MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................1
1.1.Giới thiệu về khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính Nhà nước..1
1.2.Lý do cá nhân quyết định tham dự khóa bồi dưỡng................................1
1.3.Cấu trúc, nội dung chương trình khóa bồi dưỡng....................................2
1.4.Cấu trúc, nội dung của Tiểu luận tình huống...........................................2
1.5.Mong muốn, cám ơn................................................................................3
PHẦN II: NỘI DUNG.........................................................................................4
2.1.Địa điểm, điều kiện xảy ra tình huống....................................................4
2.1.1.Giới thiệu về cơ quan nơi diễn ra tình huống quản lý hành chính nhà
nước...............................................................................................................4
2.1.2.Khái quát quá trình hình thành và phát triển của cơ quan....................4
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan....................................................5
2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan......................................................5
2.2. Tình huống quản lý hành chính..............................................................5
Phần 1. Hoàn cảnh ra đời...................................................................................5
Phần 2: Phân tích tình huống.............................................................................7
1. Mục tiêu phân tích tình huống:..................................................................7
2. 2. Cơ sở lý luận:.........................................................................................7
3. Phân tích diễn biến tình huống:...............................................................12
4. Nguyên nhân tình huống:........................................................................13
5. Hậu quả của tình huống:..........................................................................13
Phần 3: Xử lý tình huống..................................................................................13
1. Mục tiêu xử lý tình huống:......................................................................13
2. Các phương án để giải quyết tình huống:................................................13
3.Các biện pháp thực hiện phương án:........................................................14
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................15
3.1. Kết luận................................................................................................15
thời tăng cường ý thức phục vụ nhân dân nhằm nâng cao năng lực công tác của cho
cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn và trách
nhiệm được giao,góp phần nâng cao chất lượng và công bằng trong quản lý hành
chính nhà nước.
Khóa học chú trọng đến việc hình thành các kỹ năng nhận thức và vận dụng
những kiến thức vào việc bồi dưỡng nhân cách cho công chức, viên chức làm việc
tại các cơ quan hành chính Nhà nước, đông thời góp phần hình thành các kỹ năng
quản lý con người, quản lý tài sản... Các kỹ năng chủ yếu được hình thành thông
qua các nội dung của môn học có sự lồng ghép của giảng viên.
Chuẩn hóa ngạch Chuyên viên cho cán bộ, công chức, viên chức phù hợp
với vị trí việc làm và thời gian công tác theo quy định của Bộ Nội vụ.
Chứng chỉ hoàn thành chương trình QLNN ngạch Chuyên viên là cơ sở, điều
kiện bắt buộc để cán bộ, công chức, viên chức, đủ tiêu chuẩn bổ sung hồ sơ dự thi
nâng ngạch.
1.2. Lý do cá nhân quyết định tham dự khóa bồi dưỡng
Xã hội ngày càng phát triển kèm theo đó là một nền kinh tế thị trường , văn
hóa- xã hội được hội nhập sâu rộng tác động đến một nền công vụ- công chức cũng
như thể chế chính trị xã hội. Chính vì vậy để điều hòa và đảm bảo bộ máy Nhà
nước được vận hành liên tục thì những người Cán bộ, công chức, viên chức cần
phải nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng làm việc nên tôi đã quyết định tham
dự khóa bồi dưỡng quảnh lý hành chính Nhà nước.
Thứ nhất, việc tham dự khóa bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước giúp
tôi cập nhật được những kiến thức về quản lý hành chính, trên nền tảng phát huy và
kế thừa những kiến thức đã tồn tại. kiến thức mới giúp tôi có tầm nhìn và chiến
lược trong việc quản lý hành chính.
Thức hai, việc tham dự khóa bồi dưỡng còn giúp tôi có kỹ năng chuyên môn
trong việc giải quyết các công việc quản lý hành chính, những kỹ năng đó giúp tôi
đẩy nhanh quá trình thực hiện triển khai kế hoạch một cách chính xác trên tinh thần
trách nhiệm công việc nhằm phục vụ nhân dân làm tròn đúnh chức năng nhiệm vụ
quyền hạn.
dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên.
Cán bộ, công chức thuộc ngạch cán sự, nhân viên, đã có trình độ Đại học
được quy hoạch thi nâng ngạch chuyên viên.
Cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong các cơ quan Nhà nước,
các tổ chức Đảng, đoàn thể và doanh nghiệp nhà nước có mã ngạch 01- 003 và
tương đương; cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian tập sự chuyên viên
có nhu cầu tham dự khóa học.
*Văn bằng chứng chỉ
Học viên hoàn thành chương trình đào tạo được cấp chứng chỉ theo quy định
của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Sau khi tốt nghiệp khóa học, học viên được cấp “Chứng chỉ bồi dưỡng quản
lý nhà nước ngạch chuyên viên do Học viện Hành chính quốc gia” cấp.
1.4. Cấu trúc, nội dung của Tiểu luận tình huống.
Qua quá trình bồi dưỡng và trau dồi kiến thức về Quản lý hành chính nhà
nước chương trình dành cho chuyên viên. Với trách nhiệm là một cán bộ quản lý ở
một uỷ ban nhân dân và từ thực tế ở uỷ ban nhân dân Thị trấn Quế, huyện Kim
Bảng, tác giả chọn đề tài “Giải quyết tình huống xử lý kỷ luật công trong cơ quan
hành chính nhà nước” để cùng tham gia giải quyết, tháo gỡ vướng mắc, góp phần
vào công cuộc xây dựng đất nước. Cấu trúc, nội dung giải quyết tình huống trên
gồm có các phần sau:
Phần I: Đặt vấn đề
2
Phần II: Nội dung
1. Địa điểm, điều kiện xảy ra tình huống
Phần 1: Hoàn cảnh ra đời
- Mô tả tình huống tại uỷ ban nhân dân Thị trấn Quế
- Thời gian, không gian xảy ra tình huống
năm. Là nơi trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của huyện Kim Bảng tỉnh
Hà Nam. Dân số 6307 khẩu, 1691 hộ được chia thành 7 tổ dân phố, diện tích tự
nhiên là 307,7ha. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt,
kinh tế phát triển đa dạng từng bước khẳng định vị thế là trung tâm của huyện Kim
Bảng.
2.1.2. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của cơ quan
Về văn hóa xã hội
7/7 tổ dân phố và 5 cơ quan đơn vị đạt và giữ vững tổ dân phố và đơn vị văn
hóa, số hộ đạt gia đình văn hóa hang năm đạt 92%, 3 trường học đều đạt và giữ
vững danh hiệu tiên tiến xuất sắc hang năm và đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Nâng
cao chất lượng khám và điều trị chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Tỷ lệ
giác thải được thu gom đảm bảo 97%, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch sinh hoạt hợp
vệ sinh là 97%. Có trên 81% dân số tham gia bảo hiểm y tế các loại, giữ vững đơn
vị đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới là 4,7% đảm bảo
chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ, hộ
nghèo, cận nghèo. Hoàn thiện thiết chế văn hóa, duy trì hoạt động của các câu lạc
bộ thể dục thể thao
Về phát triển kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới
- Nông nghiệp tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa các giống
cây con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất để nâng cao thu nhập trên 1ha diện tích.
Chỉnh trang sắp xếp lại đồng ruộng dồn ô thửa nhỏ thành các thửa lớn, quy hoạch
lại hệ thống kênh mương, thủy lợi nội đồng.
- Thực hiện nghị quyết số 04 của huyện ủy Kim Bảng về thực hiện chương
trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Đảng
ủy Thị trấn Quế đã chỉ đạo UBND Thị trấn Quế xây dựng “ Đề án xây dựng nông
thôn mới”. Tính đến tháng 10/2016 đối chiếu với boojtieeu chí và được UBND
huyện công nhận Thị trấn Quế đạt 18/19 chỉ tiêu.
- Về cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp thủy sản chiếm 15%công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp xây dựng 33%. Diện tích thương mại 52% thu nhập bình quân đầu
người 30.000.000 đồng/người/năm. Bình quân lương thực đầu người
+ Lãnh đạo chính quyền có 2 lãnh đạo gồm: Chủ tịch và Phó Chủ tịch
+ Lãnh đạo HĐND có 2 lãnh đạo gồm: 1 kinh nghiệm là đồng chí Bí thư
Chủ tịch HĐND, 1 đồng chí chuyên trách làm Phó Chủ tịch HĐND
+ Các công chức : Văn phòng thống kê, tài chính, địa chính, giao thông thủy
lợi, tư pháp, 2 văn hóa xã hội, công an, quân sự.
+ Cán bộ đoàn thể: Cựu chiến binh, phụ nữ, thanh niên, nông dân, Mặt trận
Tổ Quốc.
+ Cán bộ bán chuyên trách và hợp đồng gồm: Phó Bí thư đoàn kiêm văn
phòng Đảng ủy, chủ tịch hội công tác đoàn, kế toán phụ, truyền thanh, kho quỹ…
2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan
Lãnh đạo chỉ đạo cán bộ đảng viên, nhân dân các hội đoàn thể thực hiện tốt
chủ trương chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước của lãnh đạo cấp trên cũng
như nghị quyết và quy định của địa phương. Hoàn thành thắng lợi các mục tiêu
phát triển kinh tế văn hóa xã hội an ninh quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Đảm bảo an ninh xã hội, tiếp nhận đơn thư và
giải quyết đơn thư của nhân dân. Tích cực đổi mới tư duy trong công tác lãnh chỉ
đạo các ngành, các hợp tác xã, các hội đoàn thể hoạt động có năng xuất, chất lượng
hiệu quả. Hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trên giao cũng như giải quyết của địa
phương.
2.2. Tình huống quản lý hành chính
Phần 1. Hoàn cảnh ra đời
Tốt nghiệp trường Đại học Ngoại Thương 2003, nhờ mối quan hệ của ông
bác ruột, anh M được tuyển dụng về làm việc tại phòng Thẩm định thuộc Sở quản
lý chuyên ngành C. Với lợi thế đó, cộng thêm tài xoay sở và sự khéo léo của bản
thân, anh M đã tranh thủ được sự ủng hộ của cơ quan và được giao nhiệm vụ là cán
bộ Chủ trì thẩm định các dự án đầu tư trên lĩnh vực quản lý.
- Mô tả tình huống:
Là một cán bộ trẻ với rất nhiều lợi thế như vậy cộng với sự ủng hộ của lãnh
đạo cơ quan nên anh M luôn được phân công thẩm định các dự án đầu tư lớn, có số
vốn đầu tư lớn và có nhiều doanh nghiệp lớn tham gia. Thời gian đầu anh M tỏ ra
tương thân tương ái, cùng giúp đỡ nhau tiến bộ, khi anh em đồng nghiệp góp ý
chân tình thì anh M không những không tiếp thu mà còn có thái độ bất chấp, thách
thức... Sự việc tiếp diễn cho đến ngày lãnh đạo cấp trên nhận được đơn thư tố cáo
của công dân tố cáo anh M gây phiền hà, sách nhiễu đến làm thủ tục cấp phép xây
dựng công trình. Do không chi tiền “bôi trơn” theo yêu cầu của anh M nên hậu quả
là chậm tiến độ đầu tư xây dựng công trình, gây thiệt hại đối với doanh nghiệp H
trên địa bàn. Quá bức xúc trước hành vi và biểu hiện của anh M, doanh nghiệp H
đã viết đơn tố cáo anh M đến cơ quan chủ quản. Qua xem xét, lãnh đạo Sở chuyên
ngành C thấy sự việc có chiều hướng diễn biến phức tạp. Lãnh đạo Sở chuyên
ngành C đã mời đại diện doanh nghiệp H và anh M lên làm việc để tìm hiểu nguyên
nhân và làm rõ vấn đề mà doanh nghiệp H đã đề cập trong lá đơn nêu trên, sau hơn
2 giờ làm việc, không hiểu nội dung cuộc gặp thế nào nhưng sau đó doanh nghiệp
H đã rút đơn tố cáo. Sự việc không được làm sáng tỏ, chỉ thấy trong buổi giao ban
chuyên môn hôm sau, lãnh đạo Sở chuyên ngành C chỉ phê bình, nhắc nhở cán bộ
công chức khi thực hiện nhiệm vụ cần phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp
vụ chuyên môn, thực hiện tốt chế độ công vụ, tránh xảy ra trường hợp như đồng chí
M vừa qua, do sơ xuất đã làm cho doanh nghiệp H hiểu nhầm...?! Như vậy, việc
anh M có biểu hiện sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, công dân
đến làm việc nhằm mục đích trục lợi trong một thời gian dài là hành vi vi phạm
pháp luật lao động, vi phạm Luật Cán bộ công chức và nội quy, quy chế của ngành.
6
Vậy mà Sở chuyên ngành C lại không xử lý gì, dù là hình thức nhẹ nhất, việc này
đã gây nên làn sóng bất bình trong dư luận về công tác tổ chức cán bộ trong cơ
quan.
Phần 2: Phân tích tình huống
1. Mục tiêu phân tích tình huống:
Trong tình huống này có nhiều vấn đề cần quan tâm: Xử lý kỷ luật đối với
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Giáng chức;
đ) Cách chức;
e) Buộc thôi việc
2. Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý.
3. Công chức bị tòa án kết án tù mà không được hưởng án treo thì đương
nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công
7
chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Toà án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.
4. Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật,trình tự, thủ tục và
thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức.
- Điều 80. Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật:
1. Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn do Luật này quy định mà khi hết thời
hạn đó thì cán bộ, công chức có hành vi vi phạm không bị xem xét xử lý kỷ luật.
Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm pháp luật.
2. Thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ
khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định
xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thời hạn xử lý kỷ luật không quá
02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra,
kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng
tối đa không quá 04 tháng.
3. Trường hợp cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét
xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra 9 hoặc
8
4. Cán bộ, công chức bị kỷ luật cách chức do tham nhũng thì không được bổ
nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý.
- Điều 83. Quản lý hồ sơ khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức:
Việc khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức được lưu vào hồ sơ cán bộ,
công chức. 10 Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/05/2011 của Chính Phủ quy định
về xử lý kỷ luật đối với công chức quy định rõ:
*Các hành vi bị xử lý kỷ luật.
1. Vi phạm việc thực hiện nghĩ vụ, đạo đức và văn hoá giao tiếp của công
chức trong thi hành công vụ; những việc công chứ không được làm quy định tại
Luật Cán bộ, công chức.
2. Vi phạm pháp luật bị Toà án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy
định của pháp luật liên quan đến công chức nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách
nhiệm hình sự.
*Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật:
1. Đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng
được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép.
2. Đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.
3. Công chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đnag nuôi
con dưới 12 tháng tuổi.
4. Đang bị giam giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều
tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật.
*Các trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật:
1. Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi
dân sự khi vi phạm pháp luật.
Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình thức kỷ luật. 7. Cấm
mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của công chức trong quá trình
xử lý kỷ luật.
*Thời hạn xử lý kỷ luật:
1. Thời hạn xử lý kỷ luật tối đa là 02 tháng, kể từ ngày phát hiện công chức
có hành vi vi phh tạm pháp luật cho đến ngày cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm
quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.
2. Trường hợp vụ việc có liên quan đến nhiều người, có tang vật, phương
tiện cần giám định hoặc những tình tiết phức tạp khác thì người đứng đầu cơ quan,
tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra quyết định kéo dài thời hạn xử lý kỷ
luật theo quy định tại Khoản 2 Điều 80 Luật Cán bộ, công chức.
*Thời hiệu xử lý kỷ luật:
1. Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm công chức có hành vi
vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có
thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật.
2. Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của công chức, người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật quy định tại Điều 15 12 Nghị
định này phải ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật, thời điểm
phát hiện công chức có hành vi vi phạm pháp luật và thời hạn xử lý kỷ luật.
*Các hình thức kỷ luật:
1. Áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Buộc thôi việc.
2. Áp dụng đối cới công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý:
a) Khiển trách;
b )Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Giáng chức;
7. Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với công
chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
8. Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống
tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới;
phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến
công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật.
*Hạ bậc lương:
- Hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với công chức có một trong các
hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
1. Không thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao mà không có lý do
chính đáng, gây ảnh hưởng đến công việc chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
2. Lợi dụng vị trí công tác, cố ý làm trái pháp luật với mục đích vụ lợi;
3. Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống
tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới;
phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến
công chức.
*Giáng chức:
- Hình thức kỷ luật giáng chức áp dụng đối với công chức có một trong các
hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
1. Không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà
không có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả nghiêm trọng;
2. Vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng,
chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình
đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên
quan đến công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý
kỷ luật.
3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong phạm vi phụ trách mà không có biện pháp ngăn chặn.
*Cách chức:
1. Hình thức kỷ luật giáng chức áp dụng đối với công chức có một trong các
3. Phân tích diễn biến tình huống:
- Dựa trên cơ sở lý luận chúng ta có thể thấy anh M đã lơ là với công việc,
không hoàn thành nhiệm vụ được giao, ảnh hưởng đến công việc của đơn vị. Hơn
thế nữa anh M còn lợi dụng danh nghĩa cơ quan để nhận tiền bồi dưỡng của tổ
chức, công dân, có thái độ thiếu thành khẩn khi bị phát giác. Như vậy, xét về mặt
nguyên tắc thì anh M đã vì phạm điều khoản quy định trong Luật Cán bộ công
chức, vi phạm nội quy, quy chế cơ quan.
- Việc Sở chuyên ngành C không tiến hành kỷ luật anh M mà chỉ nhắc nhở
chung chung trong giao ban chuyên môn đã để lọt người, lọt tội, làm cho pháp luật
không được thực hiện nghiêm minh. Trong việc vi phạm của anh M thì lãnh đạo Sở
chuyên ngành C cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì chính lãnh đạo cơ quan M
đã tạo ra những cơ hội và điều kiện để anh M vi phạm kỷ luật, núp bóng làm càn,
cậy thế làm tiền trên sự vất vả của tổ chức, công dân và làm mất danh dự, uy tín
của ngành. Lãnh 22 đạo Sở chuyên ngành C đã cậy thế lãnh đạo để vô hiệu hoá đơn
thư tố cáo của doanh nghiệp H, vật chứng quan trọng để kỷ luật anh M. Trách
nhiệm của người lãnh đạo như vậy thì liệu hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính
nhà nước tại cơ quan đó có còn hiệu lực? Trường hợp vi phạm kỷ luật của anh M
nếu không giải quyết thoả đáng sẽ gây ảnh hưởng đến công tác của Sở chuyên
ngành C và chính bản thân anh M, có thể tạo tiền lệ nguy hiểm trong công tác quản
lý cán bộ, nảy sinh những tư tưởng không lành mạnh trong bộ máy quản lý nhà
12
nước, làm mất ổn định trong đoàn kết nội bộ cơ quan.
4. Nguyên nhân tình huống:
- Trên thực tế, trước đây anh M được đánh giá là một cán bộ rất chăm chỉ, có
ý thức tổ chức kỷ luật, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ được giao, sống hoà mình với
tập thể. Tuy nhiên sau một thời gian công tác, với sự tác động của cơ chế thị
trường, lại nhận thấy mình là người có quyền thế, nhất là sau khi đảm nhận công
Phần 3: Xử lý tình huống
1. Mục tiêu xử lý tình huống:
- Việc xử lý vi phạm pháp luật của anh M là rất cần thiết. Xử lý vi phạm của
anh M để xóa bỏ những định kiến của dư luận về cách làm trong việc quản lý cán
bộ công chức. Việc xử lý vi phạm pháp luật của anh M phải được dựa trên những
quy định của pháp luật nhà nước, xử lý đúng người đúng tội. Việc xử lý vi phạm đó
còn là bài học cho cán bộ công chức khác để từ đó không đi vào những sai lầm
giống như anh M, mà phải lấy chuẩn mực của đạo đức của người cán bộ công chức
đặt lên hàng đầu để hết mình phục vụ đất nước và nhân dân.
2. Các phương án để giải quyết tình huống:
13
- Sở chuyên ngành C phải tiến hành xử lý kỷ luật anh M theo quy trình thủ
tục và hình thức kỷ luật thích hợp được quy định trong Luật Cán bộ công chức năm
2008 và Nghị định số 34/2011/NĐ – CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về
xử lý kỷ luật đối với công chức.
Từ việc phân tích đánh giá tình huống nêu trên, theo tôi có thể giải quyết
tình huống đó theo phương án sau:
*Phương án 1:
- Sở chuyên ngành C quyết định cảnh cáo đối với anh M
+ Ưu điểm của phương án: Thực hiện đúng theo các điều khoản quy định tại
Luật cán bộ công chức năm 2008 và Nghị định số 34/2011/NĐ – CP ngày
17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức. Có tác dụng
làm gương răn đe cho các công chức khác trong việc thực hiện các nghĩa vụ công
chức đã quy định, góp phần giữ vững lý cương trong bộ máy hành chính nhà nước.
Sự nghiêm khắc của hình thức kỷ luật này sẽ làm cho anh M thấy rõ sai phạm, đáp
ứng sự trông đợi của các công chức trong cơ quan.
*Phương án 2:
14
đề và những vi phạm của mình, về những tình tiết mà cơ quan có thể xem xét giảm
nhẹ, về hướng phấn đấu của anh M trong thời gian tới, về cán bộ theo dõi, giúp đỡ
anh M trong thời gian thử thách và đề nghị hình thức kỷ luật để Hội đồng kỷ luật
cơ quan xem xét.
- Họp Hội đồng kỷ luật để đưa ra hình thức xử lý hợp lý, hợp tình bằng hình
thức bỏ phiếu kín. Sau đó, Hội đồng kỷ luật trình ban lãnh đạo ra quyết định xử lý
kỷ luật.
- Chuyển quyết định kỷ luật cho anh M, ghi lý lịch công chức thông báo cho
cơ quan được biết hình thức xử lý. Trên cơ sở hình thức kỷ luật chuyên môn như
vậy, các tổ chức Đoàn thanh niên, Công đoàn cần có biện pháp xử lý trong ngành
lĩnh vực cụ thể một cách thoả đáng.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.1.1. Tầm quan trọng của công tác quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý hành chính là một hoạt động rất quan trọng, bởi nó là một hoạt động
thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức bằng quyền
lực pháp lật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương để duy trì
và phát triển.
Có thể khẳng định, công tác quản lý hành chính Nhà nước có tầm quan trọng
và đóng một vai trò rất lớn trên mội lĩnh vực hoạch động quản lý hành chính nhà
nước.
Góp phần quan trọng trong việc hiện thực hóa chủ trương, đường lối chính
trị.
Đường lối chính trị của Đảng được thể chế hóa vào trong các văn bản pháp
luật, chính sách của Nhà nước. Chính sách pháp luật của nhà nước là các quy định
vào các hoạt động kinh tế - xã hội, các chủ thể có thể có những mâu thuẫn không
thể tự điều hòa, giải quyết được.
3.1.2. Vai trò tham mưu giúp việc của Chuyên viên
Để phát huy tốt chức năng tổng hợp tham mưu, giúp việc của Văn phòng;
điều quan trọng trước hết đội ngũ cán bộ chuyên viên phải có trình độ chuyên môn
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đối với lĩnh vực tham mưu, trình độ và kinh nghiệm
thực tiễn phải khá hơn cán bộ các ngành, có như vậy công tác tham mưu giúp việc
mới tốt hơn.
a) Tham mưu phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo và điều hành
công việc của cơ quan bộ, của bộ, ngành
Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ và các nhiệm vụ thường
xuyên, đột xuất hàng năm Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cho bộ ngày một
nặng nề và phức tạp. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều
hành công việc của lãnh đạo bộ ngày một tăng, đòi hỏi công tác tham mưu của văn
phòng bộ phải đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Điều này có nghĩa là, việc xây dựng,
triển khai, đôn đốc và kiểm tra thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của bộ,
của cơ quan bộ phải bảo đảm để chương trình, kế hoạch công tác thực hiện được
đúng thời hạn, chất lượng. Yêu cầu, nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực công tác của bộ,
cơ quan bộ đặt ra đến đâu, công tác tham mưu phải đưa ra được các kiến nghị, đề
xuất các giải pháp thực hiện đến đó. Quan trọng là đưa ra được các giải pháp hữu
hiệu và đủ mạnh để giải quyết thành công các yêu cầu và nhiệm vụ quản lý. Chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ ngày càng mở rộng, nhiệm vụ, công việc
đột xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cho bộ ngày một nhiều thì việc chỉ
đạo, điều hành tổ chức thực hiện càng phải khoa học và chặt chẽ, theo một quy
trình xử lý, giải quyết công việc hợp lý, cụ thể, rõ ràng và thông suốt. Do đó, khi
tham mưu cho lãnh đạo bộ xây dựng và hoàn thiện quy chế làm việc của bộ phải
đáp ứng được các yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành công việc của lãnh đạo bộ
cũng như các hoạt động chung của cơ quan bộ.
b) Đảm bảo chất lượng tham mưu, đề xuất
Tham mưu, đề xuất của văn phòng bộ trong tổ chức, điều hành công việc của
pháp hữu hiệu, đủ mạnh để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra thì khó thể
nói việc tham mưu, đề xuất đó có chất lượng và chính xác. Để nâng cao chất lượng,
hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành công việc của bộ, của cơ quan bộ, cần thiết
phải hoàn thiện công tác tham mưu của văn phòng bộ.
c) Đảm bảo tính khả thi và hiện thực trong công tác tham mưu
Yêu cầu này đòi hỏi khi tham mưu, đề xuất thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của văn phòng bộ cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ và của cơ quan
bộ, cần phải bám sát thực tế, phân tích thực trạng các hoạt động để triển khai thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ đó, thực trạng các quy định pháp lý, thực trạng đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy
được giao thực hiện nhiệm vụ; chỉ ra được các ưu, khuyết điểm, nguyên nhân của
những ưu, khuyết điểm và các giải pháp khắc phục. Đồng thời, phải phân tích kỹ
khả năng và điều kiện hiện thực để thực hiện các ý tưởng đã tham mưu, đề xuất.
Đây cũng chính là yêu cầu khi tham mưu, đề xuất phải căn cứ vào các luận cứ khoa
học đầy đủ, không chủ quan duy ý chí, không lồng những mong muốn cá nhân
trong tham mưu, đề xuất. Chỉ có trên cơ sở hiện thực khách quan và các luận cứ
khoa học đầy đủ thì các ý tưởng, giải pháp, kiến nghị, tham mưu, đề xuất mới trở
thành khả thi và hiện thực.
d) Đáp ứng các yêu cầu cải cách hành chính
Yêu cầu cải cách hành chính đặt ra đối với công tác tham mưu của văn
phòng bộ trước hết là phải đề cao trách nhiệm trong xây dựng và hoàn thiện hệ
thống các thể chế (các quy chế, quy định) nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và bảo
đảm cho tổ chức và hoạt động của cơ quan bộ nói chung và văn phòng bộ nói riêng
được thực hiện một cách chính quy, nề nếp và thống nhất. Cải cách thủ tục hành
chính trong cơ quan bộ phải được bắt đầu từ đơn giản hoá các thủ tục hành chính
trong văn phòng bộ, cụ thể là trong công tác văn thư, trong quy trình xử lý, giải
quyết văn bản đến, trong quy trình trình ký, ban hành văn bản đi, trong đơn giản
17
thức, năng lực quản lý điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công
chức, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Và trong giai đoạn hiện nay, vị trí vai trò của người cán bộ càng quan trọng
trong việc xây dựng, hoạch định và thực thi chính sách phát triển kinh tế xã hội. Vì
vậy đội ngũ cán bộ ở các vị trí lãnh đạo quản lý; đội ngũ cán bộ, công chức trong
các cơ quan nhà nước phải là những người có trình độ chuyên môn cao, năng lực
công tác tốt.
Và để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tại các đơn vị cơ quan đang
chuẩn hóa cán bộ, công chức, viên chức ngạch chuyên viên và chuyên viên chính
sao cho phù hợp với vị trí làm việc và thời gian công tác theo quy định của Bộ Nội
vụ.
Do đó mà trong hồ sơ dự thi nâng ngạch tương đương và cao hơn hiện nay
đều yêu cầu các cán bộ, công chức, viên chức đều đã tham gia khóa Bồi dưỡng kiến
thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên hoặc chuyên viên chính. Chứng chỉ quản
lý nhà nước chính là điều kiện bắt buộc của tiêu chuẩn dự thi cùng với Bằng tốt
nghiệp đại học trở lên, chứng chỉ ngoại ngữ và tin học…
Tại sao lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính được tổ chức và cán bộ,
18
công chức, viên chức nên tham gia khóa đào tạo này? Vì khóa đào tạo bồi dưỡng
Kiến thức quản lý nhà nước là một trong những khóa học nhằm đáp ứng yêu cầu
đó, khóa học sẽ giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công vụ, góp phần triển
khai các văn bản quản lý nhà nước một cách hiệu quả, đồng thời giúp học viên
nâng cao năng lực kỹ năng, phong cách làm việc chuyên nghiệp trong quản lý, điều
hành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Phát triển năng lực thực thi công vụ
cho cán bộ, công chức, viên chức ngạch chuyên viên và chuyên viên chính phù hợp
với tiêu chuẩn theo quy định và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước.
3.1.4. Tác dụng của khóa bồi dưỡng đối với bản thân
về chương trình học, lớp học với đơn vị tổ chức lớp như sau:
- Cơ quan quản lý đào tạo chuyên viên sẽ phải theo dõi công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức thường xuyên hơn. Do số cơ sở đào tạo được chuyên viên lựa
chọn nhiều hơn, nên cơ quan quản lý đào tạo phải mở rộng giao tiếp về nội dung,
tần suất và làm tăng tính phức tạp;
- Cơ sở đào tạo sẽ phải thường xuyên cập nhật nhu cầu đào tạo, điều chỉnh
nội dung, chương trình, liên hệ với các đối tác, thân thiện hơn với khách hàng, chịu
19
trách nhiệm nhiều hơn với sản phẩm của mình .v.v… Để đáp ứng yêu cầu đào tạo,
bồi dưỡng theo nhu cầu, đội ngũ giảng viên của cơ sở đào tạo cũng cần phải có
trình độ lý luận cao, am hiểu thực tế và đặc biệt phải thành thạo về kỹ năng giảng
dạy tích cực theo tình huống;
Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch cán sự, chuyên viên,
chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp chuyển sang chương trình bồi dưỡng theo
chức danh ở mỗi cấp chính quyền. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên viên
cần hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ. Việc đào
tạo, bồi dưỡng phải chuyển từ truyền thụ lý thuyết sang hướng dẫn kỹ năng thực
hành, từ đào tạo dựa theo nguồn cung (chỉ căn cứ vào nguồn lực của cơ sở đào tạo)
sang đào tạo theo cầu (căn cứ vào nhu cầu của người học); từ đào tạo, bồi dưỡng để
phục vụ nhu cầu ở trong nước, sang đào tạo, bồi dưỡng để phát triển khả năng
cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Về trung hạn và dài hạn, cần hình thành các trung tâm trợ giúp công vụ cho
chuyên viên nhằm nâng cao kỹ năng làm việc theo nhóm, phát huy tính năng động,
sáng tạo và tăng cường bản lĩnh cho họ trong quá trình thực thi công vụ. Sắp xếp và
củng cố hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên viên từ trung ương đến địa
phương, thu hút các học viện, trường đại học, các công ty trong nước và ngoài nước
tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động cho đội ngũ cán bộ, công
bộ, công chức”;
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến đạo đức công vụ.
Pháp luật về ĐĐCC là một bộ phận của hệ thống pháp luật về công chức, công vụ,
một bộ phận của pháp luật công. Vì vậy, trên thực tế bên cạnh các VBQPPL quy
định và điều chỉnh trực tiếp về ĐĐCC thì còn rất nhiều VBQPPL khác cũng gián
tiếp điều chỉnh về vấn đề này như đã phân tích ở trên. Để bảo đảm tính thống nhất,
đồng bộ, khả thi của pháp luật về ĐĐCC, thì bên cạnh việc nghiên cứu ban hành
Luật Đạo đức công chức, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan tới
ĐĐCC, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xây dựng đội ngũ công chức vừa
hồng vừa chuyên đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay. Trong đó, nghiên cứu hoàn thiện các quy định liên quan tới ĐĐCC trong
Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật
Cán bộ, công chức, các văn bản luật này được coi là những yếu tố rất cơ bản của
thể chế về công chức, công vụ. Tiêu chuẩn ĐĐCC như “cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư”, công chức là “công bộc” của nhân dân được ghi nhận và bảo đảm thực
hiện trên thực tế thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định của
pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các
quy định về công chức, công vụ một cách đồng bộ;
Bốn là, bảo đảm các điều kiện để cán bộ, công chức luôn giữ gìn phẩm giá
nghề nghiệp. Bản chất của con người luôn luôn bị cám dỗ chi phối. Đặc biệt, đối
với cán bộ, công chức được sử dụng quyền lực công, nhân danh quyền lực công để
thi hành công vụ lại càng dễ bị cám dỗ. Do đó, Nhà nước phải tạo cho được “hàng
rào bảo vệ” cán bộ, công chức để họ luôn giữ gìn phẩm giá nghề nghiệp, như bảo
đảm một số điều kiện: Trả lương tương xứng với giá trị sức lao động của người cán
bộ, công chức bỏ ra; trả lương cho cán bộ, công chức công bằng dựa trên hiệu quả
làm việc và mức độ cống hiến của từng người; tạo môi trường làm việc công bằng,
thể chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình để mọi cán bộ, công chức có
năng lực, tài năng được thể hiện, ghi nhận; thực thi pháp luật thật nghiêm minh để
ngăn ngừa và răn đe những hành vi tham ô, tham nhũng trong nền công vụ... Chỉ
3.2.3. Đối với mỗi cán bộ, công chức
Công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đến công
vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội. Trách nhiệm công vụ là việc
cán bộ, công chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn
phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó. Một nền công vụ hiệu lực, hiệu quả
đều dựa trên cơ sở đề cao tính trách nhiệm với tinh thần tận tụy, mẫn cán và làm
tròn bổn phận của cán bộ, công chức. Với ý nghĩa quan trọng như vậy thì bản thân
mỗi người cán bộ công chức cần không ngừng rèn luyện, trau dồi kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ. Nêu cao tinh thần cần kiệm liêm chính chí công vô tư, luôn đặt lợi
ích của nhân dân và Nhà nước lên hàng đầu.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Cán bộ, công chức năm 2008
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr.269;
3. Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành
Chương trình tổng thể Cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020;
4. Thực trạng pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay và đề
xuất hoàn thiện, Đoàn Thị Ngọc Hải - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
5. Nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức ở
Việt Nam hiện nay, TS. Nguyễn Quốc Tuấn Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, Bộ Nội vụ;
23