BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM HỮU HẢI
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
Mặc dù đã hết sức nỗ lực cố gắng nhưng với thời gian và điều kiện nghiên
cứu còn hạn chế, chắc chắn Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả
tha thiết mong nhận được sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học, quý
Thầy giáo, Cô giáo và đồng nghiệp.
Trân trọng cám ơn!
Lâm Đồng,
tháng
năm 2017
Tác giả
Phạm Hữu Hải
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số
liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, xuất phát từ thực tế nghiên cứu
về công tác bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh
Lâm Đồng. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Phạm Hữu Hải
MỤC LỤC
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH LÂM ĐỒNG................................................................... 85
3.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác bồi dưỡng công
chức cấp xã là người dân tộc thiểu số..............................................................85
3.2. Phương hướng của tỉnh Lâm Đồng về xây dựng công chức nói chung và
công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng từ nay đến năm 2020... 89
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức cấp xã là
người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.........................................92
3.4. Một số kiến nghị.....................................................................................104
Tiểu kết chương 3..........................................................................................106
KẾT LUẬN....................................................................................................108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................... 110
PHỤ LỤC...................................................................................................... 117
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: So sánh công chức cấp xã và công chức cấp xã là người dân tộc thiểu
số tỉnh Lâm Đồng.............................................................................................45
Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm
Đồng.................................................................................................................46
Bảng 2.3: Cơ cấu về độ tuổi công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm
Đồng.................................................................................................................47
Bảng 2.4: Cơ cấu về dân tộc công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm
Đồng.................................................................................................................48
Bảng 2.5: Cơ cấu ngạch công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm
Đồng.................................................................................................................49
Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công chức cấp xã người dân tộc
thiểu số tỉnh Lâm Đồng....................................................................................50
Bảng 2.7: Trình độ lý luận chính trị công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
CC
Công chức
3
DTTS
Dân tộc thiểu số
4
ĐT,BD
Đào tạo, bồi dưỡng
5
QLNN
Quản lý nhà nước
6
TT
Thứ tự
7
công chức là người dân tộc thiểu số, nhất là đội ngũ công chức có uy tín, biết
tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào để tuyên truyền hướng
dẫn các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật
của Nhà nước.
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số không
1
chỉ vì sự phát triển của bản thân đồng bào dân tộc thiểu số mà còn phục vụ
cho sự nghiệp cách mạng cả nước, vì chiến lược con người trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm bình đẳng và công bằng xã hội giữa các vùng
miền và các dân tộc. Do vậy, việc xây dựng công chức người dân tộc thiểu số
là một nội dung trọng yếu trong thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc và phải
được tiến hành trước một bước nhằm tạo điều kiện cho mọi dân tộc có cơ hội
phát triển toàn diện, khắc phục những khó khăn do điều kiện tự nhiên, xã hội
và lịch sử tạo ra. Mặt khác, chỉ trên cơ sở đội ngũ công chức tại chỗ được xây
dựng đủ về số lượng và chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, mới tạo động lực đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đánh thức tiềm năng, thế mạnh vùng
dân tộc thiểu số.
Để đảm bảo cả số lượng và chất lượng của đội ngũ công chức này, đòi hỏi
chúng ta phải thực hiện chiến lược quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số một cách bài bản, nhất là nguồn nhân
lực tại chỗ nhằm tạo nguồn công chức đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về sự nghiệp
đổi mới.
Lâm Đồng là một trong năm tỉnh Tây Nguyên, mang đầy đủ những đặc
trưng của một địa phương miền núi phía nam dãy Trường Sơn, là một địa bàn
có 43 dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam cùng chung sống,
chiếm 23% dân số của tỉnh; do vậy đây là cơ sở để xây dựng đội ngũ công chức
cấp xã người dân tộc thiểu số tạo nền tảng cho sự phát triển.
Tại địa phương, xuất phát từ đặc điểm của không gian xã hội đa tộc
nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa – Thực trạng và giải pháp;
phần 3: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trên một số lĩnh vực chuyên
môn - Thực trạng và giải pháp; phần 4: Đổi mới công tác cán bộ dân tộc thiểu
số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong tác phẩm Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta
hiện nay do Phan Xuân Sơn – Lưu Văn Quảng đồng chủ biên (Nxb Lý luận
chính trị, H.2006) là tiếp cận ở một khía cạnh khác khi chỉ luận bàn các chính
sách dân tộc từ một số vấn đề về quan điểm, nhận thức, lý luận và thực tiễn.
Đồng thời, phân tích các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai
3
đoạn cách mạng, những vấn đề đang đặt ra cho việc thực hiện các chính sách
này; bên cạnh đó đưa ra những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm
thực hiện tốt các chính sách dân tộc hiện nay.
Tác phẩm Một số vấn đề về dân tộc và phát triển do Lê Ngọc Thắng biên
soạn (Nxb Chính trị quốc gia, H.2005) nêu vai trò, vị trí của công tác dân tộc
trong giai đoạn cách mạng và giai đoạn hiện nay; một số vấn đề về đổi mới
công tác dân tộc trong tình hình mới; đáng quan tâm là những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của chính sách đối với nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu
số...
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu cán bộ dân tộc thiểu số
như: Lưu Thị Thu Hạnh, Phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở
tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính
công, Học viện Hành chính (2010); Lý Trung Thành, Xây dựng đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số - từ thực tiễn ở Thái Nguyên, Tạp chí quản lý nhà nước,
số 220 (T5/2014); Trần Thị Tuyết Mai, Tạo nguồn cán bộ, công chức người
dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Học
viện Hành chính, 2009; Trương Thị Bạch Yến, Tạo nguồn cán bộ, công chức
xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận văn
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng công chức cấp xã là
người DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng để chỉ ra những mặt tích cực; làm rõ
những hạn chế trong việc bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã người DTTS;
tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp trong việc nâng cao chất lượng
bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh
Lâm Đồng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã
người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 –
5
2015. Tập trung nghiên cứu về công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã là
người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận
Thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử; nguyên tắc thống nhất lý luận với thực tiễn.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp thống kê;
+ Phương pháp khảo cứu tài liệu;
+ Phương pháp so sánh, phân tích, quy nạp, diễn dịch và phương pháp
thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Để phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp nghiên
cứu, nguồn tài liệu được lấy từ các tài liệu cụ thể:
Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã là người dân tộc thiểu
số ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao bồi dưỡng công
chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP
XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Chính quyền cấp xã và công chức cấp xã
1.1.1. Chính quyền cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm chính quyền cấp xã
Trong hệ thống hành chính nước ta, xã - phường - thị trấn (gọi chung là
cấp xã) là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung
ương, tỉnh, huyện, xã. Vì vậy, cấp xã chính là nền tảng của hệ thống chính trị,
đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành công của sự
nghiệp cách mạng nước ta.
Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân,
trong đó Hội đồng nhân dân “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại
diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân
địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan
nhà nước cấp trên”. Còn Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu, là cơ
quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà
nước cấp trên.
Xuất phát từ vị trí chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị ở cơ sở
nên nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước
sát nắm bắt nguyện vọng của nhân dân sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, dễ
bị kẻ xấu lợi dụng, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, phá vỡ khối đại đoàn kết
toàn dân tộc.
- Chính quyền cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở; là địa
bàn gắn trực tiếp nhất với cuộc sống nhân dân. Tất cả các tổ chức quyền lực
nhà nước cấp trên cuối cùng đều phải thông qua hệ thống của chính quyền cấp
xã và nếu không có chính quyền cơ sở vững mạnh các tổ chức chính quyền cấp
trên khó có thể phát huy tác dụng. Sức mạnh của hệ thống chính quyền cơ sở là
yếu tố quyết định sự thành bại trong sự nghiệp đổi mới của cả nước nói chung
9
và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng.
Như vậy, chính quyền cấp xã được hiểu là trung tâm của hệ thống chính
trị cơ sở, là một trong các cấp chính quyền của nhà nước ta, bao gồm Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân là những cơ quan quyết định và tổ chức thực hiện
những chủ trương, biện pháp liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân ở địa phương theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật.
1.1.1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Một là, cấp xã là cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với nhân dân. Công chức
cấp xã thực hiện quan hệ công tác không chỉ với tư cách là người thực thi
quyền lực nhà nước mà còn là người có mối quan hệ gia tộc và xóm làng lâu
đời. Là người trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực
của đời sống của nhân dân, công chức cấp xã phải đạt được: một mặt, đúng
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Mặt khác, phải thấu tình đạt
lý trong quan hệ xóm làng. Sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi từng ngày trên các lĩnh
vực về chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật, quản lý.
Hai là, tổ chức bộ máy của chính quyền cấp xã khác với các đơn vị
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng - Thống kê;
- Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã);
- Tài chính - kế toán;
- Tư pháp - hộ tịch;
- Văn hoá - xã hội [16, tr.22].
1.1.2.2. Đặc điểm, vai trò của công chức cấp xã
- Về đặc điểm công chức cấp xã
Công chức cấp xã (xã, phường, thị trấn), đặc biệt là tại xã thường là
người được tuyển chọn từ nguồn tại chỗ của địa phương, sinh sống và có quan
hệ gắn bó với cộng đồng dân cư nơi làm việc.
11
Họ là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền với
nhân dân. Bản thân công chức cấp xã là người thường xuyên trực tiếp tiếp xúc
và giải quyết các công việc hằng ngày liên quan đến đời sống của nhân dân. Họ
là người truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
nhà nước đến với nhân dân và ngược lại quá trình tiếp xúc với nhân dân làm
cho công chức cấp xã hiểu đầy đủ về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để báo
lên cấp trên.
Thường thì mỗi chức danh công chức cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều
công việc, nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau: Địa chính – xây dựng; Văn
phòng – thống kê v.v...
Từ những đặc thù của công chức cấp xã như đã nêu trên, đòi hỏi về mặt
đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã phải phù hợp nhằm xây dựng đội
ngũ công chức cấp xã đáp ứng với yêu cầu công việc.
- Vai trò của công chức cấp xã
tính then chốt xét cả trong quan hệ giữa Đảng viên với dân, giữa công dân với
nhà nước. Họ là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, nhà nước với nhân dân.
Thứ hai, công chức cấp xã trong mối quan hệ với bộ máy nhà nước ở địa
phương.
Công chức là đội ngũ vận hành bộ máy hành chính ở địa phương. Công
chức là chủ thể của tổ chức bộ máy nhà nước đồng thời tổ chức là môi trường
để công chức hoạt động và phát triển. Công chức khi thực hiện công vụ phải
gắn liền với tổ chức, nhân danh tổ chức và đại diện nhà nước để quản lý xã
hội. Công chức chỉ mang quyền lực nhà nước khi gắn liền tổ chức, đại diện
nhà nước, khi rời khỏi hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, công chức trở thành
những công dân và chịu sự quản lý của hệ thống bộ máy nhà nước. Như vậy, để
có một bộ máy hành chính nhà nước địa phương hoạt động hiệu quả thì vai trò
của một đội ngũ công chức xã giàu năng lực, kiến thức kinh nghiệm kỹ năng là
rất quan trọng [3].
Thứ ba, công chức cấp xã trong mối quan hệ với hoạt động thực thi công
vụ.
Việc làm của công chức xã là hoạt động thực thi công vụ. Mỗi một công
13
chức xã đều thực hiện nhiệm vụ thể chế hóa các chủ trương đường lối của
Đảng, kế hoạch chính sách pháp luật của nhà nước thành hiện thực và đi vào
đời sống xã hội. Công chức xã là người có nhiệm vụ phục vụ nhân dân, cũng
là người trực tiếp cùng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, giải đáp những khó khăn,
vướng mắc của nhân dân về những vấn đề trong cuộc sống. Công chức xã cùng
với cán cân pháp luật trở thành trọng tài công lý của cuộc sống, thường xuyên
kiểm tra và kịp thời phát hiện những sai phạm của công dân để điều chỉnh đúng
hướng và bảo vệ công bằng cho nhân dân [4].
Bằng việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, đội ngũ công
chức xã là những người chăm sóc cho cuộc sống của nhân dân, tạo ra một môi
địa bàn công tác.
+ Có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân
dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân
và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân
dân, tài sản của nhà nước. (Đối với công chức Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã
và Trưởng công an xã).
- Những yêu cầu cụ thể của công chức cấp xã được quy định tại Thông tư
số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách,
tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, thị trấn thì công chức
cấp xã nói chung, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói riêng ngoài
những tiêu chuẩn chung đã nói ở trên, cần phải có những tiêu chuẩn cụ thể sau:
+ Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;
+ Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;
+ Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Đại học trở lên của ngành đào tạo
hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức đảm nhiệm;
+ Trình độ tin học: có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ B trở lên;
+ Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản
lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương
trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.
Công chức cấp xã làm nhiệm vụ chuyên môn, giúp Ủy ban nhân dân cấp
15
xã quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: văn phòng, thống kê, an ninh, quân sự,
địa chính, xây dựng, tài chính, kế toán, văn hóa, xã hội, tư pháp, hộ tịch ngoài
ra những công chức này còn thực hiện nhiệm vụ khác khi được lãnh đạo Ủy
ban nhân dân cấp xã giao.
Như vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp
xã, công chức chính quyền cấp xã không chỉ có lòng nhiệt tình cách mạng, có
Trên cơ sở các khái niệm: “công chức cấp xã”, “dân tộc thiểu số”, về
thực chất cho thấy rằng khái niệm công chức cấp xã là người DTTS dùng để
chỉ những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước có thành phần xuất thân là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam. Tiêu chí để phân biệt “công chức cấp xã là người dân tộc
thiểu số” trong “đội ngũ công chức” của hệ thống chính trị là thành phần dân
tộc xuất thân của người công chức đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu
số”. Tiêu chí đó không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hay địa vị xã
hội của người công chức. Khi đã trở thành công chức thì dù có xuất thân từ
“dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận những công việc
được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đối với mỗi
cương vị công tác của mình.
Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về
công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số như sau:
Công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là những người có thành phần
xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: Trưởng Công an; Chỉ huy
trưởng Quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - nông nghiệp - xây dựng và
môi trường; tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội [6].
1.2. Bồi dưỡng công chức cấp xã
1.2.1. Khái niệm bồi dưỡng và bồi dưỡng công chức cấp xã là người
dân tộc thiểu số
1.2.1.1. Bồi dưỡng
17