Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất ở các trường THPT huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (LV thạc sĩ) - Pdf 47

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa………………………………………………………………………
Lời cam đoan………………………………………………………………………
Lời cám ơn………………………………………………………………………...
Mục lục……………………………………………………………………............
Danh mục các chữ viết tắt…………………………………………………………
Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ……………………………………………….
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……………………………………………………..
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác GDTC ở trường THPT……….
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề…………………………………………
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà trường………………………………………….
1.3. Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân…………………………….
1.4. Công tác GDTC ở trường THPT……………………………………………..
1.5. Chất lượng công tác GDTC và vai trò quản lý của HT trong việc nâng
cao chất lượng công tác GDTC ở trường THPT…………………………………..
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác GDTC của HT các trường THPT
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế………………………………………
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và GD-ĐT của huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế…………………………………………..
2.2. Khái quát quá trình khảo sát thực trạng……………………………………….
2.3. Thực trạng công tác GDTC ở các trường THPT huyện Phong Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế…………………………………………………………
2.4. Thực trạng quản lý của HT đối với công tác GDTC ở các trường THPT
huyện Phong Điền……………………………………………………………
2.5. Nhận định, đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý hoạt động
GDTC của HT các trường THPT huyện Phong Điền…………………………
Chương 3: Các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao chất lượng công tác
GDTC ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phong Điền…………………..
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp…………………………………………………..


CBQLGD

Cán bộ quản lý giáo dục

GDĐT

Giáo dục đào tạo

GDTC

Giáo dục thể chất

GV

Giáo viên

CB

Cán bộ

NV

Nhân viên

HKPĐ

Hội khỏe Phù Đổng

HT

A. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sức khỏe và trí tuệ là hai thứ quý nhất, là tài sản vô giá của mỗi người, mỗi
gia đình, mỗi quốc gia. Giữa sức khỏe và trí tuệ có mối quan hệ hữu cơ với nhau,
cùng hỗ trợ cho nhau trong quá trình hoạt động của con người. Có sức khỏe tốt
con người mới đủ minh mẫn, hưng phấn, sáng tạo trong học tập, công tác; có sức
khỏe tốt con người mới thực hiện được ước mơ, hoài bão của mình, đem lại hiệu
quả cao trong học tập, lao động, phục vụ được nhiều cho nhân dân, cho đất nước.
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc nâng cao sức khỏe cho nhân
dân, ngay từ những ngày đầu của nước Việt Nam mới, trong lời kêu gọi toàn dân
tập thể dục, ngày 27 tháng 3 năm 1946, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Giữ gìn dân chủ,
xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành
công…”.
Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của con người chiếm một vị trí rất quan
trọng, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới. Chăm lo
cho thế hệ trẻ trong sự nghiệp đổi mới chính là chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực cho tương lai. Đó là chăm lo toàn diện về nhiều mặt, trong đó có mặt
quan trọng và tất yếu là về sức khỏe thể chất, bởi vì sự cường tráng về thể chất
không những là nhu cầu tự thân con người mà còn là vốn quý để con người tạo ra
tài sản vật chất và tinh thần cho xã hội.
Theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương khóa VII: Muốn xây dựng đất
nước giàu mạnh, văn minh không những chỉ cần có con người phát triển cao về trí
tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải cường
tráng về thể chất. Chăm lo cho con người phát triển về thể chất là trách nhiệm của
mọi người, mọi ngành, của toàn xã hội. Bởi vậy giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt
động thể dục thể thao (TDTT) trong nhà trường các cấp là một trong những nội
dung cơ bản góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đòi hỏi giáo dục phải tạo ra
những con người phát triển toàn diện về trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục và nghề
nghiệp. Vì vậy giáo dục thể chất trong hệ thống giáo dục nói chung và trong nhà trường

lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học”; khẳng
định “Thể dục thể thao trường học là bộ phận quan trọng của phong trào thể dục,
thể thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được
quan tâm đầu tư đúng mức”. Nhiệm vụ đặt ra là “Thực hiện tốt giáo dục thể chất
theo chương trình nội khóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh,
sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ
bản của học sinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao.

5


Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với
giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống
của học sinh, sinh viên. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể
dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên,
hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về
tâm sinh lý lứa tuổi và thể dục, thể thao trường học”.
Vì vậy, nâng cao chất lượng công tác GDTC trong tình hình mới hiện nay là
một yêu cầu có tính nguyên tắc đặt ra đối với các nhà trường, đòi hỏi nhiều tác
động, trong đó công tác quản lý của người Hiệu trưởng (HT) đóng vai trò rất quan
trọng.
Trong những năm qua, các trường THPT trên địa bàn huyện Phong Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả khá tốt
trong việc nâng cao chất lượng GDTC. Song nhìn từ góc độ của khoa học quản lý
thì việc quản lý hoạt động GDTC của HT chưa mang tính khoa học, chưa có tầm
nhìn lâu dài, chưa có cơ sở khoa học vững chắc để đảm bảo sự phát triển cao hơn
chất lượng công tác GDTC; chưa thực sự coi hoạt động dạy học môn GDTC là
một hoạt động chuyên môn quan trọng trong nhà trường, việc chỉ đạo tổ chức các
hoạt động nội, ngoại khóa TDTT chưa thường xuyên, hình thức chưa phong phú,
hiệu quả giáo dục còn hạn chế.

huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
5.3. Xác lập các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác
GDTC ở trường THPT.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương
pháp: Phân tích - tổng hợp, phân loại tài liệu…nhằm thu thập những thông tin cho
tổng quan lý luận của vấn đề nghiên cứu.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương
pháp: Phương pháp quan sát; Phương pháp điều tra, anket; Phương pháp trò
chuyện, phỏng vấn; Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia…nhằm khảo sát, đánh giá
thực trạng và xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: Nhằm xử lý các kết quả nghiên cứu.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
7.1. Đề tài nghiên cứu được tiến hành ở các trường THPT trên địa bàn
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (gồm 04 trường: THPT Nguyễn Đình
Chiểu, THPT Phong Điền, THPT Trần Văn Kỷ, THPT Tam Giang).
7.2. Nghiên cứu của đề tài giới hạn trong phạm vi công tác GDTC ở các
trường THPT.

7


8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 phần:
Phần mở đầu: Đề cập đến những vấn đề chung của đề tài.
Phần nội dung: Gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác GDTC ở trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác GDTC ở
các trường THPT huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất

triển những kết quả nghiên cứu và thành tựu đã đạt được trên lĩnh vực GDTC trong
những năm qua.
Tuy nhiên những đề tài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát thực trạng
chung của một số đơn vị và đề ra các biện pháp cải tiến công tác tổ chức giảng dạy bộ
môn thể dục, còn vấn đề về công tác quản lý chỉ đạo của người HT đối với mặt hoạt
động này thì chưa được đề cập đến. Đặc biệt hiện nay, do điều kiện kinh tế xã hội mỗi
vùng miền khác nhau, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động GDTC nhiều vùng miền
đang mất cân đối, thậm chí có nơi GV TDTT còn thiếu phải sử dụng GV các bộ môn
khác đảm nhận công tác giảng dạy kiêm nhiệm.
Những biện pháp quản lý đã được nêu ra, nhưng thực chất, đó vẫn là những biện
pháp chung thường thấy trong các bài giảng về quản lý nhà trường.
Để người HT làm đúng chức năng quản lý của mình, nếu chỉ nêu ra các yêu cầu
về công việc GV phải thực hiện thôi thì chưa đủ. Điều chủ yếu là người HT phải thực

9


hiện các biện pháp quản lý đúng đắn nhằm tổ chức, chỉ đạo nâng cao chất lượng công
tác GDTC, đạt được yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo.
Ở địa bàn nghiên cứu, trước yêu cầu đòi hỏi nâng cao chất lượng công tác GDTC,
thực tế đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết, trong đó công tác quản lý là
một vấn đề đặc biệt quan trọng. Tuy vậy, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức và
nghiên cứu đầy đủ. Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá thực trạng và xác lập
các biện pháp quản lý giúp người HT các trường THPT tổ chức, quản lý tốt công tác
GDTC, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở địa phương.
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà trường
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt nó
có liên quan mật thiết đến sự hợp tác và phân công lao động. Khi những con người cùng

10


quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối tác động tương hỗ giữa chủ thể và
khách thể quản lý. Quá trình tác động này có thể được thể hiện qua sơ đồ sau:

Công cụ
Khách thể

Chủ thể quản lý

Mục tiêu

Phương pháp
Cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác
động (tổ chức, điền khiển, chỉ huy) hợp qui luật của chủ thể quản lý trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đã đề ra.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, bản chất của nó là nhằm truyền đạt những
kinh nghiệm, những sáng tạo trong đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội của thế hệ
trước cho thế hệ sau. Chính vì vậy vai trò của giáo dục có một vị trí cực kỳ quan trọng,
là một thành tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội, điều đó được khẳng định bởi chính
sách đầu tư cho giáo dục của các quốc gia. Trong xã hội phát triển, quản lý cũng cần
được thực hiện sự phân công và chuyên môn hoá lao động. Do đó đã tất yếu dẫn đến
một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác quản lý
giáo dục (QLGD), đồng thời hình thành một đội ngũ những người lao động trong lĩnh
vực này, đó là: cán bộ QLGD.
P.V. Khu-đô-min-sky cho rằng: QLGD là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có
mục đích. Nói cách khác: QLGD chính là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
khách thế quản lý, nhằm đưa hoạt dộng giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận

1.2.2.1. Kế hoạch hoá: Là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá:
Một là, xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.
Hai là, xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức, để đạt được mục tiêu
này.
Ba là, trên cơ sở đó quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được
các mục tiêu đã đề ra.
1.2.2.2. Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa
các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành
công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu
quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn nhân lực và vật lực
khác. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của
chủ thể quản lý, phụ thuộc vào việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cũng như tạo
động lực, đặc biệt là năng lực nội sinh của tổ chức. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa
quyết định đối vói việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực. V.I Lênin đã từng khẳng
định: "Tổ chức là cương lĩnh thứ hai".
1.2.2.3. Chỉ đạo (lãnh đạo): Sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy

12


đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo,
dẫn dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động. Chỉ đạo là quá
trình liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức, tập hợp động viên họ hoàn
thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo quan điểm hệ
thống, chỉ đạo là quá trình vận hành, điều khiển hệ thống.
1.2.2.4. Kiểm tra: Là quá trình theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến
hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Nó diễn ra có tính chu kỳ như:
Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.

của Bộ GDĐT.
Quản lý GV, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà
nước.
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với
gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
Tổ chức cho GV, nhân viên, học sinh tham gia các hoạt động xã hội và thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [2,5].
1.3.2. Mục tiêu quản lý của trường THPT
Trước khi xem xét mục tiêu quản lý của trường THPT cần xem xét mục tiêu của
giáo dục phổ thông nói chung và mục tiêu của giáo dục THPT nói riêng. Luật Giáo dục
(2005) xác định:
"Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bả, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” [15,17]
"Mục tiêu của giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả
của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường
về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng
phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống
lao động." [15,17].
Trên cơ sở của các mục tiêu giáo dục THPT, các mục tiêu cụ thể trong quản lý
trường học hợp thành hệ mục tiêu sau đây:
Mục tiêu về phát triển số lượng.
Mục tiêu về nâng cao chất lượng đào tạo.
Mục tiêu về xây dựng đội ngũ trở thành tập thể sư phạm dân chủ, đoàn kết, đủ về
số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu.
Mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học và các
hoạt động giáo dục khác.

động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt
kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương
trình và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;
Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học
sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công
tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện

15


công khai đối với nhà trường;
Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các
chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật [2,13].
Gánh trên vai trọng trách như vậy, đòi hỏi người HT phải thường xuyên phấn đấu,
rèn luyện để thể hiện tốt các vai trò sau đây:
HT là người đại diện Nhà nước về mặt hành chính, thực thi các hoạt động quản lý
trường học trên cơ sở pháp luật nhà nước và các văn bản qui phạm pháp luật của các cơ
quan quản lý hữu quan. HT là người đại diện cho chính quyền về mặt thi hành luật, HT
quản lý hành chính nhà nước bằng pháp luật.
HT trường THPT là một nhà sư phạm mẫu mực, đóng vai trò là con chim đầu đàn
của tập thể sư phạm nhà trường bằng cách thường xuyên chăm lo việc bồi dưỡng nâng
cao nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ, biết chăm sóc tinh hoa của đơn vị, biết trân trọng
người tài năng. Muốn thực hiện tốt vai trò này ngưòi HT phải trải nghiệm trong cuộc
sống, am tường về khoa học giáo dục, khoa học và phương pháp dạy học bộ môn, phải
dạy giỏi một môn mà mình được đào tạo.
HT trường THPT phải là nhà cách tân giáo dục, luôn luôn tìm tòi, đổi mới hoạt
động sư phạm, đổi mới hoạt động quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và hiệu quả

GDTC là một quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó thể hiện ở việc giảng dạy
các động tác và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các tố chất thể lực của con
người[12,7].
Trong giáo dục học, giáo dục được hiểu là một quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, có phương pháp và phương tiện... nhằm hình thành, phát triển những năng lực,
phẩm chất của con người để đáp ứng những yêu cầu của một xã hội nhất định.
Khái niệm GDTC nằm trong khái niệm chung của giáo dục theo nghĩa rộng, là
một quá trình sư phạm, hướng vào việc bồi dưỡng kiến thức vận động rèn luyện thể lực,
ý chí, trau dồi đạo đức, tác phong và các yếu tố tinh thần khác nhằm hoàn thiện cơ thể,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản của con người, phát triển các phẩm chất và
khả năng về thể lực, hình thành lối sống lành mạnh, kéo dài thời gian hoạt động sáng tạo
của con người, giúp con người thực hiện tốt nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc.
GDTC được xác định trước hết là một quá trình truyền thụ và lĩnh hội các tri thức
thuộc lĩnh vực TDTT, rèn luyện kỹ năng, hình thành các kỹ xảo vận động và phát triển
các phẩm chất thể lực của con người, tổng hợp các nét đặc trưng ấy sẽ quyết định năng
lực làm việc chủ yếu về mặt thể lực của con người, tạo nên sự phát triển hài hoà giữa thể
chất và tinh thần .
Để giải quyết những nhiệm vụ theo các đặc trưng của mình trong quá trình
GDTC, cần phải tiến hành các hoạt động giảng dạy động tác và các phẩm chất thể lực.
Về mặt thực tiễn, GDTC là một quá trình chuẩn bị thể lực cho con người để thực
hiện các nhiệm vụ hoạt động do xã hội quy định (như lao động, học tập, sinh hoạt,...).
Trong hệ thống các hiện tượng sư phạm thì GDTC có ý nghĩa hàng đầu, như một
nhân tố chuyên môn để tác động có mục đích đến sự phát triển của con người và đến
các thuộc tính tự nhiên có liên quan trực tiếp đến năng lực đó của cơ thể.
GDTC là một lĩnh vực giáo dục được tiến hành dưới hình thức bắt buộc, thể hiện

17


ở hai khía cạnh là: Giáo dục theo chương trình quy định trong nhà trường và giáo dục

tinh, tai thính, cảm giác vận động nhạy bén hơn, làm phát triển những phẩm chất trí tuệ
chuyên biệt như tư duy thực hành, óc quan sát, tính linh hoạt, nhạy cảm với các hoạt
động nhận thức, có khả năng tưởng tượng phong phú, có khả năng phân tích, tổng hợp
nhanh, khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa, trí nhớ tốt, có cảm giác về thời gian,
không gian chính xác hơn... Đồng thời GDTC giúp HS có được một sự hiểu biết khoa
học nhất định về các động tác, kỹ thuật tập luyện, môi trường thiên nhiên và xã hội, cách
tổ chức hợp lý chế độ sinh hoạt, học tập hợp lý.
Đối với giáo dục đạo đức (đức dục):
Dưới góc nhìn biện chứng có thể thấy rằng: Tư tưởng đạo đức của một con người
luôn tồn tại gắn liền với một cơ thể nhất định, cho nên, nếu cơ thể phát triển bình
thường, khỏe mạnh thì thần kinh tốt, tâm hồn minh mẫn, cuộc sống vui tươi. Bởi vậy tác

19


động của GDTC trong nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng đói với sự hình thành và
phát triển nhân cách cho HS. Việc tập luyện TDTT giúp cho HS nhận thức sâu sắc bản
chất ưu việt của công tác GDTC dưới chế độ XHCN, thấy được vị trí quan trọng của nó
đối với đời sống vật chất và tinh thần của mọi người, như lời dạy của Bác Hồ: “Luyện
tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.
Việc tập thể dục và hoạt động thể thao đòi hỏi HS thể hiện hành vi đạo đức ngay
trong thao tác và tinh thần thái độ tập luyện hằng ngày; phải phát huy cao độ nghị lực,
tính tổ chức kỷ luật, thái độ chấp hành các quy tắc, luật định trong thi đấu; rèn luyện cho
HS tính kiên trì, lòng dũng cảm, ý chí vượt qua gian khổ, tinh thần lạc quan, ý thức tập
thể, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, đồng thời giúp cho HS có thái độ đúng đắn với
môi trường, với sức khoẻ của bản thân và của mọi người.
Đối với giáo dục thẩm mỹ (mỹ dục):
Bản thân các động tác TDTT đã chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật thẩm mỹ như
sự nhịp nhàng, đều đặn, khéo léo, uyển chuyển hài hoà giữa sức mạnh cơ bắp với sức
mạnh tinh thần, hay cái đẹp của hành vi dũng cảm, ý chí kiên cường vượt khó trong tập

Điều 41, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận:"...
quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học”. Tính chất bắt buộc này xuất phát từ
ý nghĩa to lớn của GDTC trong nhà trường. Mục tiêu của GDTC trong trường THPT là
nhằm góp phần đào tạo thế hệ thanh niên thành những người phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, nâng cao trình
độ TDTT, góp phần tích cực vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và giao lưu quốc tế. Mục tiêu này vừa mang tính nhân
văn, vừa mang tính hiện thực. Trên cơ sở đó, mục tiêu cụ thể của môn thể dục ở trường
THPT là giúp HS:
Nắm được một số kiến thức, kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khoẻ, nâng
cao thể lực.
Góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kĩ luật, thói quen
tập luyện TDTT.
Có sự phát triển về thể lực, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng
của bản thân về TDTT.
Biết vận dụng ở mức nhất định những điều đã học vào nếp sinh hoạt trong và
ngoài nhà trường.
1.4.4. Nhiệm vụ của công tác GDTC
GDTC trong trường THPT là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp
TDTT nói chung; nó được tiến hành phù hợp với đặc điểm về giải phẩu, tâm - sinh lí,
giới tính của học sinh và các yêu cầu khác. Căn cứ vào nhiệm vụ chung của hệ thống
GDTC, nhiệm vụ của GDTC trong trường THPT được cụ thể hoá như sau:
1.4.4.1. Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
Thúc đẩy sự phát triển hài hoà cơ thể đang trưởng thành, tăng cường quá trình
trao đổi chất, củng cố và rèn luyện hệ thần kinh vững chắc, giữ gìn và hình thành các tư
thế hoạt động tốt.
Phát triển một cách hợp lý các tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản; nâng

21


hạt giống chưa hoặc đang bắt đầu nảy mầm ở các trường phổ thông. Do đó, quá trình
GDTC cho HS thông qua các môn thể dục, thể thao sẽ làm xuất hiện những HS có khả
năng tham gia hoạt động này với thành tích tốt nhất, trong một thời gian ngắn. Phát hiện
và bồi dưỡng học sinh có khả năng về thể dục, thể thao phải gắn liền với tổ chức các
hoạt động TDTT phong phú, đa dạng và việc truyền thụ tri thức về TDTT một cách có

22


hệ thống. Bồi dưỡng nhân tài TDTT được tiến hành thông qua nhiều con đường, dưới
nhiều hình thức khác nhau và không tách rời sự giúp đỡ của tập thể.
1.4.5. Các hình thức tổ chức GDTC trong trường THPT
1.4.5.1. Giờ thể dục
Đây là loại giờ học bắt buộc thực hiện thống nhất theo chương trình quy định của
nhà nước nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong nhà trường. Hiệu quả của GDTC không
những chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn các phương tiện thích hợp, vận dụng các nguyên
tắc và phương pháp giảng dạy khoa học, mà còn tổ chức các hình thức tập luyện sinh
động hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và hoàn cảnh cụ thể. Lên lớp là hình thức tổ
chức cơ bản nhất của quá trình GDTC trong nhà trường nói chung, trong trường THPT
nói riêng.
1.4.5.2. Các hình thức nghỉ ngơi tích cực
Đây là hình thức tập luyện hằng ngày có tổ chức theo nhóm các cá nhân HS như
thể dục buổi sáng, các trò chơi vui khoẻ.
1.4.5.3. Các hoạt động ngoại khoá
Đây là các hoạt động nhằm phục vụ cho các hoạt động nội khoá do nhà trường
quản lý, gồm các tổ nhóm rèn luyện ngoài giờ, đội tuyển, các hoạt động thi đấu HKPĐ
các cấp, tham quan và nghe kể chuyện về TDTT... Các hoạt động này cũng do nhà
trường quản lý thống nhất theo kế hoạch chung.
1.4.6. Các nội dung GDTC ở trường THPT
GDTC là một quá trình giáo dục nhằm nâng cao sức khoẻ cho học sinh, bao gồm:

Các hoạt động của giáo viên:
Bao gồm việc giải thích mục đích, nhiệm vụ học tập, xác định yêu cầu cụ thể và
tổ chức HS tập luyện, thực hiện, theo dõi các hoạt động của HS, phân tích đánh giá kết
quả việc thực hiện, điều chỉnh lượng vận động, đồng thời phê phán uốn nắn một cách tế
nhị các hành vi của HS, xây dựng mối quan hệ giữa HS với nhau. Hoạt động chủ đạo
này của nhà sư phạm giữ vai trò tổ chức, điều khiển, định hướng, kiểm tra và kích thích
sự hoạt động tích cực của HS.
Các quá trình tâm - sinh lí và sự biển đổi trong cơ thể của HS:
Các quá trình tâm - sinh lí và sự biến đổi trong cơ thể của HS xuất hiện đồng thời
với các hoạt động của chúng. Các quá trình này tích luỹ dần và dẫn đến sự biến đổi nhảy
vọt trong các hệ thống chức năng, hình thái của cơ thể, trong các tri thức, kĩ năng và kĩ
xảo, trong các hành động của HS.
Tất cả những cái đó là mặt tiềm tàng nội tại của nội dung giờ học. Nội dung này
còn là các chỉ tiêu kiểm tra các tình huống đang diễn ra, cũng như các kết quả về giáo
dục, giáo dưỡng và sức khỏe. Đồng thời chúng phục vụ cho việc định hướng các giờ học
tiếp theo nhằm bảo đảm tính khoa học và hệ thống của quá trình GDTC.[12,146]
1.4.6.2. Các nội dung TDTT ngoại khoá tại nhà trường
Đây là những hoạt động hằng ngày (nhằm phục vụ cho hoạt động nội khoá do nhà
trường quản lý) có tổ chức theo nhóm hoặc cá nhân HS như thể dục và các trò chơi vận
động, các môn thể thao...
Tổ nhóm rèn luyện ngoài giờ, đội tuyển, các hoạt động thi đấu HKPĐ, tham quan,

24


cắm trại, nghe nói chuyện về TDTT...
1.4.7. Các phương pháp giáo dục thể chất
GDTC là một quá trình sư phạm, do đó các phương pháp GDTC về bản chất cũng
chính là phương pháp sư phạm, nhưng mang những đặc điểm của GDTC.
Ngoài việc sử dụng phương pháp giảng dạy chung như dùng lời nói, trực quan,...

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status