Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Thụng tin chung về sỏng kiến.
1. Tên sáng kiến: Nâng cao hiệu quả dạy học phần “Di truyền – Biến dị” Sinh học 9
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn sinh học 9
3. Thời gian áp dụng sáng kiến. Từ ngày 05 tháng 09 năm 2008 đến ngày 30 tháng
05 năm 2009
4. Tác giả:
Họ và tên:
Năm sinh:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ công tác:
Nơi làm việc:
Địa chỉ liên hệ:
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị:
Địa chỉ:
Điện thoại:
Trang 1
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
I.ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
1. Cơ sở lí luận
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước, việc nâng cao chất lượng giáo dục
Kinh nghiệm
Sinh học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, vì vậy học phải đi đôi với hành. Khi
dạy học sinh về kiến thức Sinh học chúng ta không nên chỉ truyền đạt dưới dạng “thực
đơn có sẵn”, học sinh chỉ học thuộc bài mà phải truyền đạt một cách khoa học, giúp
học sinh nắm chắc kiến thức có tính quy luật, hiểu được bản chất của nó. Từ đó học
sinh nắm được các nhà khoa học tìm ra kiến thức và các quy luật sinh học như thế
nào? ...
Về phía học sinh
- Mặc dù học sinh hầu hết đều chăm ngoan nhưng chưa có ý thức học đều các môn, các
em thường chỉ chú trọng vào hai môn chính Văn – Toán, học lệch về các môn Sử, Địa,
Sinh, Lí…
- Bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận học sinh còn xem nhẹ môn học do đó trong lớp
còn thiếu chú ý, thiếu tập trung suy nghĩ thảo luận, ít tham gia xây dựng bài dẫn đến
không khí lớp học còn buồn tẻ.
- Lĩnh hội kiến thức dạng học vẹt qua loa, đại khái.
Về phía giáo viên
- Giáo viên còn thiếu tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học còn ít.
- Chưa tích cực thu thập, cập nhật thêm thông tin, kiến thức sinh học
- Sử dung công nghệ thông tin vào giảng dạy còn hạn chế
- Xem nhẹ phương pháp dạy học "lấy học sinh làm trung tâm"
Mặc dù đã qua nhiều năm học chúng ta thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Dạy
học "lấy học sinh làm trung tâm" không mới đối với giáo viên nhưng chưa được vận
dụng phổ biến và có hiệu quả.
II. Giải pháp thực hiện
Qua thực tế giảng dạy trên lớp, dự giờ các đồng nghiệp trong trường hay trường bạn,
ở bộ môn sinh học hay các bộ môn khác. Tôi nhận thấy một số giáo viên vẫn còn lúng
túng trong phương pháp dạy phần Di truyền – Biến dị Sinh học 9, giáo viên "nói" vẫn là
phương pháp dạy phổ biến, chiếm ít nhất là hơn 60% thời gian của giờ học. Phương
pháp này được dùng để giải thích và cung cấp kiến thức vì vậy nó không sửa lỗi và
Với kinh nghiệm nhiều năm dạy Sinh học 9 đã tích luỹ được ít nhiều kinh nghiệm tôi
đã mạnh dạn áp dụng một số phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học phần Di truyền –
Biến dị và thu được những kết quả khả quan, tôi xin được trình bày một số hoạt động đã
tổ chức để dạy các bài trong phần Di truyền - Biến dị môn sinh học 9
1. Giải pháp I: Giáo viên nghiên cứu sách giáo khoa, phân phối chương trình và
tài liệu tham khảo.
- Trước tiên giáo viên phải nghiên cứu phân phối chương trình xem nội dung chương
trình gồm mấy chương, mỗi chương gồm mấy bài, tỉ lệ số tiết lí thuyết và thực hành.
Trang 4
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Phần Di truyền – Biến dị sinh học 9 gồm 6 chương
Chương I: Các thí nghiệm của Menđen.
Chương II: Nhiễm sắc thể.
ChươngII: ADN và gen.
Chương IV: Biến dị.
Chương V: Di truyền học người.
Chương VI: Ứng dụng di truyền học vào chọn giống.
Phần này có 40 tiết nhiều hơn SGK trước đây 20 tiết.Vì vậy,bên cạnh sự kế thừa, nội
dung của SGK mới còn phát triển và khác biệt với SGK hiện hành. Điều đó được cụ thể
hóa ở những điểm sau:
- Kế thừa và đi sâu hơn các vấn đề: Lai một cặp và hai cặp tính trạng. Di truyền giới
tính.Cấu trúc và chức năng của NST. ADN. Đột biến và thường biến.Tự thụ phấn và
giao phối gần. Ưu thế lai. Lai kinh tế. Đột biến nhân tạo. Các phương pháp chọn lọc.
Công nghệ sinh học,
+ Hiểu và giải thích đợc tương quan trội lặn hoàn toàn và không hoàn toàn, thấy được
sự khác biệt giữa hai trường hợp này.
+ Vận dụng quy luật phân li để giải thích các hiện tượng di truyền trong sản xuất và đời
sống.
+ Xác định được mục đích và thực chất các phương pháp phân tích di truyền: phân tích
các thế hệ lai và lai phân tích.
+ Biết phân tích kết quả thí nghiệm lai hai cặp tính trạng và giải thích theo Men đen,
viết được sơ đồ lai từ P đến F2.
+ Phát biểu được nội dung và nêu được bản chất của quy luật phân li độc lập.
+ Hiểu và giải thích được ý nghĩa của quy luật phân li độc lập.
- Kĩ năng:
+ Phát triển kĩ năng quan sát và phân tích kênh hình
+ Rèn luyện thao tác thực hành về thống kê xác suất, từ đó biết vận dụng kết quả để
giải thích các tỉ lệ Men đen.
+ Rèn luyện năng lực tư duy nhanh nhạy để trả lời bài tập trắc nghiệm và phương pháp
giải bài tập.
B. Nội dung
1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN DI TRUYỀN CỦA MENĐEN
1.1. Đối tượng nghiên cứu
Menđen đã thí nghiệm trên nhiều loại đối tượng nhưng công phu và hoàn chỉnh
nhất là trên đậu Hà lan (Pisum sativum). Đây là một loại cây có hoa lưỡng tính, có
những tính trạng biểu hiện rõ rệt, là cây hàng năm, dễ trồng, có nhiều thứ phân biệt rõ
ràng, tự thụ phấn cao nên dễ tạo dòng thuần.
Trang 6
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
truyền các tính trạng đó của bố mẹ cho các thế hệ sau.
Việc tìm ra phép lai phân tích để kiểm tra tính thuần chủng của giống lai cũng là điểm
đặc biệt trong phương pháp của Menđen. Phương pháp thí nghiệm độc đáo và đúng đắn
của Menđen đến nay vẫn là mẫu mực cho các nghiên cứu di truyền. Các thí nghiệm có
đánh giá số lượng của ông khác hẳn với các phương pháp mô tả của các nhà sinh học
vẫn thường sử dụng ở thế kỉ 19.
1.3. Một số thuật ngữ và kí hiệu cơ bản của DTH
— Tính trạng là những đặc điểm cụ thể về hình thái , cấu tạo, sinh lí của một cơ thể.
Ví dụ cây đậu có thân cao, quả lục, hạt vàng, chịu hạn tốt.
— Cặp tính trạng tương phản là hai trạng thái khác nhau thuộc cùng loại tính trạng có
biểu hiện trái ngược nhau. Ví dụ hạt trơn và hạt nhăn, thân cao và thân thấp.
— Gen là nhân tố di truyền xác định hay kiểm tra một hay một số các tính trạng của
sinh vật. Ví dụ gen quy định màu sắc hoa hay màu sắc hạt đậu.
— Dòng hay giống thuần chủng là giống có đặc tính di truyền đồng nhất, các thế hệ
sau được sinh ra giống các thế hệ trước về đặc tính hay tính trạng.
Trên thực tế, nói giống thuần chủng là nói tới sự thuần chủng về một hoặc một vài
tính trạng nào đó đang được nghiên cứu.
Một số kí hiệu:
P (parentes): cặp bố mẹ xuất phát. Phép lai được kí hiệu bằng dấu "x".
G (gamete): giao tử. Quy ước giao tử đực (hoặc cơ thể đực) được kí hiệu là O ,còn
giao tử cái (hay cơ thể cái) kí hiệu là O
F (filia): thế hệ con. Quy ước F1 là thế hệ thứ nhất, con của cặp P. F 2 là thế hệ thứ hai
được sinh ra từ F1.
1.4.Tiểu sử Menđen
Johann Menđen sinh ngày 22 tháng 7 năm 1822. Menđen sinh ra trong gia đình nông
dân nghèo ở Silesie, nay thuộc Brno ( Sec). Sau khi học hết bậc trung học, do hoàn cảnh
gia đình khó khăn Menđen vào học ở trường dòng tại thành phố Brnô và sau 4 năm đã
trở thành linh mục (năm 1847).Thuở đó tu viện có lệ các thày dòng phải dạy học các
Trang 8
F1
Hoa đỏ x hoa trắng
Thân cao x thân lùn
Quả lục x quả vàng
F2
Tỉ lệ kiểu hình
F2
3,15 : 1
2,75 : 1
2.82 : 1
Hoa đỏ, 705 đỏ ; 224 trắng
Thân
487 cao; 177 lùn
cao, Quả 428 quả lục;152 quả
lục
vàng
Các tính trạng của cơ thể ,ví dụ như hoa đỏ.hoa trắng,thân cao ,thân lùn,quả
lục,quả vàng,được gọi là kiểu hình (KH).
Dù thay đổi vị trí của các giống làm cây bố và cây mẹ như giống hoa đỏ làm bố và
còn giống hoa trắng làm mẹ, hay ngược lại, kết quả thu được ở F 1 và F2 vẫn giống nhau.
Trang 9
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Thông qua hình I.3, Men đen đã giải thích kết quả thí nghiệm của mình bằng sự phân
li và tổ hợp của cặp nhân tố di truyền (gen) qua quá trình phát sinh giao tử và thụ tinh.
Hinh I.3. Sơ đồ giải thích lai một cặp tính trạng của Menđen
2.3. Nội dung quy luật phân li
Các kết quả thí nghiệm lai một cặp tính trạng của Menđen cho thấy :
Khi lai bố mẹ khác nhau về một cặp tính trạng thuần chủng tương phản thì ở thế hệ
thứ hai có sự phân li theo tỉ lệ xấp xỉ 3 trội :1 lặn (tức là 3/4 và 1/4 hay 75% và 25%).
Khi giải thích kết quả thí nghiệm của mình, Men đen đã đưa ra khái niệm” giao tử
thuần khiết “. Theo quan niệm này, trong cơ thể lai F1(Aa) gen trội át gen lặn nên tính
lặn không được biểu hiện. Tuy nhiên, gen lặn vẫn tồn tại bên cạnh gen trội; chúng
không hòa lẫn vật chất với nhau. Lúc cơ thể lai F1 (Aa) phát sinh giao tử thì các alen trội
(A) và lặn (a) vẫn giữ nguyên bản chất như trong bố mẹ thuần chủng (giao tử thuần
khiết). Mỗi loại giao tử của F1chỉ chứa một gen của bố hoặc mẹ, nghĩa là chỉ chứa A
hoặc a. Sự phân li của cặp Aa đã tạo ra hai loại giao tử với xác suất ngang nhau là
Trang 11
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
1A:1a. Chính tỉ lệ phân li của hai loại giao tử này cùng với sự tổ hợp của chúng qua thụ
tinh là cơ chế tạo nên tỉ lệ KG : 1AA : 2 Aa : 1aa, từ đó cho ra tỉ lệ KH là 3 trội:1 lặn ở
F2 (hình I.3). Tính lặn được biểu hiện trong thể đồng hợp về gen lặn, gây ra hiện tượng
phân li, nghĩa là kiểu hình của các cây F2 không đồng nhất.Vì vậy về bản chất, quy luật
1AA; 2Aa; 1aa.
Do sự tác động của gen trội A át đối với gen lặn, nên thể dị hợp Aa ở F1 có KH trội
(hoa đỏ),cũng vì vậy F2 có tỉ lệ KH 3 trội (hoa đỏ) : 1 lặn (hoa trắng).
Những phân tích trên cho thấy định luật phân li chỉ nghiệm đúng trong những điều
kiện sau:
-Bố mẹ thuần chủng về cặp tính trạng tương phản đem lai.
-Số lượng cá thể thu được của phép lai phải đủ lớn thì tỉ lệ kiểu hình mới gần đúng
3:1.
-Tính trạng do một gen quy định, trong đó gen trội át hoàn toàn gen lặn.
2.5. Lai phân tích
Kết quả tự thụ phấn ở F2 trong thí nghiệm của Men đen cho thấy có 1/ 3 số cây hoa
đỏ không có sự phân li tính trạng ở F3, như vậy chúng mang KG AA; còn 2/3 số cây hoa
đỏ có sự phân li 3 hoa đỏ :1 hoa trắng ở F 3 ,điều đó chứng tỏ chúng mang KG Aa.Tính
trạng trội hoa đỏ ở F 2 do 2 KG AA và Aa cùng biểu hiện. Vì vậy, muốn xác định được
kiểu gen của cá thể có KH trội nào đó thì phải dùng phép lai phân tích.
Phép lai phân tích là phép lai giữa cá thể mang tính trạng trội cần xác định KG với
cá thể mang tính trạng lặn. Nếu kết quả của phép lai đồng tính thì cá thể mang tính
trạng trội có kiểu gen đồng hợp trội, còn kết quả phép lai phân tính thì thì cá thể đó có
kiểu gen dị hợp tử.
Ví dụ, muốn xác định KG của bất kì một cây hoa đỏ ở F 2 trong thí nghiệm của
Menđen thì phải cho nó giao phấn với cây hoa trắng:
F2: Hoa đỏ x Hoa trắng
Trang 13
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Menđen lai hai thứ đậu Hà Lan thuần chủng khác nhau về hai cặp tính trạng tương
phản: hạt màu vàng, vỏ trơn và hạt màu xanh, vỏ nhăn, được F 1 đều có hạt màu vàng,
Hình 1.5. Lai hai cặp tính trạng.
vỏ trơn. Sau đó ông cho 15 cây F 1 tự thụ phấn thu được ở F 2 556 hạt thuộc 4 loại kiểu
hình như hình 1.5 .
Phân tích kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Phân tích kết quả thí nghiệm của Menđen
Kiểu hình
F2
Vàng, trơn
Vàng,
nhăn
Xanh, trơn
Xanh,
nhăn
Tỉ lệ kiểu hình F2
Tỉ lệ từng cặp tính trạng ở F2
315/556 = 0,5665 ≈
vµng
= 416/140 = 2,97 : 1 ≈ 3 :
9/16 hạt vàng trơn = 3/4 hạt vàng x 3/4 hạt trơn;
3/16 hạt vàng nhăn = 3/4 hạt vàng x 1/4 hạt nhăn ;
3/16 hạt xanh trơn = 1/4 hạt xanh x 3/4 hạt trơn;
1/16 hạt xanh nhăn = 1/ 4 hạt xanh x 1/4 hạt nhăn.
Hay tỉ lệ các kiểu hình ở F2 bằng tích các tỉ lệ của các cặp tính trạng tổ hợp thành
chúng, cụ thể là các tỉ lệ kiểu hình ở F2 của phép lai trên bằng (3 hạt vàng:1 hạt xanh)(3
hạt trơn:1hạt nhăn).
Từ những phân tích trên Menđen thấy rằng các cặp tính trạng màu sắc hạt và hình
dạng hạt di truyền độc lập với nhau, nghĩa là chúng tuân theo định luật xác suất của các
sự kiện độc lập. Như vậy kết quả thí nghiệm trên của Menđen cho thấy:
Khi lai cặp bố mẹ khác nhau về hai (hoặc nhiều) cặp tính trạng thuần chủng
tương phản di truyền độc lập với nhau thì xác suất xuất hiện mỗi kiểu hình ở F 2 bằng
tích xác suất của các tính trạng hợp thành nó.
3.2. Men đen giải thích kết quả thí nghiệm
Những phân tích kết quả thí
nghiệm đã xác định các cặp tính
trạng di truyền độc lập.Từ đó Men
đen cho rằng mỗi cặp tính trạng do
một cặp nhan tố di truyền (gen) quy
định. Ông cũng dùng các chữ để ki
hiệu cho các cặp nhân tố di truyền
hay các cặp gen ,cụ thể là:
-Gen A quy định hạt vàng.
-Gen a quy định hạt xanh.
-Gen B quy định vỏ trơn.
-Gen b quy định vỏ nhăn
Trang 16
Hình I.6. Sơ đồ giải thích thí nghiệm lai hai
độc lập của các cặp gen tương ứng tạo nên các loại giao tử khác nhau với xác suất
ngang nhau. Các loại giao tử này kết hợp ngẫu nhiên với những xác suất ngang nhau
trong thụ tinh, tạo nên F2 .
Trang 17
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Hình I.7.Cơ sở tế bào học của định luật di truyền độc lập
Cụ thể trong hình I.7, sự phân li độc lập và tổ hợp tự do của 2 cặp NST đưa đến sự
phân li độc lập và tổ hợp tự do của 2 cặp gen dị hợp Aa và Bb ở F1 đã tạo ra 4 loại giao
tử với tỉ lệ ngang nhau là AB: Ab: aB: ab. Sự kết hợp ngẫu nhiên trong thụ tinh giữa 4
loại giao tử đực với 4 loại giao tử cái cho ra 16 hợp tử F2 , trong đó có 9 kiểu gen, 4
kiểu hình theo tỉ lệ tương ứng như sau:
Về kiểu gen
Về kiểu hình
1 AABB
2 AABb
9(A-B-) hạt vàng trơn
2 AaBB
4 AaBb
1AAbb
2Aabb
3(A-bb) hạt vàng nhăn
Trang 18
n
Số lượng
các loại
giao tử
21
22
23
2n
Tỉ lệ phân Số lượng
li kiểu gen các loại
kiểu gen
(1 + 2 +
31
1)1
32
(1 + 2
33
+1)2
(1 + 2 +
3n
1)3
Tỉ lệ phân
li kiểu
hình
(3 + 1)1
(3 + 1)2
(3 + 1)3
trình phát sinh giao tử và thụ tinh đã hình thành các KG
khác P như
AAbb,Aabb,aaBB,aaBb.
Thí nghiệm của Men đen ở trên chỉ mới đề cập tới sự di truyền của hai cặp tính trạng
do 2 cặp gen
tương ứng chi phối. Trên thực tế, ở các sinh vật bậc cao, kiểu gen có rất nhiều gen
thường tồn tại ở thể dị hợp, do đó với sự phân li độc lập và tổ hợp tự do của chúng sẽ
tạo ra số loại tổ hợp về kiểu gen và kiểu hình ở đời con cháu là cực kì lớn.
Quy luật phân li độc lập đã giải thích một trong những nguyên nhân làm xuất hiện
những biến dị tổ hợp vô cùng phong phú ở các sinh vật giao phối. Loại biến dị này là
một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng đối với chọn giống và tiến hóa.
3.6. Di truyền trung gian
Một trường hợp khác với thí nghiệm của
Menđen là cơ thể lai F1 mang tính trạng
trung gian giữa bố và mẹ (di truyền trung
gian hay trội không hoàn toàn).
Ví dụ, hình I.8. phản ánh kết quả phép
lai giữa hai giống hoa thuộc loài hoa phấn
(Mirabilis jalapa) là hoa đỏ và hoa trắng. F1
toàn hoa màu hồng, còn F2 có tỉ lệ:1 hoa đỏ:
2 hoa hồng: 1 hoa trắng.
Hình I.8 . Trội không hoàn toàn
Trường hợp thể dị hợp Aa biểu hiện tính
trạng trung gian là do gen trội A không át chế hoàn toàn gen lăn a. F2 có tỉ lệ KG và KH
giống nhau. Mỗi KG có KH riêng biệt.
Như vậy,trội không hoàn toàn là hiện tượng di truyền trong đó KH của cơ thể lai F1
biểu hiện trung gian giữa bố và mẹ, còn ở F2 có tỉ lệ KH là
1 trội : 2 trung gian: 1lặn.
Trang 20
+ Biết quan sát và nhận dạng được hình thái NST ở kì giữa.
B. Nội dung
1.T.H.MORGAN VÀ THUYẾT DI TRUYỀN NST
1.1. Sơ lợc tiểu sử T.H.Morgan (1866 – 1945)
Tomat Hunt Morgan sinh ngày 25-9-1866 tại bang Kentuca (mĩ). Năm 20 tuổi, ông
tốt nghiệp đại vòa loại xuất sắc. Năm 24 tuổi ông nhận được bằng tiến sĩ và năm 25 tuổi
được phong giáo sư. Ông là một nhà phôi học, giảng dạy tại trường đại học Columbia
(Mĩ).T.H.Morgan đã quyết định chuyển sang nghiên cứu di truyền học, lúc đó còn là
một ngành khoa học trẻ.
Trang 21
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
Thoạt tiên T.M.Morgan không tán thành các quy luật di truyên Menđen và thuyết di
truyền NST. Ông dự trù kinh phí xin tiến hành thí nghiệm lai ở thỏ, nhưng không được
chấp nhận vì kinh phí quá lớn. Sau đó, ông đã chọn được một đối tựơng độc đáo và
thuận lợi cho nghiên cứu di truyền là ruồi giấm. Phòng thí nghiệm của T.H.Morgan về
sau được gọi là “phòng thí nghiệm ruồi”.
Tham gia nghiên cứu cùng T.H.Morgan là 3 nhà di truyền học nổi tiéng là C. Bridges,
A.H.Sturtevant và G. Muller. Nhóm nghiên cứu này đã chứng minh các nhân tố di
truyền Menđen nằm trên NST và hoàn chỉnh thuyết di truyền NST. Thuyết di truyền
NST xác nhận sự đúng đắn của thuyết di truyền về gen (nhân tố di truyền), cho thấy các
gen phân bố theo chiều dọc NST tạo thành nhóm liên kết.
Do cống hiến khoa học T.H.Morgan đã được nhận giải thưởng Nobel vào năm 1934.
Tên tuổi của ông mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Menđen được xem là những người
sáng lập ra di truyền học.
2.1. Hình thái NST
NST hay còn gọi là thể nhiễm màu (chromôsome = chromo – màu + some –
thể) vì nó dễ bắt màu khi nhuộn tế bào bằng dung dịch kiềm tính và quan sát rõ
dưới kính hiển vi thường ở kì giữa của nguyên phân, luôn giữ vững cấu trúc riêng
biệt và duy trì liên tục qua các thế hệ tế bào. Tuy nhiên, hình thái của NST, đặc
biệt là mức độ đóng và duỗi xoắn như từ trạng thái duỗi xoắn hoàn toàn dần
chuyển sang bắt đầu đóng xoắn rồi đóng xoắn cực đại và sau đó lại duỗi xoắn cho
tới khi tháo xoắn hoàn toàn, biến đổi qua các kỳ của chu kỳ tế bào (hình II.1),
trong đó dạng điển hình của NST là dạng đặc trưng đóng xoắn cực đại ở kì giữa.
Hình II.1-Sự biến đổi hình thái NST trong chu kì tế bào.
Tùy theo mức độ duỗi và đóng xoắn mà chiều dài
của NST khác nhau ở các kỳ. Tại kỳ giữa NST đã
co ngắn có chiều dài từ 0,5 đến 50 µm, đường
kính từ 0,2 đến 2 µm (1 µm = 10-3 mm), đồng thời
có hình dạng đặc trưng như hình hạt, hình que
hoặc chữ V (hình II.2).
Hinh II.2 - Hình dạng NST ở kì giữa
NST thường được mô tả khi nó có dạng đặc
trưng ở kì giữa (hình II.3 và II.4). Ở kì này NST gồm hai nhiễm sắc tử chị em hay
crômatit gắn với nhau ở tâm động (centromere) hay eo thứ nhất chia nó thành hai cánh
hay 2 vai. Theo quy ước, vai ngắn hơn được gọi là vai p còn vai dài hơn gọi là vai
q.Tâm động là điểm đính NST vào sợi tơ vô sắc trong bộ thoi phân bào, nhờ đó khi sợi
tơ co rút trong quá trình phân bào mà NST di chuyển được về các cực của tế bào. Dựa
vào vị trí của tâm động, có thể phân biệt hình thái NST : tâm cân hay tâm giữa
(metacentric) khi 2 vai bằng nhau, tâm lệch hay tâm đầu (acrocentric) khi 2 vai không
bằng nhau và tâm mút (telocentric) khi tâm động nằm gần cuối (hình II.2). Một số NST
còn có eo thứ hai.
Trang 23
Nâng cao hiệu quả dạy học phần Di
truyền-Biến dị Sinh học 9
Kinh nghiệm
tinh cho thấy 13 cặp NST có hình thái giống nhau, 9 kiểu đảo đoạn quanh tâm, NST số
2 của người do sự dung hợp 2 NST khác nhau của tinh tinh.
Loài
Người
Tinh tinh
Gà
Ruồi giấm
Đậu
Hà
Lan
Ngô
Lúa nước
Cải bắp
Hình II.6. Bộ NST ruồi giấm
2n
46
48
78
8
n
23
24
39
được xác định bằng khoảng thời gian giữa hai lần nguyên phân liên tiếp, nghĩa là từ khi
tế bào được hình thành ngay sau lần nguyên phân thứ nhất cho tới khi nó kết thúc lần
phân bào thứ hai tiếp theo, vì vậy chu kì tế bào còn được hiểu là chu kì nguyên phân.
Phân bào thực chất là quá trình sinh sản của tế bào. Trong chu kì sống tế bào đã diễn ra
Trang 25