BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
---/---
BỘ NỘI VỤ
---/---
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM HOÀNG TÙNG
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC
TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA UỶ BAN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
---/---
BỘ NỘI VỤ
---/---
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM HOÀNG TÙNG
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC
TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA UỶ BAN NHÂN DÂN
nhất về cơ sở vật chất và đảm bảo chất lượng giảng viên cho chúng tôi trong
quá trình theo học tại đây.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân phường Tứ Liên, gia đình và những bạn bè thân thiết của tôi đã tạo
điều kiện, động viên, khích lệ, luôn ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
qua để tôi được đi học và hoàn thành luận văn của mình.
Học viên
Phạm Hoàng Tùng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ đầy đủ
Chữ viết tắt
HĐND
Hội đồng nhân dân
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
2.2.3. Văn hóa ứng xử giữa công chức với công dân, tổ chức ................ 57
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TẠI
BỘ PHẬN MỘT CỬA ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ ........................ 61
2.3.1. Những kết quả đạt được ................................................................. 61
2.3.2. Những hạn chế, yếu kém................................................................ 63
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém ................................... 65
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 67
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VĂN HÓA
ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA UỶ
BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............. 69
3.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI VIỆC NÂNG CAO VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC ................... 69
3.1.1. Quan điểm nâng cao văn hóa ứng xử của công chức..................... 69
3.1.2. Phương hướng nâng cao văn hóa ứng xử của công chức .............. 71
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TẠI BỘ
PHẬN MỘT CỬA ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ .............................. 75
3.2.1. Nâng cao nhận thức của công chức về văn hóa ứng xử ................ 75
3.2.2. Xây dựng và ban hành bộ quy tắc ứng xử của công chức............. 79
3.2.3. Phát huy vai trò nêu gương của người lãnh đạo, quản lý .............. 80
3.2.4. Tuyên truyền, phổ biến về văn hóa ứng xử ................................... 82
3.2.5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định
pháp luật và quy chế ứng xử của công chức ................................. 84
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 85
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 88
phố Hà Nội được xác định là trung tâm dịch vụ - du lịch, trung tâm văn hóa,
là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Thủ đô. Điều đó đòi hỏi chính
quyền quận Tây Hồ phải nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, cải thiện
1
chất lượng các dịch vụ công, mà trước hết là thay đổi thái độ, văn hóa ứng xử
của các công chức làm việc tại bộ phận một cửa Ủy ban nhân dân (UBND)
quận Tây Hồ. Quá trình tổ chức thực hiện các mục tiêu yêu cầu trên đã đạt
được những kết quả mang tính tích cực song vẫn còn những hạn chế, bất cập
trong văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức nói chung, công chức tại bộ phận
một cửa UBND quận Tây Hồ nói riêng.
Do đó, tác giả lựa chọn nội dung “Văn hóa ứng xử của công chức tại
bộ phận một cửa Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội” làm
đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý công
nhằm đánh giá thực trạng văn hóa ứng xử, từ đó đề xuất các giải pháp kiến
nghị nhằm nâng cao văn hóa ứng xử của đội ngũ công chức tại bộ phận một
cửa UBND quận Tây Hồ trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Văn hóa ứng xử nói chung, văn hóa ứng xử của công chức hay văn hóa
ứng xử trong công vụ nói riêng là một đề tài nghiên cứu có tầm quan trọng rất
lớn trong việc góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong công
cuộc cải cách nền hành chính quốc gia. Do đó, ở những phạm vi nghiên cứu
khác nhau, các cách tiếp cận khác nhau đều ít nhiều có đề cập trực tiếp đến
nội dung này, hoặc gián tiếp đề cập thông qua các nghiên cứu về giao tiếp,
văn hóa giao tiếp hay giao tiếp-ứng xử trong hoạt động công vụ. Cụ thể:
Ở góc độ khoa học ngữ văn, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Phương
Chi với tên đề tài “Một số đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa ứng xử của hành vi
từ chối trong tiếng Việt (có sự đối chiếu với tiếng Anh)” [4] đã đề cập, phân
thuế. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập đến nội dung xây dựng và đánh
giá văn hóa công sở ngành thuế và cán bộ thuế.
Trong một nghiên cứu có tính chất lý luận cao, “Giáo trình kỹ năng điều
hành công sở và giao tiếp công vụ” [22] do các tác giả Nguyễn Đỗ Kiên,
Phạm Thái Linh Ngọc biên soạn đã tập hợp, hệ thống một số vấn đề lý luận
chung về giao tiếp và một số kỹ năng giao tiếp cơ bản; kỹ năng giao tiếp công
3
vụ; công sở và hoạt động của công sở; kỹ thuật điều hành công sở; kỹ thuật
điều hành công sở của người lãnh đạo, quản lý.
Với nhóm đối tượng khảo sát là cán bộ chủ chốt ở cấp cơ sở, luận án tiến
sĩ ngành tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm với tên đề tài “Trí tuệ
cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ” [31] đã tập
trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trí tuệ cảm xúc trong
giao tiếp công vụ của nhóm xã hội là các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở để phát
hiện những mặt mạnh, mặt yếu kém về năng lực trí tuệ cảm xúc của nhóm cán
bộ này biểu hiện trong giao tiếp công vụ. Từ đó, đề xuất một số biện pháp
nâng cao trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công
vụ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống
chính trị cấp cơ sở.
Ở phạm vi tương đối rộng liên quan đến văn hóa công sở, trong một ấn
phẩm của Kho bạc nhà nước có tựa đề “Văn hóa công sở và giao tiếp hành
chính: Tài liệu học tập dành cho CBCC hệ thống Kho bạc Nhà nước” [21],
các tác giả đề cập một cách có hệ thống vai trò của văn hóa trong đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội, tiêu thức văn minh, văn hóa nghề kho bạc. Vai trò
văn hóa trong hoạt động công sở, kinh nghiệm văn hóa ứng xử ở công sở như
giao tiếp với đồng nghiệp, với cấp trên, cấp dưới,... kỹ năng giao tiếp, môi
trường giao tiếp.
đội ngũ công chức hành chính đã đề xuất các giải pháp và xây dựng mô hình
rèn luyện kỹ năng giao tiếp của công chức hành chính trong tiến trình cải cách
hành chính nhà nước;
Các nghiên cứu trên vừa có những nội dung đề cập cụ thể đến văn hóa
ứng xử, đồng thời vừa có những nội dung bao quát với phạm vi rộng hơn
hoặc có liên quan như giao tiếp của công chức hay văn hóa trong công sở.
Trong những phạm vi nghiên cứu nhất định, các nghiên cứu trên đều cơ bản
đạt được các mục đích, nhiệm vụ đặt ra. Đây là những tư liệu tham khảo quý
5
báu cho các nghiên cứu về văn hóa giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức
nói chung, công chức làm việc tại bộ phận một cửa nói riêng.
Tuy có sự phong phú về nội dung, các cách tiếp cận, đặt vấn đề và đối
tượng nghiên cứu cụ thể song các công trình nghiên cứu hiện có chưa đề cập
đến văn hóa ứng xử của công chức bộ phận một cửa, đặc biệt là công chức bộ
phận một cửa thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện. Đây là một nội
dung nghiên cứu tương đối mới song có vai trò rất quan trọng trong việc góp
phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp huyện nói riêng, công chức
bộ phận một cửa nói riêng. Do đó, từ thực tiễn của địa phương, tác giả lựa
chọn đề tài nghiên cứu về văn hóa ứng xử của công chức tại bộ phận một cửa
thuộc UBND quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội nhằm phân tích, đánh giá văn
hóa ứng xử của công chức bộ phận một cửa trên cơ sở lý luận để từ đó đề xuất
các giải pháp cụ thể nâng cao văn hóa của công chức nói chung, công chức bộ
phận một cửa cấp huyện nói riêng; bổ sung vào các nghiên cứu về văn hóa
ứng xử nói chung, văn hóa ứng xử của công chức nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận văn hóa ứng xử của đội ngũ công chức
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp hệ thống hóa lý luận nhằm tập hợp, rà soát các nội dung lý luận
về văn hóa, văn hóa ứng xử, văn hóa ứng xử của công chức, công chức làm
việc tại bộ phận một cửa; phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng
xuyên suốt trong cả ba chương của luận văn nhằm làm rõ các nội dung về lý
luận, thực tiễn, về thực trạng văn hóa ứng xử của công chức tại bộ phận một
cửa UBND quận Tây Hồ, về logic lập luận trong việc chứng minh, luận giải
các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa ứng xử của công chức bộ phận một cửa
UBND quận Tây Hồ; phương pháp so sánh, đối chiếu những nội dung lý luận
với thực trạng văn hóa ứng xử của công chức bộ phận một cửa UBND quận
7
Tây Hồ từ đó rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn
tại cần khắc phục; phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng nhằm thu
thập các thông tin bổ sung, cung cấp luận cứ cho việc đánh giá thực trạng văn
hóa ứng xử của công chức tại bộ phận một cửa UBND quận Tây Hồ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Thứ nhất, đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về văn
hóa ứng xử của công chức tại bộ phận một cửa UBND quận Tây Hồ - Thành
phố Hà Nội.
Thứ hai, phân tích, đánh giá có hệ thống quá trình triển khai và thực
trạng thực hiện văn hóa ứng xử của công chức tại bộ phận một cửa UBND
quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội
Thứ ba, đề xuất một số quan điểm và giải pháp để bảo đảm thực hiện văn
hóa ứng xử của công chức tại bộ phận một cửa UBND quận Tây Hồ - Thành
phố Hà Nội
Thứ tư, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người được coi là sử
dụng thuật ngữ văn hóa sớm nhất là Lưu Hướng (sống khoảng giai đoạn từ
năm 77 TCN đến năm thứ 6 TCN), thời Tây Hán. Ông sử dụng thuật ngữ này
với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người - văn trị giáo hóa. Văn
hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục
tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).
Ở phương Tây, khái niệm văn hóa bắt nguồn từ một thuật ngữ gốc
Latinh là “cultus animi” với nghĩa là trồng trọt tinh thần. Từ “cultus” được
hiểu là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên; khai thác
tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng.
Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hóa”, UNESCO (1982) xác
định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những
9
nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách
của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ
thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem
lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và
dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được
những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con người
tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn
thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt
những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản
thân” [36, tr.169].
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng được quan niệm và sử dụng với
nhiều ý nghĩa khác nhau, tương đối phong phú:
quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là
một kiến trúc thượng tầng” [25, tr.2].
Đặc biệt, năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn” [25, tr.27]. Đây có thể coi là định nghĩa hoàn chỉnh đầu tiên về văn hóa
của Hồ Chí Minh, và đây cũng là lần duy nhất, mà về sau Người không bổ
sung, hoàn chỉnh thêm nữa.
Như vậy, trên thực tế, có rất nhiều quan niệm, cách định nghĩa thuật ngữ
văn hóa song chưa có cách định nghĩa nào được tuyệt đại đa số thừa nhận và
11
sử dụng một cách thống nhất. Điều này, có thể xuất phát từ những nguyên
nhân sau đây:
Thứ nhất, những tác giả tiếp cận thuật ngữ văn hóa dưới góc độ của từng
ngành khoa học, bộ môn khoa học cụ thể nên thường quy giản hóa văn hóa
vào những lĩnh vực hạn hẹp, xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa
có một cách tiếp cận tổng thể.
Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do
đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Một khái niệm chung, thống nhất về văn
hóa sẽ khó vận dụng trong các nghiên cứu khoa học cụ thể. Do đó, ở mỗi góc
độ tiếp cận lại hình thành nên những quan niệm riêng biệt về văn hóa. Khi đề
cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận
của họ là điều dễ hiểu.
không bao giờ trở thành nhà giáo dục dù học giỏi đến mức nào cũng không
bao giờ trở thành nhà giáo dục thực hành tốt, về bản chất không phải là cái gì
khác ngoài sự ứng xử” [14, tr.108].
Trong cuốn sách có nhan đề “Tâm lý học ứng xử”, tác giả Lê Thị Bừng
đã nêu “ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người
khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con
người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa
chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, nói năng tùy thuộc
vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao
nhất” [3, tr. 98-99].
Từ điển tiếng Việt thông dụng đưa ra khái niệm về ứng xử như sau:
“Dưới góc độ xã hội học, ứng xử được dùng để chỉ cách hành động (và nói)
như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp
vai trò như vợ/ chồng, cha/ con, cấp trên/ cấp dưới..) và đó là những hành
động, hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới
13
hạn ở giữa các vai trò xã hội khác nhau, mà ứng xử với mình, ứng xử với đồ
vật, với tự nhiên” [27, tr.123].
Các ngành nghiên cứu tâm lý, từ góc độ tâm lý học, lại chủ yếu tìm
hiểu, khai thác khái niệm ứng xử ở khía cạnh những quan hệ giao tiếp. Xuất
phát từ vỏ ngôn ngữ, họ cho rằng “ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và
xử. Mà ứng xử lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau như: ứng phó, ứng đáp,
ứng biến và xử sự, xử lý, xử thế”. Trên cơ sở đó, ứng xử được hiểu là cách xử
thế nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong mối quan hệ
giao tiếp. Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tùy
thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt hiệu
quả cao nhất trong giao tiếp.
thể thấy rằng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “văn hóa ứng xử”.
Theo tác giả Vũ Dũng, “văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những
nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng
xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện quan ngôn ngữ, hành
vi, nếp sống, tâm sinh lý trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã
được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã
hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng bản sắc của
văn hóa dân tộc, một quốc gia được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ
xã hội, thừa nhận và làm theo” [9, tr.108].
Văn hóa ứng xử cũng được hiểu là thế ứng xử, là sự thể hiện triết lý
sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong
việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với
xã hội từ vi mô đến vĩ mô. Văn hóa ứng xử phải được nhìn nhận từ ít nhất 4
chiều của con người. Chiều cao - quan hệ với tự nhiên; chiều rộng - quan hệ
với xã hội; chiều sâu - quan hệ với chính mình và chiều lịch sử - quan hệ với
tổ tiên và với con cháu mai sau.
15
Một cách khái quát, có thể hiểu “văn hóa ứng xử là hệ thống những giá
trị có tính chuẩn mực về cách ứng xử, thái độ, hành vi của con người trong
giao tiếp đời sống với những người xung quanh, nó cũng bao gồm cả cách
ứng xử của con người với môi trường thiên nhiên và môi trường nhân văn
xung quanh đời sống con người”.
1.1.2. Đặc điểm văn hóa ứng xử
Thứ nhất, có tính mô phạm/chuẩn mực. Khi nói đến văn hóa ứng xử là
nói đến hệ thống các giá trị có tính chuẩn mực, được quy định hay quy ước
giữa một cộng đồng xã hội tương đối lớn, ở một phạm vi rộng. Tính mô phạm
hay chuẩn mực này là đặc điểm tạo nên sự ràng buộc đối với mỗi cá nhân khi
Tính cá nhân trong văn hóa ứng xử là một đặc điểm rất độc đáo và hết
sức quan trọng. Bởi, nếu thiếu đi tính cá nhân, văn hóa ứng xử sẽ mất đi sự
phong phú, đa dạng, thay vào đó là sự khô cứng, rập khuôn. Tính cá nhân
mang đến sức sống cho văn hóa ứng xử, tạo nên nét độc đáo cá nhân của từng
chủ thể trong quá trình giao tiếp.
Thứ ba, có tính thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh, mối quan hệ. Văn hóa
ứng xử là một hệ thống các giá trị chuẩn mực quy định đến quá trình giao tiếp
của con người, và do chính con người xác lập. Do đó, ngoài tính ổn định
tương đối thì nó luôn luôn vận động khi xem xét trong mối quan hệ với thời
gian phát triển lâu dài.
Thực tiễn là minh chứng sinh động cho đặc điểm này của văn hóa ứng
xử khi xem xét những giá trị đã được xem là chuẩn mực trong quá khứ đã
biến mất hoặc lỗi thời ở thời điểm hiện tại. Chẳng hạn, trong các giai đoạn
phát triển trước đây, cá nhân có địa vị xã hội thấp hơn thường phải có thái
độ cung kính đối với cá nhân có địa vị xã hội cao hơn, nếu không sẽ bị coi là
phạm pháp. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, mọi cá nhân dù nắm giữ cương
vị nào, ở địa vị xã hội nào thì đều được đối xử bình đẳng như nhau trước
pháp luật.
17
Trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, văn hóa ứng xử cũng sẽ được biểu hiện
khác nhau. Chẳng hạn, văn hóa ứng xử giữa các thành viên trong gia đình khi
chỉ có nội bộ các thành viên với nhau thường có mức độ thân mật, suồng sã
cao hơn khi gia đình đó có khách.
Thêm nữa, các cá nhân trong xã hội được liên kết với nhau bởi rất nhiều
mối quan hệ. Cho nên, trong từng mối quan hệ cụ thể thì văn hóa ứng xử cũng
có biểu hiện khác nhau. Trong mối quan hệ huyết thống gia đình, cá nhân A
với cá nhân B là cha-con thì biểu hiện của văn hóa ứng xử thiên về tình cảm,