A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài:
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có
vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS góp phần
hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho
các em bước vào cuộc sống mới hoặc tiếp tục học lên bậc trung học phổ thông.
Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng gia
đình, bè bạn. Có lòng yêu nước, quý trọng truyền thống dân tộc, biết hướng tới
những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, có lòng căm
thù cái ác, cái xấu...
Phương pháp làm văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, đoạn
thơ, bài thơ, còn nhiều hạn chế: Đây là một tiết học mang tính khái quát, trừu
tượng mà thời lượng rất ít, học sinh chưa định hình được các bước tạo lập văn
bản nghị luận văn học. Trong thực tế, thời lượng đòi hỏi phương pháp tạo lập
văn bản nghị luận không nhỏ. Ngay ở lớp 6 đã có một số tác phẩm văn chương
hiện đại. Lên lớp 7 các em còn được học một số tác phẩm văn chương hay và
khó cả ở Văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, nhất là một số bài thơ
Đường... Đối với học sinh lớp 6, lớp 7, việc nhận thức về kiến thức tạo lập văn
bản rất mờ nhạt, các em chưa hiểu được khái niệm kiểu bài, thể loại. Và chưa
định hình việc tạo lập văn bản nghị luận văn chương là gì ? Đặc biệt nhiều em
chưa có khả năng tạo lập đoạn văn nên việc tạo lập văn bản lại càng khó hơn.
Chính vì lẽ đó đến lớp 8, 9, kiến thức tạo lập văn bản nghị luận về văn học lại
trở thành vấn đề xa lạ.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, môn Ngữ văn lớp 9
nói riêng, tuy giáo viên đã giúp học sinh nắm các yêu cầu về đoạn văn, cách làm
bài nghị luận ở từng kiểu bài, nhưng kĩ năng viết đoạn, viết bài nghị luận của
học sinh chưa thật thành thạo. Các em còn lúng túng, hành văn chưa mạch lạc,
chặt chẽ, nhất là đối với đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống. Trong quá
trình làm bài kiểm tra ở lớp cũng như ở kiểm tra học kì 1, học kì 2, thi tuyển vào
lớp 10 ở môn Ngữ văn nhiều năm qua, học sinh làm bài văn nghị luận về tác
phẩm văn học còn rất nhiều hạn chế. Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung
- Tiến hành thực nghiệm trong các tiết dạy ở lớp 9A, 9B.
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã biết, yêu cầu của chương trình Ngữ văn THCS là học sinh
phải tập tạo lập văn bản hoàn chỉnh. Văn bản là gì? Văn bản là sản phẩm của
hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một thể thống nhất có tính chất trọn
vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức.Muốn tạo lập được một văn bản hoàn
chỉnh trước hết đòi hỏi mỗi học sinh phải tạo lập được đoạn văn.
2
Vậy đoạn văn là gì? Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu
từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường
biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ
ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ,
các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung
khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc
cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ
chủ đề của đoạn văn. (SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36).
Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ
nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ
dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt
chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản
có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trình tự nhất định:
+ Đoạn mở đầu văn bản.
+ Các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn
bản thành các khía cạch khác nhau).
+ Đoạn kết thúc văn bản.
Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội
nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng
hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề. Khi viết đoạn văn tổng - phân - hợp,
cần biết cách khái quát, nâng cao để tránh sự trùng lặp của hai câu chốt trong
đoạn.
- Đoạn lập luận tương đồng là cách trình bày đoạn văn có sự so sánh tương
tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạn
văn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến.
- Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về
nội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc
sống,…tương phản nhau.
- Đoạn lập luận theo suy luận nhân quả: Có 2 cách: Trình bày nguyên nhân
trước, chỉ ra kết quả sau. Hoặc ngược lại chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên
nhân sau.
- Đoạn lập luận đòn bẩy là cách trình bày đoạn văn mở đầu nêu một nhận
định, dẫn một câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc
trái với ý tưởng (chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích
sâu sắc ý tưởng đề ra.
Các câu trong đoạn văn cũng như các đoạn trong bài phải có sự liên kết
chặt chẽ với nhau về nội dung cũng như hình thức:
- Về nội dung:
4
+ Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục
vụ chủ đề chung của đoạn văn.( Liên kết chủ đề).
+ Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí( Liên kết
lôgic).
- Về hình thức: Các câu, các đoạn văn phải được liên kết với nhau bằng
một số biện pháp chính như:
+ Phép lặp: Lặp lại ở đầu câu đứng sau từ ngữ đã có ở câu trước.
Tổng
KẾT QUẢ XẾP LOẠI
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
số học
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
sinh
9A
35
2
5,7%
6
17,1% 16 45,7% 11 31,5%
9B
35
1
2,9%
7
20,1% 17 48,5% 10 28,5%
Qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy số học sinh không có kĩ năng viết
đoạn còn nhiều, số học sinh có kĩ năng viết đoạn thành thạo còn ít. Trên bài làm
bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm
những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
Sơ đồ:
(1) (câu chủ đề nêu luận điểm)
(2)
(3)
(4) … (câu nêu các ý chi tiết, cụ thể )
- Cách qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch đi từ các ý chi
tiết, cụ thể đến ý khái quát. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được
trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh
giá chung.
Sơ đồ:
(1)
(2)
(3)...(câu nêu các ý chi tiết, cụ thể )
( Câu cuối - câu chủ đề nêu luận điểm)
- Cách tổng phân hợp: là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở
đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết
đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai
triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,
nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
(Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)
* Yêu cầu của đề:
- Nội dung: Đoạn thơ thể hiện khát vọng chân thành, tha thiết của tác giả
muốn làm một mùa xuân nho nhỏ đẻ dâng hiến cho cuộc đời hoà cùng mùa xuân
của dân tộc. Lí tưởng ấy là ước nguyện của nhiều người, ở mọi lứa tuổi...
- Hình thức: Viết đoạn văn ngắn.
- Yêu cầu ngữ pháp: Phép nối, phép lặp...
Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn:
Câu chủ đề là câu nêu ý của cả đoạn văn, vì vậy đó là câu đặc biệt quan
trọng. Khi viết đoạn cần chú ý đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề, từ đó xác
định câu chủ đề.
Có những đề không cho sẵn câu chủ đề, có đề cho sẵn câu chủ đề, có
những đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câu
chủ đề, có đề lại có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề.
8
Ví dụ 1: Nêu ở bước 1 trên là đề không cho câu chủ đề. Để viết được câu
chủ đề, ta phải nắm vững nội dung của đoạn ở đề ra, từ đó xác định câu chủ đề.
Ví dụ 2: Đề cho sẵn câu chủ đề:
Cho câu chủ đề: “ Người đồng mình sống vất vả, cực nhọc, đói nghèo mà
vẫn bền bỉ, khoáng đạt, giàu chí khí, niềm tin, bất chấp vượt qua những thử
thách, gian nan bằng tình yêu và lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê
hương”. Hãy viết một đoạn văn diễn dịch teình bày luận điểm đó.
Bước 3: Tìm ý cho đoạn ( Triển khai ý):
Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến thức
đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết. Nếu bỏ
thành đoạn văn đủ số câu, đánh thứ tự các câu trong đoạn, trình bày thành đoạn
văn đảm bảo sự liên kết cả nội dung lẫn hình thức.
Sáu câu thơ cuối đoạn trích “Cảnh ngày xuân”đã miêu tả cảnh chị em Thuý
Kiều du xuân trở về.(1) Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa
xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang. (2)
Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người
thơ thẩn, dòng nước uốn quanh.(3) Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết.(4)Cảnh
đã có sự thay đổi về thời gian và không gian: Không còn bát ngát, trong sáng,
không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần,
lặng dần.(5)Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng.(6)Những từ láy “tà tà”, “thanh
thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng
con người.(7)Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.
(8)Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần
nuối tiếc, lặng buồn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn
không thể nói hết.(9) Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân
đã hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống,
nhạy cảm và sâu lắng.(10)
Trong đoạn trên Câu 1 là câu mở đoạn, nêu ý chủ đề của cả đoạn văn. Các
câu còn lại( từ câu 2 đến câu 10), nêu các ý cụ thể, phân tích nội dung, nghệ
thuật của sáu câu thơ.
Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn
chỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề. Tuy nhiên không phải
học sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài. Điều này giáo viên
phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh. Đặc biệt để
hình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyện
qua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp.
3. Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh bằng các dạng
bài tập.
10
câu chủ đề, 10 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề. Đây
là đoạn văn phân tích có kết cấu diễn dịch. Từ ngữ chủ đề: Kiều, nàng, Ngưng
Bích, hoàn cảnh, tâm trạng, cảnh, hình ảnh...
2. Bài tập 2:
11
Đoạn văn sau trình bày nội dung theo cách nào? Chỉ rõ cách trình bày nội
dung đoạn văn?
“Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo(1).
Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng(2). Bất chợt chiến sĩ
ta có một phát hiện thú vị: Đầu súng trăng treo(3). Câu thơ như một tiếng reo
vui hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa(4). Trong sự tương phản giữa súng và
trăng, người đọc vẫn tìm ra được sự gắn bó gần gũi(5). Súng tượng trưng cho
tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược(6). Trăng tượng trưng cho
cuộc sống thanh bình, yên vui(7). Khẩu súng và vầng trăng là hình tượng sóng
đôi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam bất khuất và hào
hoa muôn thuở(8). Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạng bay bổng đã hoà
quyện lẫn nhau tạo nên hình tượng thơ tuyệt tác để đời(9).”
Mô hình đoạn văn: Tám câu đầu triển khai phân tích hình tượng thơ trong
đoạn cuối bài thơ “Đồng chí”, từ đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ
đề, thể hiện ý chính của đoạn: đánh giá về hình tượng thơ. Đây là đoạn văn phân
tích thơ có kết cấu quy nạp. Nội dung phân tích đoạn kết bài thơ “Đồng chí” của
Chính Hữu..
3.Bài tập 3:
Đoạn văn dưới đây lập luận theo cách tổng - phân - hợp phân tích khổ thơ
học sinh sửa lại cho chuẩn:
Ví dụ: bài tập 1:
Khi viết đoạn văn phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện
người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một bạn học sinh đã viết câu mở
đọan như sau:
“Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ vừa là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung tốt đẹp lại
là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, là người vợ thuỷ chung với chồng, là
người mẹ hiền của con chồng”.
Chỉ ra các lỗi trong câu văn trên? Hãy viết câu văn sau khi đã sửa lại cho
đúng?
Yêu cầu với bài tập:
- Chỉ ra các lỗi trong câu văn:
+ Câu chủ đề còn dài, ý rườm rà, có ý không lô gíc: là người mẹ hiền của
con chồng”.
13
+ Cấu trúc câu không hợp lí: Phụ từ “vừa” không bao giờ đi một mình mà
phải đi thành cặp: ...vừa...vừa...
- Viết lại câu chủ đề: Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người
con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung
tốt đẹp, người con hiếu thảo, người vợ thuỷ chung, người mẹ yêu con tha thiết”.
Bài tập 2:
a.Chép lại câu viết dưới đây, sau khi đã sửa hết các lỗi chính tả, ngữ pháp:
"Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê bằng những nét
đặc xắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể truyện đã làm nổi bật tâm hồn
trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh lạc quan trong cuộc sống
chiến đấu của những cô gái thanh niên sung phong trên tuyến đường Trường
Sơn".
mà là viết cả các câu phát triển, và không phải chỉ có yêu cầu viết đoạn mà còn
có cả yêu cầu ngữ pháp kèm theo, vì đây là bài tập được thực hiện vào cuối năm
học khi các kĩ năng viết đoạn của học sinh đã cơ bản được củng cố, thành thạo
và cần rèn luyện thêm các yêu cầu khác cho quen với dạng đề thi vào 10.
3.2.1.2. Cho đoạn thơ hoặc đoạn văn cần phân tích, yêu cầu học sinh
xác định câu chủ đề cho đọan đó.
Ví dụ: Bài tập 1:
Cho đoạn thơ sau: “ Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.
( Trích “Cảnh ngày xuân”- Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Hãy viết câu chủ đề cho đoạn văn phân tích đoạn thơ trên?
Bài tập 2:
Khi phân tích sáu câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, em sẽ viết
câu chủ đề như thế nào?
Thực chất yêu cầu viết câu chủ đề cũng chính là yêu cầu xác định nội dung
cần viết trong đoạn văn. Muốn viết được câu chủ đề, học sinh phải nắm được
nội dung của đoạn thơ, đoạn văn mà đề yêu cầu phân tích. Điều này các em phải
tích hợp kiến thức ở cả ba phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn.
Với bài tập 1, ta có thể viết câu chủ đề:
“Bốn câu thơ đầu đoạn trích“Cảnh ngày xuân”( Trích trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du) là bức họa tuyệt đẹp về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân.
15
Hoặc: Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã vẽ nên bức hoạ tuyệt đẹp
về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân.
Với bài tập 2, ta có thể viết câu chủ đề:
16
giả dùng thành ngữ “nghiêng nước, nghiêng thành” để cực tả giai nhân, đồng
thời là lời ngợi ca nhân vật. Chân dung của Thuý Kiều cũng là chân dung mang
tính cách số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá phải ghen ghét, phải đố kị
“hoa ghen, liễu hờn”. Điều này dự báo tương lai số phận nàng sẽ éo le, đau khổ.
- Câu chốt đoạn:
Như vậy, chỉ bằng mấy câu thơ trong đoạn trích, Nguyễn Du đã không chỉ
miêu tả được nhân vật mà còn dự báo được trước số phận của nhân vật; không
những truyền cho người đọc tình cảm yêu mến nhân vật mà còn truyền cả nỗi lo
âu phấp phỏng về tương lai số phận nhân vật.
Bài tập 2:
Cho câu chủ đề: So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn
Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm
tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách.
Hãy viết đoạn văn có sử dụng câu trên làm câu chủ đề, trong đoạn có sử
dụng cách lập luận so sánh tương đồng hoặc tương phản, suy luận nhân quả...
So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước
cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc
trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách. Đó chính là nhờ vào đường lối
giác ngộ cách mạng của Đảng, Bác Hồ với họ. Lão Hạc và ông Hai có những
điểm tính cách khác nhau nhưng họ vẫn có những phẩm chất của những người
nông dân giống nhau, đều hiền lành, chất phác, lương thiện. Cách mạng tháng
Tám thành công đã đem đến sự đổi đời cho mỗi người nông dân. Từ một thân
phận nô lệ phụ thuộc họ trở thành một người tự do làm chủ cuộc đời, làm chủ
đất nước. Từ đó đã củng cố và làm nền tảng vững chắc cho tình yêu quê hương,
đất nước, trở thành một tình cảm vững bền, thiêng liêng sâu nặng, nồng cháy
trong họ. Trong hoàn cảnh toàn dân đang hướng tới cuộc kháng chiến chống
Pháp, bảo vệ độc lập dân tộc, ông Hai đã biết đặt tình yêu đất nước lên trên tình
- Hình thức: Viết đoạn văn diễn dịch.
- Nội dung: Phân tích sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.
Sáu câu thơ cuối miêu tả cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về. Cảnh vẫn
mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe
nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang. Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời
từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Một bức
tranh thật đẹp, thanh khiết. Cảnh đã có sự thay đổi về thời gian và không gian:
Không còn bát ngát, trong sáng, không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của
lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần. Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng.
Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh
vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm
18
màu tâm trạng lên cảnh vật. Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều
ra về trong sự bần thần nuối tiếc, lặng buồn. “dan tay” tưởng là vui nhưng thực
ra là chia sẻ cái buồn không thể nói hết. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về
một ngày vui xuân đã hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm
vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng. Đoạn thơ hay bởi đã sử dụng các bút pháp
cổ điển: tả cảnh gắn với tả tình, tả cảnh ngụ tình.
3.2.4. Viết đoạn văn, với yêu cầu cụ thể về hình thức, kèm theo các yêu
cầu về liên kết câu, ngữ pháp.
Ví dụ:
Bài tập 1: Cho ba câu thơ:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Viết một đoạn văn ngắn từ 10 đến 12 câu theo phép luận luận Tổng hợp Phân tích - Tổng hợp để phân tích cái hay mà em cảm nhận được từ ba câu thơ
trên. Chỉ ra các phép liên kết em đã sử dụng trong đoạn văn.
Gợi ý
(Nói với con – Y Phương)
Trong đoạn có sử dụng:
+ Lời dẫn trực tiếp.
+ Phép lặp.
(Có gạch chân hoặc chú thích)
Gợi ý :
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.”
Những câu thơ là lời người cha nói với con về đức tính của “người đồng
mình” . Người cha ca ngợi đức tính cao đẹp của “người đồng mình” bằng
những hình ảnh đầy ấn tượng : “Người đồng mình thô sơ da thịt/ Chẳng mấy
ai nhỏ bé đâu con”. Đó là những con người chân chất, khoẻ khoắn. Họ mộc
mạc mà không nhỏ bé về tâm hồn. Họ giàu ý chí và niềm tin. Họ tự chủ trong
cuộc sống, biết “tự đục đá kê cao quê hương” bằng tinh thần cần cù lao động,
bằng ý chí và nghị lực. Họ muốn giữ lấy bản sắc văn hoá duy trì những tập quán
tốt đẹp của người đồng mình. Họ tha thiết yêu quê hương, lấy quê hương làm
chỗ dựa vững chắc cho tâm hồn. Nói với con những điều đó, người cha mong
con biết tự hào về truyền thống quê hương, tự hào về dân tộc để tự tin hơn
trong cuộc sống của mình.
20
- Các từ in đậm, nghiêng: phép lặp.
- Câu gạch chân in đậm, nghiêng: lời dẫn trực tiếp.
IV. KẾT QUẢ SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
Qua hai năm thực hiện đề tài, tôi nhận thấy kĩ năng dựng đoạn của học sinh
Yếu
T
S
%
T
S
%
T
S
%
TS
%
9A
35
2
5,7%
28,5%
9A
35
9
26,3%
12
31,8%
12
36,8%
2
5,3%
9B
35
7 20,0% 13 37,1% 12 36,8% 3
8,6%
So với kết quả khi chưa thực hiện đề tài, kết quả có thay đổi rõ rệt, tỉ lệ
khá giỏi tăng, tỉ lệ trung bình, yếu giảm.
Kết quả này cũng được khẳng định một cách khách quan qua các kì thi
tuyển học sinh giỏi Ngữ văn 9 và thi vào 10 môn Ngữ văn của trường THCS
- Đặc biệt là phải cho học sinh nắm vững kiến thức về các tác phẩm văn
học ( qua các giờ học phân môn Văn) để có nội dung thực hành khi viết đoạn.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi qua việc thực hiện đề tài ở trường
THCS Nguyễn Thiếp. Tuy nhiên, đây chỉ là kinh nghiệm mang tính chủ quan
của bản thân và mới áp dụng trong phạm vi hẹp. Rất mong sự đóng góp ý kiến,
trao đổi, bổ sung của bạn bè đồng nghiệp và sự phổ biến nhân rộng của đề tài để
kết quả giáo dục nói chung, dạy và học văn nói riêng của học sinh ngày càng
được nâng cao.
Xin chân thành cảm ơn!
Thạch Hà, ngày 10 tháng 10 năm 2016
22