các loại dịch vụ,
tuy nhiên các nước này mặc nhiên thừa nhận các dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà
nước cung ứng cho công dân và tổ chức. Dịch vụ hành chính công có đặc trưng riêng,
phân định nó với loại dịch vụ công cộng khác:
Thứ nhất: Việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền và
hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước – mang tính quyền lực pháp lý – trong
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như cấp
các loại giấy phép, giấy khai sinh, công chứng, hộ tịch… Thẩm quyền hành chính pháp lý
thể hiện dưới hình thức các dịch vụ hành chính công nhằm giải quyết các quyền và lợi ích
hợp pháp của nhân dân, là hoạt động phục vụ công dân từ phía các cơ quan hành chính
nhà nước. Các hoạt động này không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào ngoài cơ quan
hành chính Nhà nước thực hiện và chỉ có hiệu lực khi được cơ quan hành chính Nhà nước
thực hiện mà thôi. Vì vậy, nhu cầu được cung ứng các dịch vụ hành chính công của người
dân (khách hàng) không phải là nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ các quy định có
tính chất bắt buộc của Nhà nước. Nhà nước bắt buộc và khuyến khích mọi người thực
hiện các quy định này nhằm đảm bảo trật tự và an tòan xã hội, thực hiện chức năng quản
lý mọi mặt đời sống xã hội.
Thứ hai: Dịch vụ hành chính công nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước.
Dịch vụ hành chính công bản thân chúng không thuộc về chức năng quản lý nhà nước,
nhưng lại là hoạt động nhằm phục vụ cho chức năng quản lý nhà nước. Vì vậy, hiện nay
trong nghiên cứu khoa học pháp lý đã đặt ra vấn đề xung quanh việc tách bạch chức năng
hành chính và chức năng quản lý trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ ba: Dịch vụ hành chính công là những hoạt động không vụ lợi, chỉ thu phí và
lệ phí nộp ngân sách nhà nước (theo quy định chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền). Nơi làm dịch vụ không trực tiếp hưởng lợi từ nguồn thu này.
Thứ tư: Mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và
sử dụng các dịch vụ hành chính công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền.
Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ công dân trên nguyên tắc công bằng, bảo
đảm sự ổn định, bình đẳng và hiệu quả của hoạt động quản lý xã hội.
hình. Sản phẩm dịch vụ thuần túy là sự thực hiện. Khách hàng không thể nhìn thấy, nếm,
ngửi, nghe, cảm nhận hoặc tiếp xúc trước khi mua nó. Nó được xem là sự thể hiện chứ
không phải là một sự vật (Hoffman và Bateson, 2002). Điều này có nghĩa dịch vụ là một
tiến trình chứ không phải là một vật thể, là sự thể hiện chứ không phải sự vật cụ thể, và
được cảm nhận chứ không phải là được tiêu dùng (Wallström, 2002).
7
b. Không thể tách rời (inseparability). Trong ngành dịch vụ, cung ứng thường
được thực hiện cùng lúc với tiêu thụ, ngược lại với các sự vật cụ thể là được sản xuất
trước tiên, và sau đó mới được cung cấp cho người tiêu dùng. Do đó, nhà cung cấp khó
che dấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì không có khoảng cách thời gian từ sản
xuất tới tiêu thụ như sản phẩm hữu hình.
c. Không đồng nhất (Heterogeneity). Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đồng
nhất và chính xác theo thời gian mà thường hay thay đổi tùy theo nhà cung cấp, khách
hàng, hay thời điểm, địa điểm thực hiện… Đặc tính này của dịch vụ làm cho khó tiêu
chuẩn hóa chất lượng dịch vụ giống như là đối với sản phẩm chế tạo.
d. Dễ hỏng (Perishability). Dịch vụ không thể được cất giữ và tiêu thụ sau. Có thể
hiểu một cách khác là dịch vụ sẽ không tồn tại nếu không được “tiêu thụ” vào một thời
điểm xác định nào đó. Điều này chứng tỏ nhà cung cấp dịch vụ có khả năng kiểm soát
được sự bất thường của cung và cầu (Hoffman và Bateson, 2002).
1.1.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ hành chính công
1.1.2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ
a) Chất lượng:
Thuật ngữ chất lượng (Quality) đã được sử dụng từ lâu, và được hiểu theo nhiều
cách khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt phổ thông chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) … làm cho sự việc này phân biệt với sự việc khác;
Theo tiêu chuẩn TCVN 9001:2008 chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặt tính vốn
có đáp ứng các yêu cầu. Chất lượng còn có khả năng hài lòng nhu cầu của thị trường với
chi phí thấp nhất (Kaoru Ishikawa, 1968). Chất lượng là một vấn đề của nhận thức riêng.
người dân, gắn liền việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, đáp ứng sự mong đợi của
một nhóm lợi ích và mục tiêu của tổ chức. Vì vậy, loại chất lượng dịch vụ này được đánh
giá dựa trên việc thực thi pháp luật đúng qui định và trách nhiệm, thái độ phục vụ của
công chức, đảo bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự an ninh và
phát triển xã hội.
1.1.2.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ hành chính công
Chất lượng dịch vụ là một thước đo quan trọng đối với hoạt động của các cơ quan
hành chính nhà nước, và là một trong những kết quả hoạt động chính của các cơ quan
này. Tuy nhiên, lợi nhuận không phải là mục đích chính của các cơ quan, vì họ còn phải
thực hiện nhiều chức năng khác như hỗ trợ cho sự tăng trưởng, điều chỉnh nhịp độ tăng
trưởng và định hướng tăng trưởng(1) .
Dựa trên một số khái niệm, thuật ngữ, các nhà khoa học nghiên cứu áp dụng trong
TCVN ISO 9001 : 2008 vào dịch vụ hành chính công như: hệ thống chất lượng, họach
1
Arawati và cộng sự, 2007
9
định chất lượng, kiểm soát chất lượng...Có thể hiểu chất lượng dịch vụ hành chính công là
khả năng thảo mãn các yêu cầu của tổ chức và cá nhân về cung ứng dịch vụ hành chính
công với sản phẩm cụ thể là các quyết định hành chính. Tiêu chí để đánh giá chất lượng
dịch vụ này cũng rất đa dạng bao gồm:
- Tạo sự tin tưởng cho người dân khi tham gia sử dụng dịch vụ như hồ sơ được
giải quyết đúng hẹn (dựa trên tỉ lệ giải quyết hồ sơ hành chính đúng hẹn), không bị mất
mát, thất lạc, tạo được sự tin cậy của người dân khi liên hệ giải quyết thủ tục hành chính.
- Tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho việc giao dịch với các công cụ hỗ trợ
cần thiết như: Phòng ốc khang trang, có máy lấy số thứ tự (đảm bảo tính công bằng), máy
tính giúp xử lý hồ sơ nhanh chóng...
1.2.1 Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ
Parasuraman và cộng sự (1985) là những người tiên phong trong nghiên cứu chất
lượng dịch vụ trong ngành tiếp thị một cách cụ thể và chi tiết. Các nhà nghiên cứu này
đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ.
Khoảng cách 1: Là sai biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà
cung cấp dịch vụ về kỳ vọng đó. Sự diễn dịch kỳ vọng của khách hàng khi không hiểu
thấu đáo các đặc trưng chất lượng dịch vụ, đặc trưng khách hàng tạo ra sai biệt này.
Khoảng cách 2: Được tạo ra khi nhà cung cấp gặp các khó khăn, trở ngại khách
quan lẫn chủ quan khi chuyển các kỳ vọng được cảm nhận sang các tiêu chí chất lượng cụ
thể và chuyển giao chúng đúng như kỳ vọng. Các tiêu chí này trở thành các thông tin tiếp
thị đến khách hàng.
Khoảng cách 3: Hình thành khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng
không đúng các tiêu chí đã định. Vai trò nhân viên giao dịch trực tiếp rất quan trọng
trong tạo ra chất lượng dịch vụ.
Khoảng cách 4: Là sai biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng
nhận được. Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng nhưng có thể làm giảm chất lượng
dịch vụ cảm nhận khi khách hàng không nhận đúng những gì đã cam kết.
Khoảng cách 5: Hình thành từ sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất
lượng kỳ vọng khi khách hàng tiêu thụ dịch vụ. Parasuraman và cộng sự (1985), cho rằng
chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách thứ năm. Khoảng cách này lại phụ thuộc vào 4
khoảng cách trước.
Parasuraman cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm.
Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng
cách 1, 2, 3 và 4. Vì thế, để rút ngắn khoảng cách thứ năm này, hay làm tăng chất lượng
dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này. Mô hình chất
lượng dịch vụ, theo các nhà nghiên cứu này, có thể được biểu diễn như sau:
CLDV = F{KC_5 = f(KC_1, KC_2, KC_3, KC_4)}
11
Dịch vụ cảm nhận được
Khoảng cách 1
NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ
KHÁCH HÀNG
khoảng cách chất lượng 1, 2, 3, 4, 5.
Thông tin đến
khách hàng
Hình 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman
Nguồn: dẫn theo Parasuraman và cộng sự (1985)
1.2.2 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận
Mô hình chất lượng của Parasuraman và cộng sự (1985) là một bức tranh tổng thể
về chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này mang tính khái niệm nhiều hơn, cần hàng
loạt nghiên cứu để kiểm nghiệm. Một nghiên cứu quan trọng nhất trong các kiểm nghiệm
này đó là đo lường chất lượng của dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng.
Parasuraman và cộng sự (1988) đã xây dựng và kiểm định thang đo năm thành
phần của chất lượng dịch vụ, cuối cùng thang đo SERVQUAL gồm 21 biến quan sát (Phụ
lục 3) dùng để đo lường 5 thành phần (nhân tố ẩn) của chất lượng dịch vụ, gồm:
(1)- Độ tin cậy (Reliability): Nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng
thời hạn ngay từ lần đầu tiên.
(2)- Khả năng đáp ứng (Responsiveness): Nói lên sự mong muốn và sẵn sàng
củanhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
(3)- Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn thực hiện dịch
vụ. Khả năng chuyên môn này cần thiết cho nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên
gọi là mô hình cảm nhận (Perception Model).
Mô hình và công cụ SERVPERF của Cronin & Taylor dùng để đánh giá chất
lượng dịch vụ gồm 5 nhân tố cụ thể
Bảng 1.1 Bảng các nhân tố trong thang đo SERVPERF
Sự tin cậy (Reliability)
1. Khi công ty X hứa sẽ thực hiện điều gì đó vào 1 khoảng thời gian cụ thể, công ty sẽ thực
hiện.
2. Khi anh/chị có vấn đề, công ty X thể hiện sự quan tâm chân thành trong giải quyết vấn đề.
3. Công ty X thực hiện dịch vụ đúng ngay từ đầu.
4. Công ty X cung cấp dịch vụ đúng như thời gian họ hứa.
5. Công ty X thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ của họ được thực hiện.
Sự phản hồi (Responsiveness)
14
6. Nhân viên công ty X phục vụ Anh/chị đúng hạn.
7. Nhân viên công ty X thông báo cho anh chị chính xác khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện
8. Nhân viên công ty X luôn sẵn sàng giúp đỡ anh/chị.
9. Nhân viên công ty X không bao giờ quá bận đến nỗi không đáp ứng yêu cầu của
Sự đảm bảo (Assurance)
10. Cư xử của nhân viên trong công ty X tạo sự tin tưởng đối với anh chị.
11. Anh chị cảm thấy an toàn khi giao dịch với công ty X
12. Nhân viên trong công ty X bao giờ cũng tỏ ra lịch sự, nhã nhặn với anh/chị.
13. Nhân viên trong công ty X có kiến thức để trả lời các câu hỏi của anh chị.
Sự cảm thông (Empathy)
14. Công ty X có thể hiện sự quan tâm đến cá nhân anh chị.
15. Công ty X có những nhân viên thể hiện sự quan tâm đến cá nhân anh/chị.
tin cậy” bao gồm các tiêu chí:
- Sự công khai minh bạch của quy trình thủ tục hành chính.
- Hồ sơ không bị sai sót, mất mát.
- Hồ sơ không bị trễ hẹn.
- Nơi tin cậy của người dân khi liên hệ giải quyết về thủ tục hành chính công.
b) Cơ sở vật chất cung cấp dịch vụ gồm những yếu tố như: nơi cung cấp dịch vụ,
thiết bị, công cụ và các phương tiện kỹ thuật khác...; đặc biệt là những trang thiết bị tại
phòng tiếp dân - nơi người dân tiếp xúc với công chức đại diện cho cơ quan hành chính.
Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước kết hợp các nguyên tắc của tiêu chuẩn ISO đã được
áp dụng, tác giả dùng phương pháp định tính xây dựng nhân tố “Cơ sở vật chất” bao gồm
các tiêu chí:
- Điều kiện phòng ốc rộng rãi, thoáng mát, sạch sẽ.
- Điều kiện tiện nghi như: máy lạnh, bàn, ghế…
- Trang thiết bị phục vụ công việc tương đối hiện đại (máy lấy số tự động, máy vi
tính, máy tra cứu hồ sơ…)
- Cách bố trí, sắp sếp nơi tiếp nhận, xử lý và trả kết quả.
- Việc niêm yết các quy trình thủ tục hành chính, biểu mẫu.
c). Năng lực nhân viên gồm năng lực kỹ năng, nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm
vụ được giao, đây là tiêu chí hết sức quan trọng, thể hiện tính quyết định trong dịch vụ
hành chính công. Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước kết hợp các nguyên tắc của tiêu
chuẩn ISO đã được áp dụng tác giả dùng phương pháp định tính xây dựng nhân tố “Năng
lực nhân viên” bao gồm các tiêu chí:
- Kỹ năng giao tiếp.
- Kiến thức và kỹ năng giải quyết công việc.
- Sự thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ cán bộ.
- Giải quyết thỏa đáng các vướng mắc của người dân.
- Giải quyết khiếu nại của người dân nhanh chóng, hợp lý.
d) Về thái độ phục vụ, đối với công chức làm dịch vụ hành chính là phải biết lắng
nghe, biết nhẫn nại và kiềm chế, diễn đạt rõ ràng, có thái độ thân thiện, giải quyết công
16
1.4 Các yếu tố đánh giá chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ hành chính công
1.4.1 Các yếu tố đánh giá chất lượng dịch vụ
Tính hữu hình là cơ sở vật chất, thiết bị, nhân viên và các phương tiện truyền thông
mà dịch vụ đó sử dụng. Yếu tố hữu hình để đánh giá chất lượng dịch vụ được thể hiện qua
các tiêu chí như:
+ Trang thiết bị hiện đại có hiện đại không?
+ Logo, quảng cáo, các sản phẩm trưng bày có được bố trí bắt mắt không?
17
+ Trang phục, hình ảnh nhân viên, văn hóa doanh nghiệp thế nào?
Độ tin cậy khả năng cung cấp thông tin chính xác và thực hiện lời hứa dịch vụ đưa
ra. Yếu tố này có thể đánh giá qua việc một nhân viên kỹ thuật nói rằng lỗi trên website
của bạn đang được xử lý và sẽ xong trong vòng nửa giờ nữa, liệu anh ta có gọi cho bạn
như đã hứa không? Chúng ta đánh giá độ tin cậy của một doanh nghiệp dựa trên việc liệu
họ có thực hiện những gì đã hứa.
Khả năng phản ứng là khả năng và sự sẵn lòng giúp đỡ khách hàng và cung cấp
cho họ dịch vụ phù hợp. Độ đảm bảo là kiến thức và năng lực của nhân viên trong việc
khơi dậy niềm tin của khách hàng cũng như sự tự tin của chính họ. Sự thấu cảm là sự
quan tâm và dịch vụ của một công ty mang lại cho khách hàng. Khi tạo ra SERVQUAL,
Zeithaml, Parasuraman và Berry đã tiến hành các nghiên cứu để kiểm tra yếu tố nào trong
số 5 yếu tố về dịch vụ nêu trên được khách hàng cho là quan trọng nhất. Kết quả là độ tin
cậy là quan trọng nhất (32%), sau đó đến khả năng phản ứng (22%), độ đảm bảo (19%),
sự thấu cảm (16%) và cuối cùng là tính hữu hình (11%). Tuy nhiên, điểm hay nhất là 5
yếu tố này đã xuất hiện từ 1990, khi công nghệ thông tin chưa phát triển với mức độ và
khả năng tương tác như ngày nay.
Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi nhiều yếu tố và việc nhận định chính xác các
yếu tố này phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu. Có nhiều
tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhưng phổ biến nhất và biết đến nhiều nhất là các tiêu
chí đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự.
Hiệu quả phục vụ
8
Tính an toàn
18
ST
Năm
Tác giả
Lý thuyết nghiên cứu đưa ra
T
2
1988
Parasuraman
et al.
9
Tính hữu hình
10 Am hiểu khách hàng
Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ:
1
Sự tin cậy
2
lượng dịch vụ bao gồm:
1
Sự ân cần
2
Sự chăm sóc
3
Sự cam kết
4
Sự hữu ích
5
Sự hoàn hảo
Sáu nhân tố đo lường chất lượng dịch vụ như sau:
1
Có tính chuyên nghiệp
2
Có phong cách phục vụ ân cần
3
Có tính thuận tiện
4
Có sự tin cậy
5
Có sự tín nhiệm
6
Có khả năng giải quyết khiếu kiện
Năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ gồm:
1
Yếu tố dịch vụ cốt lõi
2
Yếu tố con người
3
(Hoạt động của
(Văn bản, giấy
đầu ra/ tác động
sở, Công chức,
các
tờ hành chính)
yêu cầu của Hình 1.2 Hoạt
công chức)
động cung cấp dịch vụ hành chính công
Theo sơ đồ trên, quá trình tạo ra dịch vụ hành chính là quá trình chuyển hóa các
dân)
yếu tố đầu vào (các yêu cầu, mong đợi của người dân, các nguồn lực và các yếu tố khác)
thành các kết quả đầu ra (các dịch vụ làm thỏa mãn những nhu cầu của người dân và các
yêu cầu về quản lý nhà nước).
Theo cách tiếp cận này, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng của dịch vụ hành
chính công phải phản ánh được các yếu tố: Mục tiêu, đầu vào, quá trình, đầu ra và kết quả
của đầu ra (được lượng hoá).
1.4.2.1 Yếu tố về mục tiêu hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
Mỗi cơ quan đều có những mục tiêu cụ thể của mình đóng góp vào thực hiện mục
tiêu chung của quản lý nhà nước theo sự phân cấp hoặc phân công, phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định, nhằm đảm bảo sự ổn định, trật tự và công bằng
xã hội trong phạm vi quản lý được giao; và phục vụ nhu cầu của nhân dân ngày càng tốt
hơn. Tuy các mục tiêu này không trực tiếp tạo nên chất lượng của một dịch vụ hành chính