SKKN nâng cao hiệu quả dạy học một số bài lịch sử việt nam trong chương trình lớp 11 bằng phương pháp sử dụng tài liệu văn học - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
=======****======

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI LỊCH SỬ
VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 BẰNG
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC

Người thực hiện: Vi Thị Khoa
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Lịch sử

THANH HOÁ, NĂM 2017


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường phổ thông, bộ môn lịch sử là một trong những bộ môn
có tầm quan trọng và có tính giáo dục rất lớn, nó cung cấp cho học sinh một bức
tranh sinh động về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc. Trong quá trình giảng
dạy môn lịch sử, ở các bài học nội dung truyền đạt cho học sinh chỉ là những
kênh chữ, một vài bài có cung cấp thêm hình ảnh. Trong các tiết dạy lịch sử đa
số giáo viên chỉ chú ý bám sát nội dung kiến thức trong sách giáo khoa mà chưa
chú ý sử dụng những hình thức khác để bổ trợ làm cho tiết học thêm sinh động.
Ví dụ như cung cấp thêm những hình ảnh ngoài sách giáo khoa hoặc
những mẫu chuyện kể về những con người đã góp phần xây dựng đất nước để có
được những thành tựu của hôm nay mà trong sách giáo khoa không đề cập đến.
Qua tiết dạy không đem lại hứng thú cho học sinh, tiết học trở nên khô khan đôi

1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết
dạy.
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học lịch sử.
- Sử dụng sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên lịch sử lớp 11
- Sưu tầm các tác phẩm văn học có liên quan
- Sử dụng các câu hỏi điều tra có thể đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu
của việc đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh trong việc giảng dạy
môn lịch sử lớp 11, để khắc phục nhược điểm trong phương pháp kiểm tra đánh
giá cần phối hợp các phương pháp hiện đại, trong đó có phương pháp kiểm tra
bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học sinh học và làm bài để từ đó có điều chỉnh
và bổ sung hợp lí

2


2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sơ lí luận
Bất cứ giáo viên bộ môn nào đều phải có tư tưởng, tình cảm đúng đắn
lành mạnh, trong sáng, có lòng nhiệt thành đối với nghề nghiệp, có thế giới
khách quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ để góp phần hình thành thế hệ
trẻ theo mục tiêu đào tạo của Đảng. Một thế hệ người Việt Nam có năng
lực,trình độ, có phẩm chất đạo đức để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mỗi người giáo viên phải không ngừng nâng cao sự hiểu biết kiến thức bộ
môn, có phương pháp dạy tốt, không ngừng hoàn thiện cải tiến phương pháp
giảng dạy và nghiệp vụ sư phạm. Dạy – học là quá trình đưa đến cho thế hệ trẻ,
giúp thế hệ trẻ tiếp nhận những giá trị quí báu của loài người về phương diện tri
thức cũng như về phương diện tình cảm, tư tưởng góp phần bồi dưỡng phẩm

dùng và phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, mô hình, ứng dụng
công nghệ thông tin…
Đa số các em học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các
câu hỏi giáo viên đặt ra, một số em có chuẩn bị bài mới ở nhà. Trong tiết học các
em học sinh tham gia tích cực trong việc thảo luận nhóm và đã đưa hiệu quả cao
trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Học sinh yếu, kém đã và đang nắm bắt kiến
thức trọng tâm cơ bản thông qua các hoạt động như thảo luận nhóm, đọc sách
giáo khoa, vấn đáp… các em đã mạnh dạn trả lời các câu hỏi ghi nhớ các sự
kiện, nhân vật, một quá trình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của
mình.
2.2.2. Khó khăn
Vẫn còn một số ít giáo viên chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh tạo
điều kiện cho các em suy nghĩ, nắm vững kiến thức, vẫn còn sử dụng phương
pháp dạy học “thầy nói, trò nghe’, “thầy đọc, trò chép”. Do đó nhiều học sinh
chưa nắm kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn
sách giáo khoa hoàn toàn.
Một số câu hỏi giáo viên đặt ra khó, học sinh không trả lời được nhưng lại
không có câu hỏi gợi ý nên nhiều khi phải trả lời thay cho học sinh. Một số tiết
giáo viên chỉ nêu vài câu hỏi và chỉ gọi một số học sinh khá, giỏi trả lời, chưa có
4


câu hỏi dành cho đối tượng học sinh yếu, kém, làm cho đối tượng này ít được
chú ý và không được tham gia hoạt động đều này làm cho các em tự ti về năng
lực của mình, các em cảm thấy chán nản và không yêu thích môn học.
Học sinh chưa có tinh thần học tập, một số em vừa học vừa làm, việc tiếp
thu bài chậm, đặt câu hỏi phải cụ thể, lặp lại nhiều lần. Các em chưa xác định
được động cơ học tập, học như thế nào? học cho ai? học để làm gì? Vì thế các
em chưa phát huy hết vai trò và trách nhiệm của người học sinh. Học sinh chưa
xác định nội dung của bài học, tiếp thu bài một cách máy móc, các em luôn có

kiến thức cũ.
Khi học sinh làm việc theo nhóm, giáo viên cần theo dõi, giải đáp ngay
các thắc mắc của học sinh.
Không nên đưa ra những câu hỏi quá đơn giản như: có, không, đúng, sai.
Nếu đặt câu hỏi như vậy phải kèm theo vế sau như vì sao? Hoặc tại sao?
Câu hỏi phải đi từ dễ đến khó, nếu đặt câu hỏi khó sẽ làm cho học sinh
căng thẳng. Nếu câu hỏi khó giáo viên nên gợi ý cho học sinh trả lời, không nên
cho học sinh suy nghĩ quá lâu làm không khí lớp nặng nề.
Trong lúc học sinh suy nghĩ trả lời, giáo viên không nên hối thúc học sinh,
có thể nêu gợi ý tạo cho học sinh không khí thoải mái.
Khi học sinh trả lời giáo viên phải nhận xét câu trả lời của học sinh, nếu
thiếu có thể cho một học sinh khác bổ sung hoặc giáo viên trình bày cụ thể.
Khi dạy những bài có các danh nhân, vị anh hùng dân tộc nên sơ lược
thân thế sự nghiệp, kết hợp giáo dục tư tưởng đạo đức. Xây dựng nhân vật điển
hình cho học sinh ghi nhớ được lâu.
Nội dung bài giảng phải thật ngắn gọn, cô động nhưng phải đảm bảo nội
dung cơ bản, cần nhấn mạnh ý chính của bài.

6


2.4. Một số giải pháp cụ thể gây hứng thú học tập lịch sử cho học sinh bằng
sử dụng tài liệu văn học
2.4.1. Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử nói chung
Trong thực tiễn dạy học, các tác phẩm văn học của dân tộc cũng như thế
giới có vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Trước hết
các tác phẩm văn học bằng những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ đến
tư tưởng, tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng điển hình của các
hiện tượng kinh tế, chính trị những qui luật của của đời sống xã hội. Trong khi
sáng tác một tác phẩm nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử, không ít tác

người ta thấy trở đi trở lại những chữ “lo lót, lễ vật, lễ mọn, phí tổn”. Chung quy
thì chỉ người dân là phải chịu thiệt hại, thua cũng thiệt mà được cũng thiệt. Cóc
sù sì, thô kệch giống như là những người dân chất phác hiền lành. Trê nhẵn nhụi,
trơn tru hay chui luồn, có thể tiêu biểu cho những người có nết láu lĩnh, hay làm
việc mờ ám...
Sử dụng tài liệu văn học dân gian, không chỉ góp phần làm cho bài giảng
sinh động, tạo được không khí gần gủi với bối cảnh lịch sử, sự kiện đang học mà
giáo viên tiến hành có thể đạt được kết quả giáo dục tư tưởng đạo đức nói chung
giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng.
Các tác phẩm văn học ra đời vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử, có ý
nghĩa quan trọng đối với việc khôi phục hình ảnh quá khứ. Khi nói đến cuộc
sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ XX dưới chế độ thực
dân nửa phong kiến thì không thể không kể đến tác phẩm “Tắt đèn” của nhà văn
Ngô Tất Tố. Tác phẩm xoay quanh nhân vật chính là chị Dậu và gia đình chị,
một điển hình của cuộc sống bần cùng hóa do sưu cao thuế nặng mà chế độ thực
dân áp đặt lên xã hội Việt Nam. Tác phẩm này là một bản án đã vạch trần bộ mặt
tàn ác, bất nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời. Đỉnh điểm của
cơn cùng cực là việc chị Dậu phải bán con, khoai và bán cả bầy chó để lấy tiền
nộp sưu thuế cho chồng và cảnh chị Dậu chạy ra giữa màn trời đêm tối đen như
mực và như cái tiền đồ của chị.
“Văn học là hiện thực của cuộc sống”. Vì vậy khi sử dụng tài liệu văn học
phải đảm bảo tiêu chuẩn cơ bản là giá trị giáo dục – giáo dưỡng và giá trị văn
học, các tài liệu đó phải giúp học sinh khôi phục lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh
8


các sự kiện, nhân vật lịch sử của quá khứ một cách chính xác, chân thực. Nhằm
mục đích phục vụ được yêu cầu của nội dung bài học, phù hợp trình độ nhận
thức của học sinh, không làm loãng nội dung bài học lịch sử.
2.4.2. Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học một số bài lịch sử Việt Nam

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ tẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dát bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này”
“Chạy Tây” – Nguyễn Đình Chiểu
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Nam Bộ, không thể
không nhắc đến người anh hùng dân tộc Trương Định. Người được nhân dân
phong chức “Bình Tây đại nguyên soái”, phất cao lá cờ yêu nước chống Pháp.
Cuộc khởi nghĩa của Ông đã gây cho giặc Pháp nhiều khó khăn, ông đã chiến
đấu hi sinh dũng cảm khi mới 44 tuổi. Thương tiếc người anh hùng dân tộc, nhà
thơ Nguyễn Đình Chiểu đã làm 12 bài thơ và một bài văn tế khóc khóc người
anh hùng.
“Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt,
thương đấng anh hùng gặp lúc gian truân
Đất Gò Công cây cỏ ủ ê
Cảm niềm thần tử, hết lòng trung ái
Xưa còn làm tướng, giốc rạng ngời hai chữ Bình Tây
Nay thác theo thần , xin dựng hộ một câu phúc thán…”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Qua bài văn tế, giáo viên khắc họa cho học sinh hình ảnh cao đẹp , trở thành
điểm sáng ngời trong lịch sử dựng nước, giữ nước và chống ngoại xâm của dân
tộc ta. Ông đã trở thành người thủ lĩnh vĩ đại của nghĩa quân chống giặc Pháp
xâm lược.
10



11


( Cảm khái – Phan Văn Trị
Sau hiệp ước Giáp Tuất 1874, nhân dân phản đối mạnh mẽ, nhân dân
không chỉ đánh Tây mà chống cả triều đình nhà Nguyễn.
“Dập dìu trống đánh cờ xiêu
Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam diễn ra anh
dũng, kiên cường. Nhiều nghĩa sĩ đã chiến đấu, hi sinh không sợ cái chết, để nói
lên tinh thần đó giáo viên nên sử dụng đoạn trích của Gosselin người Pháp nói
về tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc:
“Đứng trước vũ khí của chúng ta, những người An Nam chỉ có một
phương sách duy nhất là hi sinh cho sự bảo vệ các quyền tự do của họ. Họ đã
bình tĩnh đương đầu cái chết với một sự can đảm tột đỉnh và trong số rất đông
những người ngã xuống vì những viên đạn của các đơn vị hành hình hay dưới
làn gươm của các tên đao phủ, chúng tôi không bao giờ ghi nhận được một sự
yếu đuối nào”.
2.4.2.3. Sử dụng tài liệu văn học trong bài dạy 21
Khi dạy bài 21 “Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam
trong những năm cuối thế kỉ XIX”. Trong bối cảnh triều đình nhà Nguyễn đã
hoàn toàn đầu hàng Pháp, thì phong trào yêu nước chống Pháp của của các văn
thân, sĩ phu yêu nước và nhân dân vẫn tiếp tục diễn ra sôi nổi. Tiêu biểu nhất
trong phong trào yêu nước đó là cuộc khởi nghĩa Hương Khê, lãnh tụ của cuộc
khởi nghĩa là Phan Đình Phùng. Nhắc đến cụ Phan giáo viên nên đưa câu nói nổi
tiếng của cụ vào bài giảng. Đó là “ngôi mộ to nhất nên giữ là Tổ quốc Việt Nam,
người thân, rất thân nhất là cả mấy triệu đồng bào”
Để đàn áp cuộc khởi nghĩa của ông, thực dân Pháp đã dùng đến thủ đoạn
hèn hạ là khai quật mồ mả tổ tiên của ông, bắt và dọa giết người anh ruột của cụ.
Câu nói trên của Cụ thực sự đã trở thành bất hủ để thế hệ trẻ hôm nay sống cần

Hay:
“Cao su xanh tốt lạ đời
Mỗi cây bón một xác người công nhân”
13


2.4.2.5. Sử dụng tài liệu văn học trong bàì dạy 23
Vào đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu nước đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tư
sản, thực hiện phong trào cách mạng theo khuynh hướng mới mà tiêu biểu là hai
nhà nho yêu nước Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
Phan Bội Châu với xu hướng bạo động, thành lập hội Duy Tân với chủ
trương đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập, ngày 24/12/1913, Phan Bội Châu bị
giới quân phiệt Trung Quốc bắt giam tại nhà tù Quảng Đông (Trung Quốc). Để
khắc họa hình ảnh Phan Bội Châu giáo viên trình bày nội dung ngắn gọn tác
phẩm “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội châu” của Nguyễn Ái Quốc:
“Trước khi Va-ren từ Pháp sang Đông Dương nhận chức Toàn quyền y
hứa sẽ chăm sóc cụ Phan Bội Châu. Khi gặp cụ Phan, Va-ren ra sức dụ dỗ,
thuyết phục, nhưng vẫn không mua chuộc được Phan Bội Châu, cụ Phan thì tỏ
thái độ im lặng, dửng dưng. Anh lính dõng thì quả quyết rằng có thấy đôi ngọn
râu mép của cụ Phan nhếch lên một chút. Nhân chứng thứ 2 lại quả quyết cụ
Phan đã nhổ vào mặt Va-ren”.
Cụ Phan Bội Châu được biết đến không chỉ là một sĩ phu, bậc tiền bối yêu nước
chống Pháp tiêu biểu ở đầu thế kỉ XX. Cụ còn là một nhà thơ lớn, thơ của Cụ là
tiếng lòng, là khát khao của một người anh hùng mang trong mình hoài bão lớn.
Bài thơ “Xuất Dương Lưu Biệt” của Cụ là một tác phẩm thể hiện rõ nét nhất tư
tưởng ấy.
“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?

Nguyễn Ái Quốc, từ rất sớm Người đã có chí đánh đuổi thực dân Pháp giải
phóng đồng bào. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ bậc tiền
bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh nhưng không tán thành con đường cứu
nước của họ nên Người đã quyết định tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc.
Người quyết định sang phương Tây, đến nước Pháp để tìm hiểu xem nước Pháp
và các nước khác làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào mình. Giáo viên có thể
sử dụng một đoạn trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế
Lan Viên để nhấn mạnh về hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ.
15


“Hiểu sao hết “Người đi tìm hình của Nước”
Không phải hình một bài thơ đã tạc nên người
Một góc quê hương nửa đời quen thuộc
Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi
Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất
Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai
Thế đi đứng của toàn dân tộc
Một cách vinh hoa cho hai mươi lăm triệu con người”
“Người đi tìm hình của nước” – Chế Lan Viên
Ngoài ra tài liệu văn học được sử dụng để tổ chức những buổi hoạt động
ngoại khóa cho môn lịch sử và cách dễ thực hiện, đạt hiệu quả cao là đọc sách,
nhằm cung cấp thêm kiến thức và phát triển tư duy cho học sinh. Muốn đưa tài
liệu văn học vào dạy lịch sử, trong hoạt động ngoại khóa có hiệu quả thì giáo
viên phải giúp học sinh lập danh mục sách cần đọc, nêu một số tác phẩm truyện
hoặc thơ có liên quan để học sinh tìm dễ dàng. Giáo viên có thể khơi dậy tính
hiếu kì và lòng ham hiểu biết của học sinh bằng cách tóm tắt sơ lược nội dung
trong sách, kể một vài chi tiết, những đoạn nhỏ trong sách để kích thích học sinh
tiếp tục đọc để tìm hiểu
2.5. Kết quả đạt được

văn học trong bài học lịch
sử

Đa số học sinh hứng thú trong Học sinh chưa được hứng thú
giờ học lịch sử.
trong giờ học

Mức độ tiếp thu Học sinh hiểu bài nhanh hơn ,
kiến thức
nắm vững kiến thức, hiểu biết
sự kiên lịc sử sâu sắc.

Học sinh tiếp thu kiến thức
của bài còn chậm, thụ động,
hiểu kiến thức bài học còn sơ
sài, qua loa

Kĩ năng thực
hành, vận dụng
kiến thức để
làm bài tập

Học sinh linh hoạt, biết vận
dụng kiến thức để phân tích
sự kiện, nhân vật lịch sử, bài
làn có chiều sâu.

Học sinh chủ yếu học thuộc
lòng, ghi nhớ các sự kiện một
cách máy móc



đẹp chính xác phù hợp với nội dung bài dạy.
Giáo viên cần nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, thường xuyên nghiên cứu
thêm tài liệu tham khảo để cung cấp thêm thông tin và kiến thức ở mỗi bài học.
kết hợp các phương tiện dạy học khác nhau như đồ dùng trực quan, hình ảnh,
tranh vẽ, hệ thống thao tác sư phạm khi lên lớp.. để góp phần phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh trong mỗi tiết học, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Giáo viên phải biết hướng dẫn tổ chức cho học sinh tự mình khám phá
kiến thức mới, dạy cho học sinh không chỉ có kiến thức mà cả phương pháp học
trong đó, cốt lõi là tự học. Chính trong các hoạt động tự lực được giao cho từng
cá nhân hoặc nhóm nhỏ tiềm năng sáng tạo của mỗi học sinh được bộc lộ và
phát huy, Giáo viên phải biết luyện tập cho các em có thói quen nhìn nhận sự
kiện dưới những góc độ khác, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi lí giải một hiện
tượng. Biết đề xuất những giải pháp khác nhau khi xử lí một tình huống. Phải
giáo dục cho học sinh không vội vã bằng lòng với giải pháp đầu tiên được nêu
ra, không suy nghĩ cứng nhắc theo những qui tắc đã học trước đó, không máy
móc áp dụng những mô hình hành động đã gặp trong các bài học, trong sách vở
để ứng xử trước những tình huống mới.
Người giáo viên lịch sử cần bồi dưỡng năng khiếu vẽ bản đồ, lược đồ
khoa học chính xác, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm thu hút sự
chú của học sinh làm cho học sinh yêu thích môn học.

18


3. Kết luận
3.1. Kết luận
Tài liệu văn học được vận dụng trong các tiết dạy sẽ giúp học sinh đạt
được kết quả cao nhất về các mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, giúp học


1.

Mở đầu........................................................................................

1.1

Lý do chọn đề tài................................................................................

1.2

Mục đích nghiên cứu.........................................................................

1.3

Đối tượng nghiên cứu của đề tài.........................................................

1.4

Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….

2.

Nội dung sáng kiến kinh nghiệm......................................................

2.1.

Cơ sở lí luận của Sáng kiến………………………………………….

2.2.

2.4.2.2
2.4.2.3
2.4.2.4
2.4.2.5
2.4.2.6
2.5.

Kết quả đạt được…………

2.6.

Bài học kinh nghiệm……………..

3.

Kết luận và kiến nghị ……………………………………………..

3.1

Kết luận……………………………………………………………..

3.2

Kiến nghị…………………………………………………………….

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, bài tập lịch sử 11– Nhà xuất bản Giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status