Đề cương ôn tập: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Câu 1: Phân tích sự khác nhau giữa hai loại hình văn hóa gốc và lý giải nguyên nhân:
- Mỗi quốc gia, dân tộc đều có nền văn hóa riêng của mình, đó là tiêu chí quan trọng để phân biệt
dân tộc này với dân tộc khác. Tuy nhiên, các nền văn hóa của mỗi dân tộc dù phong phú, đa dạng
đến mấy cũng đều có nguồn gốc xuất phát từ 1 trong 2 loại hình văn hóa: văn hóa gốc chăn nuôi du
mục và văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt
Văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt
(phương Đông)
Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, sông ngòi
Cơ sở
chằng chịt, đồng bằng phì nhiêu màu mỡ
hình
thích hợp cho nông nghiệp trồng trọt phát
thành
triển.
=> Văn hóa nông nghiệp trồng trọt (đặc biệt
là trồng lúa nước) nên đồ ăn là thực vật
Nghề trồng trọt buộc con người sống định
cư, nhà cửa ổn định, vì vậy nên không thích
di chuyển => Trọng tĩnh
Vì nghề trồng trọt phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên nên cư dân rất tôn thờ, gắn bó, sùng
bái tự nhiên, mong muốn hòa hợp với thiên
nhiên.
Cuộc sống định cư tạo nên tính cộng đồng
cao.
Tiêu
chí
Đặc
điểm
ứng xử theo nguyên tắc
=> Thói quen tôn trọng pháp luật vì vậy mà
hình thành rất sớm ở phương tây
Thiên về thơ, nhạc trữ tình, thiên văn, triết Thiên về khoa học tự nhiên, kỷ thuật và văn
học… Tâm linh và tôn giáo, thiên về văn minh thành thị
hóa nông thôn
Cuộc sống định cư, trồng trọt là chính và Vì cuộc sống du mục cư nên cần đến sức
tính cố kết cộng đồng đã hình thành lối sống mạnh và bàn lĩnh đàn ông nên người đàn ông
1
HS41UL
trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ
có vai trò quan trọng, hình thành lối sống
trọng tài, trọng võ, trọng nam giới.
Tóm lại, do những đặc trưng về điều kiện khí hậu, tự nhiên đã hình thành nên những phương
thức sản xuất khác nhau, từ đó quy định các loại hình văn hóa khác nhau.
Câu 2: Chứng minh văn hóa VN thuộc loại hình VH gốc nông nghiệp
- Vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía Đông-Nam Châu Á, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, có nhiều
sông lớn và nhiều đồng bằng phù sa màu mỡ nên VN là nơi rất thích hợp để phát triển nên nông
nghiệp lúa nước. Do đó, văn hóa VN thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển
hình và tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt đều được thể
hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa VN
- Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trong cách ứng xử với tự nhiên, do nghề
trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, đơm hoa, kết trái và thu
hoạch, từ đó ưa thích lối sống ổn định, cho rằng “An cư lạc nghiệp”. Do sống phụ thuộc vào
thiên nhiên nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng, sùng bái và ước vọng sống hòa hợp với
-
-
Sống theo tình cảm nên mọi người biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau. Lối
sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng cộng đồng, coi trọng tập thể.
Làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể sau lưng, xem nhẹ vai trò cá nhân: Bán anh
em xa mua láng giềng gần
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn quy định
thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở VN không những không có chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn
giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược người VN luôn hết sức
mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng
trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư duy, lối ứng
xử của người Việt truyền thống.
Câu 3: Khả năng của người Việt trong việc tận dụng và ứng phó với môi trường tự nhiên thể
hiện ở lĩnh vực VH vật chất.
Văn hóa sản xuất VC là quá trình cải tạo và chinh phục tự nhiên, chinh phục đầm lầy, lấn
biển đắp đê chống lũ tại thành những vùng đồng bằng châu thổ chuyên canh lúa nước một cách
ổn định
Trong VH sản xuất VC, người Việt đã biết tận dụng và ứng phó với môi trường tự nhiên. Từ
điều kiện tự nhiên nóng ẩm mưa nhiều...thuận lợi phát triển trồng lúa nước và giữ vai trò chủ
đạo, chi phối toàn bộ nền kinh tế của xh VN truyền thống. Quá trình cải tạo và chinh phục đầm
lầy, lấn biển, đắp đê chống lụt.., đã trở thành những đồng bằng màu mỡ chuyên canh lúa nước.
Ngoài ra, tận dụng ĐKTN thuận lợi, người Việt còn trồng nhiều loại cây, chăn nuôi nhiều loại
gia súc, gia cầm, các nguồn lợi thủy hải sản.
A. Trong VH ẩm thực:
*Cơ cấu bữa ăn
- Có hai yếu tố chi phối đến văn hóa ẩm thực của người Việt đó là tính sông nước và thực vật.
sự cân bằng giữa con người với môi trường tự nhiên
- Thể hiện trong dụng cụ ăn là đôi đũa. Đôi đũa có thể dùng một cách linh hoạt với nhiều chức
năng khác nhau. Tập quán dùng đũa lâu đời làm hình thành nên nhiều triết lý như tính cặp
đôi (Vợ chồng như đũa có đôi), tính cân xứng (Vợ dại không hại bằng đũa vênh), tính tập thể
(Vơ đũa cả nắm)
B. Trong VH trang phục:
* Quan niệm về mặc
- Chú trọng tính bền chắc.(Ăn chắc, mặc bền)
- Thích trang phục kín đáo, giản dị.
- Ưa các màu sắc âm tính: nâu, đen, chàm…phù hợp với môi trường sông nước, với công việc
lao động “chân lấm tay bùn”. Các màu sắc dương tính (đỏ, vàng..) chỉ mặc vào dịp lễ hội.
- Người Việt rất có ý thức về việc làm đẹp (Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân).
* Chất liệu may mặc: Người Việt thường sử dụng các chất liệu có sẵn trong tự nhiên, mỏng,
nhẹ và có nguồn gốc từ thực vật, mang đậm dấu ấn nông nghiệp trồng trọt, sống ở xứ nóng nên
chất liệu mỏng, nhẹ, thoáng mát như: tơ tằm,sợi bông, sợi đay, sợi gai…
* Kiểu trang phục truyền thống của người Việt:
- Trang phục truyền thống của phụ nữ thời phong kiến gồm: váy, yếm, áo tứ thân, quần lĩnh,
khăn chít đầu, thắt lưng. Trong đó chiếc váy được bảo tồn như là một trong những nét bản
sắc văn hóa dân tộc để phân biệt với trang phục người Tàu.
✓ Trong các dịp lễ hội, phụ nữ mặc áo dài (tứ thân hoặc năm thân với nhiều màu sắc)
✓ Màu sắc trang phục truyền thống của người Việt là màu nâu (màu đất) và màu đen (màu
bùn). Điều đó cũng phản ánh phong cách truyền thống của người VN là ưa sự kín đaó,
giản dị, đồng thời cũng thể hiện sự thích nghi với môi trường sống và sinh hoạt của nghề
nông trồng lúa nước.
✓ Ngoài ra chiếc nón lá cũng là một bộ phận kèm theo không thể thiếu trong trang phục của
phụ nữ VN truyền thống. Nón có vành rộng và có mái dốc do đặc thù khí hậu nắng lắm
mưa nhiều.
- Trang phục truyền thống của nam giới thường ngày là áo cánh, quần lá tọa phù hợp với khí
hậu nóng bức và công việc đồng áng. Ngày lễ tết, lễ hội thì đội khăn xếp, mặc áo the, quần
ống sớ.
kinh tế tự cung tự cấp nên hạn chế nhu cầu trao đổi, mua bán giữa các vùng và do sông ngòi
dày đặc. Do đó, chỉ mới có những con đường nhỏ, cư dân chủ yếu là đi bộ, vận chuyển nhờ
ngựa, voi, trâu; quan lại đi bằng cáng, kiệu
- Giao thông đường thủy:
✓ Chiếm ưu thế do địa hình nhiều sông ngòi, bờ biển kéo dài từ Bắc chí Nam nên người
Việt đi lại chủ yếu bằng thuyền, ghe, xuồng, đò...
✓ Vì đường thủy chiếm ưu thế nên phần lớn đô thị là các cảng sông, cảng biển (Vân Đồn,
Thăng Long, Phố Hiến...)
✓ Cuộc sống sinh hoạt gắn liền với sông nước nên hình ảnh dòng sông, con đò đã ăn sâu
vào trong tư duy, trong cách nghĩ (Thuyền theo lái, gái theo chồng; Thuyền về có nhớ bến
chăng...)
✓ Ngay khi đi trên bộ, người Việt vẫn nói theo cách của người đi trên sông nước: lặn lội,
quá giang, xe đò...
Tóm lại, ăn, mặc, ở, đi lại là nhu cầu cần thiết của con người, đồng thời cũng thể hiện
sự ứng xử văn hóa của con người với môi trường tự nhiên. Thể hiện rõ nét dấu ấn loại
hình văn hóa nông nghiệp trồng trọt, đồng thời thể hiện khả năng tận dụng, thích nghi và
ứng phó linh hoạt với môi trường sông nước và xứ sở thực vật.
Câu 4: Phân tích thái độ ứng xử văn hóa của người Việt với môi trường xã hội thể hiện ở lĩnh
vực văn hóa vật chất
Người Việt coi trọng nông nghiệp, chính sách khuyến nông tích cực, khuyến khích khai
hoang, mở rộng diện tích canh tác, bảo vệ sức kéo trong văn hóa sản xuất vật chất.
A. Trong VH ẩm thực:
* Tính linh hoạt
- Thể hiện ở việc ăn uống theo mùa, theo vùng miền phù hợp với môi trường tự nhiên → biểu
hiện của lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiên, với nền kinh tế tiểu nông tự cung tự
5
HS41UL
-
✓ Trong các dịp lễ hội, phụ nữ mặc áo dài (tứ thân hoặc năm thân với nhiều màu sắc)
✓ Màu sắc trang phục truyền thống của người Việt là màu nâu (màu đất) và màu đen (màu
bùn). Điều đó cũng phản ánh phong cách truyền thống của người VN là ưa sự kín đaó,
giản dị, đồng thời cũng thể hiện sự thích nghi với môi trường sống và sinh hoạt của nghề
nông trồng lúa nước.
✓ Ngoài ra chiếc nón lá cũng là một bộ phận kèm theo không thể thiếu trong trang phục của
phụ nữ VN truyền thống. Nón có vành rộng và có mái dốc do đặc thù khí hậu nắng lắm
mưa nhiều
- Trang phục truyền thống của nam giới thường ngày là áo cánh, quần lá tọa phù hợp với khí
hậu nóng bức và công việc đồng áng. Ngày lễ tết, lễ hội thì đội khăn xếp, mặc áo the, quần
ống sớ.
Trong sự ứng xử với môi trường xã hội, trang phục của người Việt thể hiện
quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp kín đáo, giản dị.
C. Văn hóa ở
- Ngôi nhà là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho cuộc sống định cư ổn định (An
6
HS41UL
-
cư lạc nghiệp).
Kiến trúc nhà của người Việt mang tính cộng đồng. Nếu như kiểu kiến trúc nhà phương Tây
được chia thành nhiều phòng biệt lập thì nhà Việt truyền thống là 1 không gian sinh hoạt
cộng đồng giữa các thành viên trong gia đình, các gian nhà thường để thông nhau, không có
vách ngăn. Ranh giới giữa các nhà hàng xóm cũng thường chỉ được ngăn cách tượng trưng
bằng một hàng cây (râm bụt, ruối, mồng tơi..) được xén thấp để dễ qua lại
D. Văn hóa đi lại
- Giao thông đường bộ kém phát triển vì lối sống định cư nên cư ân ít có nhu cầu đi lại, do nền
✓ Tứ tượng lại phối hợp với nhau để tạo thành 8 tổ hợp mới gọi là bát quái: càn – khôn khảm – ly – đoài – cấn - chấn - tốn.
✓ Bát quái lại tiếp tục vs nhau để tạo thành 64 quẻ, tượng trưng cho các trạng thái, tình
huống thường gặp trong thế giới tự nhiên và cuộc sống con người.
→ Như vậy, do có sự giao hòa giữa các mặt đối lập (âm – dương) trong vũ trụ và con người
7
HS41UL
nên mới tạo ra những sự vật mới.
b) Đặc tính
- Vận dụng hai cập đối lập âm – dương gốc là đất – trời, mẹ - cha, người xưa đã suy ra các đặc
tính trội của âm dương trong tương quan với nhau là:
✓ Âm: thấp, lạnh, tối, mềm dẻo, chậm, hướng nội…
✓ Dương: cao, nóng, sáng, cứng rắn, hướng ngoại…
- Ứng dụng các đặc tính trên vào việc xem xét các sự vật và hiện tượng người xưa cũng suy ra
vô số những cập đối lllap65 âm – dương khác nhau:
✓ Về con người, động vật: nam – nữ, đực – cái, mạnh – yếu…
✓ Về thời gian: sáng – tối, ngày – đêm…
✓ Về không gian: lửa – nước…
c) Biểu tượng âm dương
- Biểu tượng âm – dương được thể hiện trong một hình tròn kín, có hai phần uốn lượn chia
vòng tròn làm hai phần bằng nhau với hai màu đối nghịch: đen – trắng. Phần trắng biểu
tượng cho dương, phần đen biểu tượng cho âm. Trong phần trắng (dương) có một chấm đen
(âm) và ngược lại.
- Biểu tượng này nói lên rằng: âm và dương tồn tại trong nhau không thể tách rời. Trong âm có
dương trong dương có âm.
d) Qui luật tương tác âm dương
- Âm - dương đối nghịch nhưng lại giao hòa với nhau, dựa vào nhau và là nguồn gốc của nhau.
Không có âm dương không thể tồn tại và ngược lại.
- Âm – dương chuyển hóa: âm có thể chuyển hóa thành dương và ngược lại. Cái này yếu đi thì
Triết lý về sự cân xứng, cặp đôi: Trong tâm thức của người Việt, âm – dương luôn luôn tồn
tại trong sự cập đôi, tương xứng. Chỉ khi tồn tại trong sự cặp đôi, tương xứng thì sự vật mới
hoàn thiện, trọn vẹn, bền vững, hợp qui luật. Trong thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói hàng
ngày thường sử dụng các cập âm dương như: ông – bà, cha - mẹ, trời – đất…
-
Triết lý sống bình quân, hài hòa âm dương (Già néo đứt dây; Đầy quá sẽ đổ…)
✓ Người Việt quan niệm trạng thái tồn tại tối ưu của mọi sự vật, từ tự nhiên đên xã hội là sự
cân bằng, hài hòa âm dương. Chỉ khi tồn tại trong trạng thái này, sự vật mới ổn định, bền
vũng, không bị biến đổi sang trạng thái khác. Từ đó người Việt sống theo triết lý sống
bình quân từ việc ăn uống, làm nhà, cho đến việc ứng xử với người khác hài hòa không
làm mất lòng ai.
✓ Triết lý sống bình quân cũng khiến cho người Việt thường tự bằng lòng, an phận với
những gì mình đang có, không hiếu thằng, tham lam.
-
Triết lý sống lạc quan (Trong rủi có may, trong họa có phúc; Khổ trước sướng sau…)
✓ Nhận thức được quy luật bù trừ âm – dương, vận dụng vào cuộc sống người Việt thường
có cái nhìn bình tĩnh, lạc quan trước mọi sự biến: trong rủi có may, trong họa có phúc.
✓ Nhận thức được quy luật chuyển hóa âm – dương người Việt có cái nhìn biện chứng về
cuộc sống: không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời… Tuy nhiên nếu lạc quan thái quá sẽ
dẫn đến thái độ tiêc cực: tự bằng lòng với cuộc sống hiện tại, phó mặc cho số phận,
không nỗ lực, cố gắng hết mình.
Ngoài ra, thuyết âm dương, ngũ hành còn ảnh hưởng đến nhiều phương diện đời sống
văn hóa tinh thần người Việt như:
✓ Chi phối các hành động thực tiễn: Tính toàn diện (hai mặt), Tính vận động, biến đổi (lịch
sử, cụ thể), Tính quan hệ (tương tác lẫn nhau).
✓ Ứng dụng trong đời sống văn hóa tâm linh: Dùng thuyết Âm dương- Ngũ hành để coi tử
✓ Diệt Đế: nói về diệt trừ nỗi khổ
✓ Đạo Đế: nói về con đường, phương pháp diệt trừ nỗi khổ
- Đạo Phật lý giải nguyên nhân gây nên mọi đau khổ là do con người có quá nhiều ham muốn,
làm cho tâm hồn bất ổn, chao đảo khó lường. Đó là những bản năng xấu của con người, nếu
không tu luyện theo lời dạy của Đức Phật sẽ bị trừng phạt bởi “Luân hồi”, “Nhân quả”, “Quả
báo”. Từ đó Phật lấy Tâm làm gốc, khi nào tu được tâm sẽ đạt đến “Giác ngộ” khi đó con
người sẽ được “Giải thoát” đạt tới cõi “Niết bàn” - cái đích cuối cùng của hạnh phúc thật sự
và bền vững.
c) Tính tổng hợp
- Tính tổng hợp là một trong những đặc điểm của lối tư duy nông nghiệp, bởi vậy, tính tổng
hợp cũng chi phối đến thái độ ứng xử với Phật giáo của người Việt, làm nên sắc thái riêng
của Phật giáo VN.
- Biểu hiện:
✓ Dung hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng và truyền thống văn hóa bản địa:
• Dung hợp với tín ngưỡng sùng bài tự nhiên (Các vị thần mây, mưa, sấm, chớp đã được
Phật hóa thành Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện).
• Dung hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu, Phật giáo VN có khuynh hường thiêng về nữ tính:
Phật giáo VN có rất nhiều Phật bà (khác với Phật giáo nguyên thủy Ấn Độ là đàn ông). Ở
nhiều nơi trên đất nước ta cũng có nhiều ngôi chùa mang tên các bà: chùa Bà Dâu, chùa
bà Đen…
• Dung hợp giữa việc thờ Phật với việc thờ các vị Thần, Thánh, Mẫu, Thành Hoàng, Thổ
Địa, các anh hung dân tộc: kiến trúc phổ biến của chùa VN là tiền Phật hậu Thần.
✓ Dung hợp giữa các tông phái Phật giáo:
• Đây là một nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật giáo VN so với các quốc gia Phật giáo
làng giềng. Phật giáo VN có sự dung hòa và điều hợp giữa cả Nam Tông và Bắc Tông.
• Trong tông phái đại thừa cũng có sự kết hợp giữa Thiền tông với Mật tông, Thiền tông
kết hợp với Tịnh Độ tông.
✓ Dung hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác:
• Thời Đại Việt, Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo cùng tồn tại trong sự dung hợp và bổ
sung cho nhau để cùng hướng về một mục đích vì cuộc sống tốt đẹp cho con người. Đó
năm, Nho giáo chưa có được chỗ đứng trong cư dân Việt. Sang thời Đại Việt, Nho giáo là nội
dung chủ yếu được giảng dạy trong nhà trường nên càng được phổ biến rộng rãi. Từ đó Nho
giáo chiếm lĩnh dần luôn cả lĩnh vực chính trị và tư tưởng.
* Đặc điểm của Nho giáo VN (Ứng xử đối với Nho giáo)
- Nếu Nho giáo Trung Hoa đặc biệt coi trọng tư tưởng trung quân, quyền lực của nhà vua được
đề cao tuyệt đối, thì Nho giáo VN tuy vẫn đề cao tư tưởng này nhưng không cực đoan đến
mức đòi hỏi phải hy sinh tính mạng vì vua. Mặc khác, quan niệm trung quân ở VN luôn gắn
liền với ái quốc. Và trong nhiều trường hợp, nước được đề cao hơn vua. Người Việt đề cao
tinh thần yêu nước, thương dân, lấy dân làm gốc
- Các khái niệm cơ bản của Nho giáo như nhân, nghĩa cũng đã bị khúc xạ qua lăng kính của
người Việt. Theo đó nó không chỉ là một khía niệm đạo đức hạn hẹp trong ứng xử cá nhân
mà còn trở thành một lý tưởng xã hội cao đẹp đó là vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của
nhân dân (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân)
- Tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo khi vào VN cũng bị làm cho nhẹ bớt đi bởi
truyền thống trọng phụ nữ vốn có trong văn hóa bản địa.
- Đến thời kì Trịnh – Nguyễn phân tranh, nho giáo VN đi vào giai đoạn suy vong không thể
cứu vãn được nữa. Dù các vua nhà Nguyễn đã tìm mọi cách để củng cố địa vị của Nho giáo
nhưng vẫn không thể làm cho Nho giáo có được vị thế như nó đã từng có ở TK XV.
- Trong gần mười TK xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến, Nho giáo đã trở thành
nền tảng tư tưởng chi phối đến mọi mặt của đời sống xã hội VN, được biểu hiện trên
11
HS41UL
các lĩnh vực (vai trò của Nho giáo)
✓ Làm nền tảng tư tưởng chính trị để tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ sở pháp lý để quản lý,
duy trì sự ổn định của xã hội dựa trên mối quan hệ cộng đồng xã hội và gia đình theo
quan niệm Tam cương, Ngũ thường.
✓ Là nền tảng đạo đức để củng cố các mối quan hệ gia đình – xã hội theo thứ bậc, kỷ cương
của giáo lý Nho giáo. Qua đó đã xác lập các chuẩn mực đạo đức để xây dựng mô hình
Câu 8: Mối liên hệ giữa gia đình - làng - nước
Nhà- Làng- Nước là ba thực thể xã hội với ba cấp độ khác nhau về không gian kinh tế- xã
hội nhưng lại có mối liên quan, liên kết chặt chẽ. Sự thống nhất giữa Nhà- Làng- Nước đã tạo
nên một sức mạnh lớn đưa đất nước Việt Nam vượt qua biết bao thăng trầm của thời đại, vẫn
đứng vững sau nhiều cuộc xâm lược của những kẻ thù mạnh như: phong kiến phương Bắc, rồi
đến thực dân Pháp và đế quốc Mĩ...Ở Việt Nam, mối quan hệ Nhà- Làng- Nước là mối quan hệ
hữu cơ, máu thịt. Có làng mới có nước. Nước hình thành trên cơ sở làng. Mọi người đều gắn bó
12
HS41UL
với làng, với nước. Xây dựng bảo vệ làng là xây dựng bảo vệ nước. Ngược lại, chống lại làng là
chống lại nước. Không có ai yêu nước mà không yêu làng. Mối quan hệ Làng- Nước bền chặt
như vậy nên trong lịch sử đã có lúc mất nước nhưng không mất làng. Chúng ta có thể thấy thể
liên kết cộng đồng Việt Nam chủ yếu theo ba cấp cộng đồng theo trục dọc: Nhà - Làng - Nước.
Nhà = Gia đình là tế bào của xã hội. Làng là cộng đồng kết hợp quan hệ láng giềng (xóm làng)
với quan hệ huyết thống (họ), mang tính tự quản cao. Nước là quốc gia dân tộc. Năm 1804 vua
Gia Long cũng nhận thức sâu sắc sự liên kết cộng đồng làng và nước khi nói: "Nước là họp các
làng mà thành. Từ làng mà đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước".
*Mối liên kết về kinh tế.
- Gia đình Việt Nam truyền thống chủ yếu lấy kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước làm nghề
nghiệp chính. Do yêu cầu cần phải hợp tác nên đã dẫn đến sự hình thành làng xã và ở mức độ
cao hơn là sự hình thành nhà nước như một biểu hiện cao nhất của sự hợp tác này. Mối liên
kết Nhà- Làng- Nước về kinh tế thể hiện qua nền kinh tế tiểu nông. Kinh tế đất nước hay
kinh tế trong phạm vi làng xã đều lấy kinh tế hộ gia đình làm cơ sở.
- Khi kinh tế hộ gia đình phát triển, ổn định thì kinh tế làng xã hay kinh tế đất nước phát triển,
ngược lại khi kinh tế hộ gia đình kém phát triển hay suy yếu thì kinh tế đất nước cũng gặp
nhiều khó khăn. Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, sức mạnh của
làng xã hay Nhà nước đều phải dựa vào nông dân. Đồng thời mỗi nhà muốn phát triển kinh
tế đều phải nhờ vào cộng đồng làng xã và nhà nước. Nghề nông trồng lúa nước bắt buộc
- Tuy nhiên, giữa làng xã và nhà nước có mối liên kết vô cùng chặt chẽ, chính mối liên
kết này là nhân tố dẫn đến sự hình thành nhà nước VN trong lịch sử. Nhà nước VN trong
thời phong kiến có thể gọi là hình thức siêu làng. Trong tâm thức của người Việt Nam
làng bao giờ cũng gắn với nước và ngược lại. Do đó mà trong lịch sử các đơn vị trung
gian giữa làng và nước thì luôn luôn thay đổi còn tổ chức của làng thì vẫn luôn được giữ
nguyên. Hương ước tạo nên tính tự trị của làng xã. Nhưng mặt khác chính nội dung
hương ước cũng có các điều khoản quy định nghĩa vụ của làng xã với nhà nước. Như vậy
từ lệ làng ý thức cộng đồng làng xã đã phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc. Với tiến
trình lịch sử ấy ý thức ấy sẽ càng thêm sâu đậm, thể hiện tinh thần làm chủ đất nước của
tổ tiên ta. Chính hương ước sẽ làm cho nhà nước và làng xã gắn bó với nhau hơn trong
công cuộc gìn làng giữ nước. Từ đó làng xã là đơn vị bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, là
cơ sở của xã hội Việt Nam. Lòng yêu nước cũng từ đó mà ra. Cuộc sống lao động gian
khổ đã tạo ra truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và kiên nhẫn, yêu cầu phải liên kết
lại để đấu tranh với những khó khăn, thách thức đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với
thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng họ của
người Việt cũng như trong cộng đồng Nhà- Làng- Nước- Dân tộc. Đối với con người VN
trong lịch sử cũng như hiện đại, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội hết sức khăng khít
trong một hệ thống bền chặt Nhà - Làng - Nước. Điều này được biểu hiện rất rõ ở tính
cộng đồng:
" Bầu ơi! Thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"
Câu 9: Nghệ thuật Việt Nam truyền thống:
* Các loại hình nghệ thuật truyền thống:
a. Văn chương truyền thống Việt Nam: Sự xuất hiện của văn học viết là 1 bước phát triển quan
trọng của nền văn hóa, đánh dấu sự ra đời của nền văn hóa bác học. Đặc điểm:
- Hai dòng văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm cùng song song phát triển:
✓ Văn học viết bằng chữ Hán: thời Lý - Trần có trên 110 tác giả, đa số là các nhà sư, nho sĩ
viết về triết học và giáo lý. Sang thời nhà Lê, Nguyễn Trãi đã để lại nhiều tác phẩm có giá
trị sâu sắc về lòng yêu nước, lòng tự hào và khi phách dân tộc.
✓ Văn học viết bằng chữ Nôm: Thời Lê, sự ra đời của tập thơ Quốc Âm thi tập và Hồng
d. Nghệ thuật sân khấu truyền thống: Các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đặc thù:
Chèo, múa rối nước (Bắc bộ), Tuồng (Trung bộ), Cải lương (Nam bộ). Ngoài ra còn có các làn
điệu dân ca truyền thống đặc trưng của mỗi vùng miền.
* Đặc điểm của nghệ thuật truyền thống:
-
-
Tính tổng hợp:
✓ Không có sự tách biệt giữa các loại hình ca – múa – nhạc, tất cả đều có mặt trong một vở
diễn sân khấu (chèo, tuồng, cải lương)
✓ Các tác phẩm nghệ thuật sân khấu là sự kết hợp giữa bi và hài đan xen.
✓ Trong âm nhạc, đàn bầu chỉ có một dây nhưng lại có thể phát ra đủ mọi âm thanh, cung
bậc khác nhau.
Tính biểu cảm:
✓ Âm nhạc thường mang giai điệu trữ tình, sâu lắng, tốc độ chậm, âm sắc trầm, chú trọng
luyến láy, nội dung thường là đề tài quê hương, tình yêu đôi lứa...đặc biệt đàn bầu là một
loại nhạc cụ riêng đặc biệt của VN rất thích hợp thể hiện tâm trạng cảm xúc buồn, sâu
lắng.
✓ Vũ kịch thường dùng những động tác tay mềm dẻo, uyển chuyển, không có các động tác
chân mạnh như nhảy cao, nhảy dài như múa phương Tây
✓ Trong nghệ thuật sân khấu (chèo, tuồng, cải lương) dùng ánh mắt, cử chỉ để biểu lộ cảm
xúc
✓ Trong hội họa và điêu khắc, đề tài chủ yếu là phản ánh cuộc sống êm đềm, vui vẻ, hạnh
phúc ở làng quê
Câu 10: Giao tiếp và ứng xử trong văn hóa truyền thống:
* Người Việt coi trọng giao tiếp: do nền văn hóa nông nghiệp sống quần cư, sự gắn kết cộng
đồng cao nên người Việt coi trọng và thích việc giao tiếp:
- Chào hỏi được xem như là một ứng xử văn hóa quan trọng (Lời chào cao hơn mâm cổ)
ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo…
* Văn hóa ngôn từ trong giao tiếp:
- Lời nói mang tính ước lệ, biểu trưng cao: không nói trực tiếp, cụ thể vào điều cần nói mà nói
bóng gió bằng hình ảnh ví von, ẩn dụ, tạo nên tính đa nghĩa, có thể vận dụng linh hoạt vào
nhiều văn cảnh giao tiếp khác nhau (Trăm sau đổ một đầu tằm; Tưởng giếng nước sâu nối
sợi gàu dài, ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây..)
- Trong tục ngữ, thành ngữ, lời ăn tiếng nói hàng ngày hay dùng câu nói có 2 vế đối ứng trong
quan hệ so sánh, tương phản, tạo tiết tấu vần điệu cho lời nói (Trèo cao ngã đau; Ông nói gà
bà nói vịt...)
Câu 11: Phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi cấu trúc VH VN từ truyền thống
sang hiện đại
1. Giao lưu văn hóa Việt – Hán (từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ X): Sự du nhập với rất nhiều
yếu tố văn hóa của Trung Hoa nổi trội là tư tưởng nho giáo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội về phong tục, nề nếp, thể chế chính trị và đạo đức. Văn hóa bản địa cùng với sự du nhập
của các yếu tố mới của nền văn hóa ngoại sinh đã định hình cho nền văn hóa truyền thống.
2. Tiếp xúc văn hóa Pháp - bước khởi đầu (1858 - 1954)
Lịch - 1858, Pháp nổ súng xâm lược VN, sau đó chúng lần lượt đánh chiếm Nam bộ rồi đánh ra
sử xã Bắc Bộ
hội: - 1883, nhà Nguyễn thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên toàn lãnh thổ VN
- Qua 2 cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, xã hội VN có những thay đổi mang tính bước
ngoặt.
Đặc Văn - Với mục đích khai thác tài nguyên, Pháp chú trọng phát triển đô thị, công nghiệp và
điểm hóa giao thông:
16
HS41UL
văn
hóa:
+ Tư tưởng Nho giáo: bị khủng hoảng, phân hóa và mất dần vai trò
tồn tại và
độc tôn
xuất hiện
Nhà Nho cố hữu: trung thành với nền văn hóa giáo dục cũ, bất lực
cùng lúc
trước biến đổi của xã hội
nhiều hệ tư
Nhà Nho tức thời: đầu hàng Pháp, tiếp nhận yếu tố văn hóa và giáo
tưởng khác
dục Pháp để làm quan cho chính quyền thực dân
nhau, tác
Nhà Nho tân tiến: tiếp nhận các luồng văn hóa phương Tây, chủ
động và ảnh trương cải cách văn hóa, qua đó làm nền tảng đấu trang GPDT. Nổi bật
hưởng lẫn
là phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
nhau:
+ Tư tưởng dân chủ tư sản: hoàn toàn đối lập với tư tưởng tiểu nông
và tư tưởng Nho giáo. Tư tưởng này phát triển rất mạnh giai đoạn này,
là tư tưởng của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản và trí thức Tây học
Ý thức về vai trò cá nhân được nâng cao >< ý thức cộng đồng của
làng xã
Đề cao văn minh vật chất >< đề cao giá trị tinh thần của Nho giáo,
cư dân nông nghiệp
Đề cao tri thức khoa học và lối tư duy phân tích, coi trọng
KHKT >< truyền thống coi trọng kinh nghiệm chủ quan cảm tính và tư
duy tổng hợp biện chứng
+ Nghệ thuật: các loại hình được chuyên môn hóa, du nhập thêm nhiều
loại hình mới như kiến trúc, kịch nói, điện ảnh...
--> Sự phát triển của nghệ thuật và văn học đã làm thay đổi cả hệ
thống quan điểm thẩm mỹ, làm biến đổi thế giới tinh thần và diện mạo
văn hóa VN
+ Bãi bỏ mô hình giáo dục Nho giáo, mở trường Tây học
+ Một số trường cao đẳng, đại học, kĩ nghệ ra đời
+ Một số cơ sở nghiên cứu khoa học ra đời --> KH-KT dần trở thành
tri thức chiếm ưu thế, tạo tiền đề cho nền khoa học VN và sự hình
thành tầng lớp trí thức mới.
Nhận xét:
- Văn hóa VN đã trải qua “sự đứt gãy lịch sử” chưa từng có với sự thay đổi toàn diện bộ mặt
văn hóa xã hội từ thành thị đến nông thôn, từ văn minh lúa nước sang văn minh nông nghiệp,
từ chữ Hán, chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, từ tư tưởng Nho giáo sang tưu tưởng dân chủ tư
sản...tất cả đều hướng về hội nhập với phương Tây
- Trải qua bước ngoặt này, bản sắc dân tộc không những không bị mất đi mà còn linh hoạt, thu
nạp những yếu tố văn hóa ngoại sinh, góp phần làm giàu có thêm nền văn hóa dân tộc, hội
nhập văn hóa thế giới.
3. Tiếp xúc với văn hóa Mỹ (1954 - 1975)
- Cuộc tiếp cúc và giao lưu văn hóa Mỹ ở miền Nam là hệ quả tất yếu của cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ. Nền kinh tế, văn hóa, xã hội miền Nam phát triển theo con đường TBCN
- Tích cực: Nền kinh tế hàng hóa phát triển, lối sống năng động, cởi mở, dễ hóa nhập, phát huy
khả năng sáng tạo cá nhân
- Tiêu cực: Coi trọng văn minh vật chất, lối sống thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân và lối
sống tự do, phóng túng
4. Giao lưu văn hóa với Liên Xô và các nước Đông Âu (1954 – 1991)
- Diễn ra ở miền Bắc với tính chất chủ động theo định hướng XHCN thông qua hợp tác, giúp
đỡ, trao đổi kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học (gửi sinh viên và cán bộ du học, chuyên gia
nước ngoài sang giúp VN)
nhân
✓ Bệnh gia trưởng, tư tưởng độc đoán, bảo thủ, “phép vua thua lệ làng”
Những khó khăn trên vẫn tồn taị dai dẳng, khó tẩy trừ trong thời gian ngắn, làm chậm tiến
trình phát triển CNH – HĐH
2. Tác động của công nghiệp hóa đối với văn hóa truyền thống
- Khi xã hội càng đi vào quy củ nề nếp, luật pháp ngày càng hoàn thiện thì lối làm ăn tùy tiện
sẽ bị đẩy lùi, lối hành xử kiểu gia đình chủ nghĩa sẽ không còn cơ hội tồn tại
- Khi nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu thụ càng lớn thí lối làm ăn kiểu
sản xuất nhỏ sẽ không còn thích hợp
- Khi nhịp sống công nghiệp ngày càng khẩn trương thì tác phong đủng đỉnh sẽ không còn tồn
tại
- Khi quan hệ xã hội ngày càng mở rộng thì tư tưởng địa phương hẹp hòi, bảo thủ cũng bị đẩy
lùi
Câu 13: Tác động 2 mặt của toàn cầu hóa đối với văn hóa truyền thống? Cần phải làm gì để
xây dựng nền văn hóa VN “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong bối cảnh toàn cầu hóa?
* Tác động 2 mặt của toàn cầu hóa:
- Tích cực:
✓ Về văn hóa vật chất: toàn cầu hóa góp phần kích thích cạnh tranh, thúc đẩy khoa học kỹ
thuật phát triển, làm tăng tốc độ phát triển kinh tế, tăng mức sống của cư dân, rút ngắn
thời gian để theo kịp sự phát triển của thế giới nhờ áp dụng kinh nghiệm và khoa học
19
HS41UL
công nghệ hiện đại của thế giới
✓ Về văn hóa tinh thần: Trong điều kiện toàn cầu hóa, cư dân VN có điều kiện tiếp xúc với
các nền văn hóa phong phú, hưởng thụ được các sản phẩm văn hóa đa dạng của nhân loại.
Tạo ra môi trường để cọ xát với các nền văn hóa mới, đó là con đường để đào thải những
đặc trưng văn hóa lỗi thời không phù hợp. Đồng thời thông qua giao lưu với các nền văn
hóa, nền văn hóa truyền thống VN sẽ được bổ sung, làm giàu thêm bởi những giá trị văn
cụ thể
Câu 14: Văn hóa làng VN truyền thống:
Do lối sống định cư nên với người Việt, làng là môi trường sống, là cộng đồng chủ yếu làm
nền tảng cho tổ chức xã hội nông nghiệp cổ truyền. Với lịch sử hàng ngàn năm, làng Việt Bắc
Bộ là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng và bảo tồn các đặc trưng bản sắc của văn hóa dân tộc.
Cũng từ văn hóa làng hình thành nên lối sống, thói quen, cách tư duy, ứng xử của người Việt
truyền thống.
1. Tổ chức hành chính của làng:
20
HS41UL
- Làng là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong các cấp của bộ máy chính quyền phong kiến.
- Bộ máy chính quyền làng xã gồm 3 tổ chức lồng vào nhau:
✓ Dân làng xã: toàn bộ cư dân nam giới từ 18 tuổi trở lên và là dân chính cư.
✓ Hội đồng kì mục: gồm những người vừa có điền sản, vừa có chức vụ hay phẩm hàm,
được dân làng xã cử lên, đề ra các chủ trương và biện pháp để làm tròn việc làng việc
nước.
✓ Lý dịch: là chức vụ cấp xã của chính quyền phong kiến, đứng đầu là Lý trưởng, có trách
nhiệm thực hiện các chủ trương của Hội đồng Kì mục để thực hiện công việc tự quản lí
làng xã và thi hành các chiếu chỉ của triều đình
2. Đặc trưng của văn hóa làng:
- Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của văn hóa làng.hai đặc trưng này có
mqh hữu cơ, tác động biện chứng, vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nhau.
- Văn hóa làng chính là cội nguồn, sức mạnh, cũng là nơi nuôi dưỡng, bảo tồn và gìn giữ các
đặc trưng bản sắc của văn hóa dân tộc và cũng là cơ sở để hình thành ý thức về quốc gia –
dân tộc.
- Làng Việt Bắc Bộ: tính tự trị cao => làng Việt Trung Bộ: cơ cấu làng bắt đầu lỏng lẻo dần,
tính tự trị khép kín mờ nhạt hơn -> làng Việt Nam Bộ: tính chất mở đẩy lùi tính tự trị hoàn
toàn mà thay vào đó là lối sống năng động, dễ thích nghi, hòa nhập.
HS41UL
Biểu
tượng
Tác
động
tinh thần đoàn kết dân tộc như một giá trị tinh thần truyền thống quý báu của dân tộc ta.
- Đình làng
- Cây đa
- Bến nước
- Tạo nên nếp sống dân chủ bình đẳng và tính tập thể hòa đồng. (Một con ngựa
đau…)
Tích
- Tạo nên sự gắn bó, đoàn kết tương trợ, cưu mang đùm bọc nhau, là cơ sở tạo nên
cực
lối sống trọng tình – một nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt (Tay đứt
ruột xót; Chị ngã em nâng; Môi hở răng lạnh; Lá lành…)
- Tạo nên tư tưởng bè phái, “chủ nghĩa thân quen” (Đóng cửa bảo nhau)
- Thói dựa dẫm, ỉ lại (Một người làm quan…; Cha chung không ai khóc; Lắm sãi
không ai đóng cửa chùa)
Tiêu
- Thói cào bằng, đố kị, thủ tiêu ý thức cá nhân (Xấu đều hơn tốt lỏi; Chết một đống
cực
còn hơn sống một người)
- Trọng tình cả nể là nguyên nhân tạo nên lối ứng xử đặt tình cao hơn lý (Dẫn nhau
ra trước cửa quan…; Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình)
- Về tình cảm: các thành viên đều có quan hệ họ hàng nên qhệ giao lưu tình cảm
cũng khép kín trong phạm vi làng..
- Về tín ngưỡng: mỗi làng đều có Thành Hoàng là vị thần bảo trợ cho dân làng; có
hội hè, đình đám riêng.
22
HS41UL
Sự độc lập về các yếu tố trên đã khiến cho mỗi làng tồn tại như một “vương quốc”
nhỏ khép kín, khá biệt lập và cũng thể hiện chức năng tự quản trong quan hệ với
NN.
Biểu tượng - Lũy tre làng và Cổng làng
Tích cực
Tác động
Tiêu cực
- Tạo nên ý thức độc lập, tự chủ
- Tinh thần tự lực tự cường và đức tính cần cù, chịu khó, tiết kiệm.
- Hình thành tư tưởng tiểu nông tư hữu, ích kỉ (Bè ai người nấy chống;
Ruộng ai người nấy đắp bờ; Của mình thì giữ..)
- Tư tưởng bè phái, địa phương cục bộ, bảo thủ (Nhập gia tùy tục; Ta về
ta tắm ao ta;…)
- Tính gia trưởng, tôn ti (Sống lâu lên lão làng; Áo mặc không qua khỏi
đầu), lối ứng xử kiểu gia đình chủ nghĩa (Đóng cửa bảo nhau)
Tạo nên lối tư duy hướng nội, bảo thủ, trì trệ, tâm lý không thích sự
thay đổi.
Câu 15: Phân tích những đặc trưng của nền văn hóa truyền thống đã chi phối đến thái độ
lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, không tuân theo pháp luật để bảo vệ lợi ích
của mình.
Thói gia trưởng – tôn ti: đối với rất nhiều người nắm quyền lực, đặc quyền trở thành một vật
trang sức không thể thiếu. Việc yêu thích thụ hưởng đặc quyền của người nắm quyền lực được
giải thích không chỉ đơn giản vì nó đem lại những tiện ích, mà còn vì nó có tác dụng thỏa mãn
nhu cầu của người thụ hưởng được phân biệt với những tầng lớp thấp hơn. Trong không ít
trường hợp, người cầm quyền không muốn dừng lại trước đèn đỏ, không muốn xếp hàng chờ
qua cầu, phà, không phải vì đang chịu sức ép của thời hạn thực hiện một công vụ
Tư tưởng ích kỉ, tư hữu cũng tác động không nhỏ đến ứng xử PL của người Việt. Chính
những tư tưởng này đã dẫn đến chuyện tham nhũng, vơ vét của chung, “rút ruột” các công trình
vì lợi ích của bản thân mình, gia đình mình mà quên đi lợi ích chung của xã hội.
3- Ứng xử mềm dẻo, linh hoạt dẫn đến lối ứng xử tùy tiện, lách luật. Luôn tiềm ẩn khuynh
hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những
khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi.
4 - Văn hóa trọng tình: ưa giải quyết bằng hoà giải hơn kiện tụng, trọng sự thông cảm. Luôn
lấy chuẩn mực đạo đức tình cảm làm nguyên tắc ứng xử trong mua bán, trao đối => không cần
đến pháp luật.
5 - Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo: tính nhẫn nhục chịu đựng, vị tha nên thường dĩ hòa vi
quý không muốn nhờ đến sự can thiệp của pháp luật. Sợ trả thù, sợ quả báu...
Câu 16: Đặc điểm của nền giáo dục Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với giáo dục VN hiện
nay?
* Đặc điểm của giáo dục Nho giáo:
1. Mục đích giáo dục: đào tạo ra những người để làm quan “trị nước chăn dân” à Đề cao vinh
quang của người đỗ đạt (tục xướng danh, ban áo mão và đãi yến tiệc, vinh qui bái tổ, khắc bia
tiến sĩ ở Văn Miếu).
2. Nội dung giáo dục: Không coi trọng truyền thụ tri thức khoa học mà chủ yếu là giáo dục tư
tưởng, đạo đức, lễ nghĩa, các phép ứng xử để đào tạo nên mẫu người quân tử hiểu biết về thi,
* Ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo đến giáo dục Việt Nam hiện nay?
- Tích cực: Những đặc điểm của nền giáo dục Nho giáo đã tạo nên truyền thống hiếu học và
tôn sư trọng đạo của người Việt Nam, đạo đức con người tốt, vinh danh người đỗ đạt, tôn sư
trọng đạo, đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đức. (Một kho vàng không bằng 1 nang chữ; Chẳng
yêu ruộng cả ao liền, chỉ yêu cái bút cái nghiên anh đồ)
- Tiêu cực
✓ Quan niệm giáo dục lấy thầy làm trung tâm, lấy tư tưởng người xưa làm mẫu mực, là rào
cản của sự tò mò, trí tưởng tưởng vốn rất cần cho sự sáng tạo, làm hạn chế khả năng tư
duy độc lập mà chức năng của giáo dục đáng lẽ là phải khơi gợi, kích thích và làm cho nó
phát triển. Tình trạng này cùng với một môi trường xã hội không tạo thuận lợi cho sự lưu
chuyển các tri thức và thông tin, luật pháp chưa bảo vệ được những sản phẩm trí tuệ ...
✓ Quan niệm dạy - học mang màu sắc giáo dục khổng giáo vốn xem trọng quá khứ, “tầm
chương trích cú”, “thuộc làu kinh sử” biến học sinh thành những con vẹt, biến những bộ
óc non nớt của các em thành những thùng chứa đồ cũ, là nguyên nhân của bệnh đọc –
chép. Đọc chép lâu dần không những làm cho học sinh mất hết khả năng sáng tạo, mà
còn tạo ra nơi người học thói quen xài chùa của người khác, trong lĩnh vực học thuật, thì
đó là đạo văn.
✓ Việc gắn sự học với việc làm quan trong giáo dục nho giáo vốn đang ảnh hưởng rất mạnh
trên não trạng của người Việt mình là thủ phạm gây ra hiện tượng “thừa thầy thiếu thợ”,
sính bằng cấp, học giả bằng thật, v.v..
Câu 17: Hãy trình bày đặc điểm của văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống và lý giải
nguyên nhân
-
-
Gia đình người Việt mang nhiều nét đặc thù Á Đông, độc đáo, khác gia đình phương Tây,
chịu ảnh hưởng mạnh của Khổng giáo: chẳng hạn, trọng nam khinh nữ, con trai nối dõi tông
nhằm lưu truyền nòi giống và thờ phụng, nhớ ơn sinh thành của tổ tiên. Vấn đề dòng dõi, nối
dõi rất được coi trọng, bởi chỉ có con trai mang họ bố.