Thiết kế và sử dụng hệ thống các thí nghiệm hoá học theo hướng dạy học tích cực chương 7 Crôm - Sắt - Đồng - Hoá học 12 nâng cao - Pdf 47

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học là
vấn đề trọng tâm, then chốt của giáo dục hiện nay. Với phương châm “Dạy
học lấy học sinh làm trung tâm”, trong đó người thầy là người tổ chức chỉ đạo
giúp học sinh tiếp thu tri thức một cách tích cực, tự giác, chủ động và sáng
tạo. Kiến thức mà học sinh lĩnh hội được phải do chính học sinh tìm tòi, khám
phá, tư duy, sáng tạo trong quá trình học tập chứ không phải thụ động tiếp thu
từ người thầy truyền đạt. Để làm được điều đó, người giáo viên phải tiếp thu
và sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại kết hợp
với việc khai thác những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền
thống cho phù hợp với từng đối tượng học sinh cũng như nội dung dạy học.
Dạy học tích cực là một định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước
ta hiện nay nói chung và đối với bộ môn Hóa học nói riêng.
Thí nghiệm hoá học vừa là phương tiện vừa là phương pháp đặc thù của
bộ môn hoá học. Tuy nhiên để sử dụng hệ thống thí nghiệm hoá học như thế
nào cho hiệu quả, khai thác được tối đa hoạt động tích cực của học sinh, phát
huy được năng lực tư duy và khả năng sáng tạo giúp HS chủ động tích cực
xây dựng kiến thức và rèn kĩ năng học tập hóa học là một điều không phải
nhiều giáo viên hóa học đã thực hiện được.
Chương: “Crom - Sắt - Đồng” ở lớp 12 có một số nội dung quan trọng,
mới so với chương trình hiện hành. Việc sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy
học tích cực chương “Crom - Sắt - Đồng” chưa được đề cập đến trong các tài
liệu SGK, SGV, sách hướng dẫn dạy học khác. Thực tế hiện nay nhiều GV
vẫn còn dạy chay nội dung này hoặc nếu có sử dụng thí nghiệm thì vẫn chưa
theo hướng tích cực. Do đó đề tài: “Thiết kế và sử dụng hệ thống các thí




3.7. Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả của hệ thống thí
nghiệm và phương pháp sử dụng đã đề xuất.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Các thí nghiệm hoá học trong chương 7: “Crom - Sắt - Đồng” thuộc nội
dung Hoá học 12 nâng cao.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc và tổng thuật một số vấn đề lí
luận có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng sử dụng thí
nghiệm theo hướng tích cực chương 7: “Crom - Sắt - Đồng” - Hóa học 12
nâng cao qua tài liệu, quan sát, dự giờ của giáo viên ở một số trường THPT.
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thử nghiệm sư phạm
việc sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực để kiểm tra tính khả thi của đề
tài.
5.4. Phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu, rút ra nhận xét.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được hệ thống thí nghiệm hóa học và sử dụng chúng theo
hướng tích cực một cách hợp lí trong dạy học chương 7: “Crom - Sắt - Đồng”
- Hóa học 12 nâng cao sẽ giúp HS tích cực, chủ động xây dựng kiến thức và
rèn luyện kĩ năng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở trường
THPT.
7. Cái mới của đề tài
Nghiên cứu thiết kế và sử dụng hệ thống các thí nghiệm hóa học trong
chương 7: “Crom - Sắt - Đồng” - Hoá học 12 nâng cao theo hướng dạy học
tích cực.


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

giáo dục phổ thông cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát
triển đất nước. Dạy - học tích cực trong bộ môn Hoá học dựa trên định hướng
đổi mới phương pháp dạy học nói chung.
Dạy học tích cực bộ môn Hoá học vừa có những đặc điểm chung của
phương pháp dạy học vừa có nét đặc thù riêng của bộ môn Hoá học:
- Dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động nhận thức, giúp học
sinh phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập hoá học.
- Chú ý tới phương pháp nhận thức tích cực của học sinh, hình thành kĩ
năng học tập Hoá học tích cực, thói quen tự học từ đó tạo hứng thú học tập,
khơi dậy những tiềm năng vốn có trong học sinh.
- Tạo điều kiện để các học sinh đều được vận dụng kiến thức để giải
quyết một số vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học, thông qua giải các
dạng bài tập đã được quy định trong chuẩn kiến thức và kĩ năng.
- Tổ chức và tạo điều kiện để học sinh phát triển kĩ năng học tập hợp tác
kết hợp học tập cá nhân một cách linh hoạt và có hiệu quả.
- Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh, có sử
dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá đa dạng, khách quan. Đánh giá quá
trình và đánh giá định kì hoá học một cách linh hoạt theo chuẩn kiến thức, kĩ
năng.
1.1.4. Hoạt động dạy tích cực của giáo viên
Dạy Hoá học không phải chỉ đơn thuần là quá trình truyền thụ kiến thức,
thông báo thông tin, “rót” kiến thức vào học sinh mà chủ yếu là quá trình GV
thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động nhận thức tích cực của học sinh để


đạt được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài, chương, phần hoá học cụ thể. Thông
qua đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách học sinh.
Người giáo viên hoá học cần thực hiện các hoạt động cụ thể như:
+ Thiết kế giáo án giờ học bao gồm các hoạt động của học sinh theo các
mục tiêu cụ thể của mỗi bài hoá học mà học sinh cần đạt được.

theo nhóm và rút ra kết luận.
+ Báo cáo kết quả hoạt động cá nhân, nhóm.
- Vận dụng kiến thức kĩ năng đã biết để giải thích một số hiện tượng
hoá học xảy ra trong đời sống và sản xuất.
- Tự đánh giá và đánh giá việc nắm kiến thức kĩ năng của bản thân và
các bạn trong lớp.
- Tự học thông qua việc tham khảo thông tin từ SGK, các tài liệu tham
khảo, các phương tiện thông tin đại chúng và thực tiễn đời sống.
- Chú ý tự rèn cách học tập chủ động, sáng tạo.
1.1.6. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng thiết bị dạy
học theo hƣớng tích cực
Các hình thức tổ chức dạy học tích cực được thay đổi đa dạng, phong
phú để tạo ra một môi trường đảm bảo được mối liên hệ tương tác giữa hoạt
động của giáo viên và hoạt động của học sinh. Đồng thời tạo ra môi trường
an toàn cho học sinh tiến hành các hoạt động học tập có hiệu quả, chất
lượng. Học sinh không chỉ học trên lớp: học tập cá nhân, học tập theo nhóm
mà còn học tập ở nhà, trong thư viện, trên mạng….Học sinh không chỉ thu
nhận thông tin trong SGK mà còn tham quan học tập ở ngoài trời, cơ sở sản
xuất, cơ sở thực tiễn xã hội.


Các phương tiện, thiết bị dạy học được đa dạng hóa, sử dụng đầy đủ và
có hiệu quả các thiết bị dạy học Hóa học tổi thiểu: tranh ảnh, dụng cụ, hóa
chất, mô hình mẫu vật được cung cấp theo danh mục thiết bị tối thiểu và một
số thiết bị dạy học chung: đĩa hình, máy chiếu, phần mềm ứng dụng dạy học
Hóa học. Các phương tiện thiết bị, dạy học được sử dụng chủ yếu như là
nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi phát hiện, thu nhận kiến thức và cả
phương pháp nhận thức giúp học sinh hiểu sâu, nhớ lâu các kiến thức đã học.
1.1.7. Đổi mới phƣơng pháp dạy học Hóa học theo hƣớng sử dụng một
cách tổng hợp và linh hoạt các phƣơng pháp dạy học đặc thù của bộ môn

học sinh nghiên cứu, khai thác tìm tòi kiến thức hóa học. Hạn chế sử
dụng chúng để minh họa hình ảnh, kết quả thí nghiệm mà không có tác
dụng khắc sâu kiến thức.
 Sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học như là nguồn để học sinh tích cực,
chủ động nhận thức kiến thức, hình thành kĩ năng và vận dụng tích cực
các kiến thức và kĩ năng đã học.
 Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học Hóa học theo hướng giúp học
sinh không tiếp thu kiến thức một chiều. Thông qua các tình huống có
vấn đề trong học tập hoặc vấn đề thực tiễn giúp học sinh phát triển tư
duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề.
 Sử dụng SGK Hóa học như là nguồn tư liệu để học sinh tự đọc, tự
nghiên cứu, tích cực nhận thức, thu thập thông tin và xử lí thông tin có
hiệu quả.
 Tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ trong học tập hóa học theo
hướng giúp học sinh có khả năng tự học, khả năng hợp tác cùng học,
cùng nghiên cứu để giải quyết vấn đề trong học tập hóa học và một số
vấn đề thực tiễn đơn giản có liên quan đến hóa học.


 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp
dạy học, đặc biệt ở những địa phương có điều kiện thực hiện. Thí dụ:
+ Sử dụng đĩa CD – ROM có các hình ảnh mô phỏng về một số khái
niệm trừu tượng, một số thí nghiệm độc hại, khó thành công hoặc cần nhiều
thời gian.
+ Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng đơn giản để thiết kế bài học
điện tử, hệ thống câu hỏi và bài tập,…hoặc sử dụng các phần mềm có sẵn.
+ Khuyến khích học sinh khai thác các thông tin theo một số chủ đề có
liên quan đến thực tiễn như vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường,
bài tập trắc nghiệm khách quan…trên mạng internet.
 Áp dụng đổi mới đánh giá kết quả học tập hóa học theo hướng sử

1.2.2. Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm hóa học được coi là cơ sở của việc học hóa học và rèn luyện
kĩ năng thực hành. Vì vậy, việc hình thành và sử dụng có hiệu quả hệ thống
thí nghiệm ở trường phổ thông được đặc biệt quan tâm:
 Thí nghiệm học sinh và thí nghiệm biểu diễn của giáo viên:
+ Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên: là thí nghiệm do giáo viên tự
tay trình bày trước học sinh, được tiến hành khi dạy bài mới nhưng cũng có
thể tiến hành khi ôn tập, thực hành, củng cố hệ thống hóa kiến thức.
+ Thí nghiệm học sinh: là thí nghiệm do học sinh tự làm dưới các
dạng sau:
 Thí nghiệm đồng loạt: của học sinh khi học bài mới ở trên lớp để
nghiên cứu sâu một vài vấn đề nội dung của bài học. Thí nghiệm này được
làm với tất cả các học sinh trong lớp hoặc theo nhóm tùy thuộc vào điều kiện
cơ sở vật chất và nội dung bài học.


 Thí nghiệm thực hành: ở phòng thí nghiệm nhằm củng cố kiến
thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo làm thí nghiệm.
 Thí nghiệm ngoại khóa: như thí nghiệm vui trong các buổi học
ngoại khóa về hóa học.
 Thí nghiệm ở nhà: một hình thức thực nghiệm đơn giản có thể
dài ngày giao cho học sinh tự làm ở nhà riêng.
 Thí nghiệm thực và đĩa CD thí nghiệm:
+ Thí nghiệm thực: là thí nghiệm do giáo viên hoặc học sinh tự thực
hiện trên lớp.
+ Đĩa CD thí nghiệm: là đĩa hình có ghi hình ảnh thí nghiệm thực
giúp học sinh:
 Quan sát một số thí nghiệm khó, độc hại, cần nhiều thời gian để
thực hiện trên lớp, không thực hiện được trong phòng thí nghiệm, mô tả hiện
tượng, rút ra nhận xét.

Sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học được coi là tích cực khi thí
nghiệm hóa học được coi là nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm kiếm
kiến thức mới dưới nhiều hình thức khác nhau.
Tùy theo cách sử dụng mà việc thực hiện phương pháp này có những
điểm khác nhau. Những thí nghiệm thực hiện theo hướng chứng minh cho lời
giảng của giáo viên là những thí nghiệm được sử dụng ít tích cực hơn là
những thí nghiệm được sử dụng theo hướng nghiên cứu.
Mức 1 (ít tích cực):
Giáo viên nêu tính chất hoặc hiện tượng, viết phương trình hóa học
minh họa.


Giáo viên hoặc một học sinh thực hiện thí nghiệm biểu diễn, học sinh
quan sát hiện tượng nhưng chỉ để chứng minh có phản ứng xảy ra hoặc một
tính chất, một quy luật mà giáo viên đã nêu ra.
Ví dụ: Sử dụng thí nghiệm clo tác dụng với đồng để minh họa
tính chất của đồng (tác dụng với phi kim).
Giáo viên thông báo cho học sinh biết:
Đồng có thể tác dụng trực tiếp với Cl2, Br, S... ở nhiệt độ thường hoặc
đun nóng. Ví dụ: Cu cháy đỏ trong bình khí Cl2 có khói nâu và khói trắng tạo
ra. Giáo viên viết PTHH, sau đó tiến hành thực hiện thí nghiệm minh họa cho
những điều mà giáo viên vừa thông báo.
Mức 2 (tích cực):
Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu: Tính chất hóa học, quy luật chưa
biết…
Giáo viên hoặc một học sinh biểu diễn thí nghiệm.
Học sinh nghiên cứu thí nghiệm biểu diễn.
+ Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm.
+ Học sinh quan sát, mô tả thí nghiệm.
+ Học sinh giải thích hiện tượng.

2O3 tan
tạo dung
+ Ống 2: Bột Al2O3 tan dần tạo dung dịch không màu, chứng tỏ Al2O3 tác dụng vớ
HS viết PTHH dạng phân tử và ion rút gọn:
Al2O3 + 6H+ → 2Al3+ + 3H2O
Al2O3 + 2OH- + 3H2O →
2[Al(OH)4]Kết luận:
Al2O3 có tính chất lưỡng tính

- Rút ra kết luận về tính chất của nhôm
oxit?

Mức 3 (rất tích cực)
Giáo viên nêu hoặc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm phát hiện vấn đề
cần tìm hiểu như: Tính chất hóa học, quy luật chưa biết…
Nhóm học sinh nghiên cứu thí nghiệm đồng loạt hoặc theo nhóm.
+ Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm.


+ Học sinh làm thí nghiệm.
+ Học sinh quan sát, mô tả hiện tượng.
+ Học sinh giải thích hiện tượng.
+ Học sinh rút ra kết luận (tính chất của chất, một quy luật, một kết luận
về khả năng phản ứng).
Ví dụ: Sử dụng thí nghiệm để nghiên cứu tính chất hóa học của
dung dịch H2O2
Hoạt động của GV

Hoạt động của HS


+ Cho dd H2O2 vào dd KI không màu (chất khử) tạo ra I2 và KOH.
+ Cho dd H2O2 vào dd KMnO4 màu tím (chất oxi hóa), dd sẽ mất màu.
HS : Viết PTHH
HS rút ra kết luận H2O2 là hợp chất không bền, có tính oxi hóa và tính khử vì trong
oxi có số oxi hóa -1.

- GV: Yêu cầu HS rút ra kết luận về tính
chất hóa học của H2O2 ?

- GV: Nhận xét, bổ sung, đưa ra kết
luận.
1.2.4. Sử dụng các loại thí nghiệm trong dạy học tích cực
Thí nghiệm hóa học được sử dụng theo những cách khác nhau để giúp
học sinh thu thập và xử lí thông tin nhằm hình thành khái niệm, tính chất
chung và tính chất của các chất vô cơ, hữu cơ cụ thể.
1.2.4.1. Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu


Trong dạy học hóa học, sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu
được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực vì nó dạy HS cách tư duy độc
lập, tự lực, sáng tạo và có kĩ năng nghiên cứu tìm tòi. Phương pháp này giúp
học sinh nắm kiến thức vững chắc, sâu sắc và phong phú cả về lí thuyết lẫn
thực tế. Khi sử dụng phương pháp này, học sinh trực tiếp tác động vào đối
tượng nghiên cứu, đề xuất các giả thuyết khoa học, những dự đoán, những
phương án giải quyết vấn đề và lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết. Thí
nghiệm khoa học được dùng như là nguồn kiến thức để học sinh nghiên cứu
tìm tòi, như là phương tiện xác nhận tính đúng đắn của các giả thuyết, dự
đoán khoa học đưa ra. Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện các
hoạt động như:
- Học sinh hiểu và nắm vững vấn đề cần nghiên cứu.

Cho vào ống (1): 2 – 3 ml
nước
cứng dung dịch Ca(HCO3)2 CaCl2; cho vào hoặc
ống (
nước cất.

Cho 1 – 2 ml dung dịch nước xà
phòng vào mỗi ống nghiệm, lắc nhẹ.
- HS quan sát hiện tượng:
+ Ống 1: Không có bọt và có kết tủa nổi

2C17H35COO- +

- Yêu cầu HS rút ra nhận xét?

Ca2+ →

(C17H35COO)2Ca
+ Ống 2: Có bọt và không có kết tủa.
HS rút ra nhận xét:
Nếu giặt quần áo bằng nước cứng thì không sạch.
HS nêu kết luận về: Tác hại của nước cứng trong đ
xuất.

- Yêu cầu HS cho biết thêm tác hại của
nước cứng trong đời sống và sản xuất?

1.2.4.2. Sử dụng thí nghiệm đối chứng
Để hình thành khái niệm hóa học giúp học sinh có kết luận đầy đủ, chính
xác về một quy tắc, tính chất của các chất ta cần hướng dẫn học sinh sử dụng

ra

khỏi dung dịch muối của nó.
- Yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm, - HS: Tiến hành làm thí nghiệm:
quan sát, nhận xét hiện tượng xảy ra?

TN1: Cho vào đáy phễu chiết hình trụ
một lớp bông thủy tinh và tiếp theo là
một lớp mạt sắt có chiều cao 3 - 4 cm.
Kẹp chắc phễu chiết trên giá thí
nghiệm theo chiều thẳng đứng. Đóng
khóa K lại và đổ dung dịch CuSO4
màu xanh lam vào phễu. Đặt cốc thủy
tinh phía dưới cuống phễu và mở
khóa K.
Lấy 2 ml dung dịch trong cốc cho
vào ống nghiệm. Nhỏ tiếp 2 - 3 giọt
dung dịch NaOH.


TN2: Làm tương tự với dung dịch
MgSO4.
- HS quan sát hiện tượng:
TN1: Dung dịch CuSO4 chảy qua lớp mạt sắt. Trên lớp mạt sắt có đồng màu
Khi nhỏ dung dịch NaOH vào thấy có kết tủa trắng xanh xuất hiện.
TN2: Không có hiện tượng xảy ra.
HS nhận xét: Fe tác dụng với dung dịch CuSO4 tạo ra muối sắt (II) và đồn
HS: Viết PTHH

Yêu cầu HS viết PTHH và nêu nhận

lưu huỳnh có số oxi hóa thấp nhất

- Giáo viên nêu mục đích thí nghiệm: Sử

là -2 nên H2S có tính khử mạnh.

dụng thí nghiệm H2S tác dụng với O2 dư để
kiểm tra dự đoán tính khử của H2S.
- Giáo viên biểu diễn thí nghiệm.
- Yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét hiện

- Trước phản ứng: khí không

tượng trước và sau phản ứng.

màu, mùi trứng thối.
- Khi đốt H2S trong không khí
cho ngọn lửa màu xanh nhạt, khí
mùi xốc làm giấy quỳ tím hóa đỏ.
Ở nhiệt độ cao, H2S bị oxi hóa

- Yêu cầu học sinh giải thích hiện tượng,

-

viết phương trình hóa học, xác định vai trò

thành SO2.

các chất tham gia phản ứng?

0

2H2O + 2S

H2S bị oxi hóa thành S0. Yêu cầu HS viết
PTHH?
- Yêu cầu HS rút ra kết luận về tính chất
của H2S?

* Kết luận:
- Hiđro sunfua có tính khử
mạnh.

1.2.4.4. .4. Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề
Trong dạy học nêu vấn đề khâu quan trọng nhất là xây dựng bài toán
nhận thức hay tạo ra các tình huống có vấn đề. Trong dạy học hóa học ta có


thể dùng thí nghiệm hóa học để tạo ra mâu thuẫn nhận thức, gây ra nhu cầu
tìm kiếm kiến thức mới trong học sinh. Khi dùng thí nghiệm để tạo ra tình
huống vấn đề tiến hành theo bước sau:
- Giáo viên nêu ra vấn đề cần nghiên cứu bằng thí nghiệm.
- Tổ chức cho học sinh dự đoán kết quả thí nghiệm, hiện tượng sẽ xảy ra
trên cơ sở kiến thức đã có của học sinh.
- Hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tượng. Hiện
tượng của thí nghiệm không đúng với đại đa số dự đoán của học sinh sẽ tạo ra
mâu thuẫn nhận thức, kích thích học sinh tìm tòi giải quyết vấn đề. Kết quả là
học sinh nắm vững kiến thức, tìm ra con đường giải quyết vấn đề và có niềm
vui của người khám phá.
Ví dụ: Khi dạy về ăn mòn điện hóa, ta có thể sử dụng tình huống có vấn đề:

- HS quan sát hiện tượng:
Lúc đầu có bọt khí H2 thoát ra
từ thanh kẽm. Khi nối hai thanh
kim loại với nhau khí H2 lại thoát
ra từ thanh đồng chứ không phải
thanh kẽm.
- HS ngạc nhiên vì dự đoán không
đúng, xuất hiện câu hỏi tại sao Cu


đứng sau H2 trong dãy hoạt động
khi nhúng vào dung dịch axit lại có khí H2 t
- Mâu thuẫn nhận thức xuất hiện
kích thích tư duy HS.
- Hướng dẫn HS giải quyết mâu thuẫn
1.3. Quy trình thiết kế kế hoạch bài học (giáo án) có sử dụng thí nghiệm
theo hƣớng dạy học tích cực.
Bài soạn cho một tiết dạy học có sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy
học tích cực được chuẩn bị theo các bước sau đây:
Bƣớc 1: Xác định những kiến thức HS đã biết có liên quan và kiến thức,
kĩ năng cần hình thành
Bước xác định đầu tiên này khá quan trọng bởi nếu xác định được
những kiến thức, thí nghiệm HS đã biết có liên quan đến nội dung bài học và
những kiến thức, kĩ năng mới cần hình thành ở HS sau bài học sẽ xác định
được phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp, có hiệu quả và đặc biệt là
sử dụng thí nghiệm như thế nào? Tuy nhiên không nhất thiết phải ghi trong
kế hoạch mà sẽ thể hiện ở tiến trình dạy học, hoạt động cụ thể của GV và HS.
Bƣớc 2: Xác định mục tiêu của bài
Mục tiêu của bài là đích đặt ra cho HS cần đạt được sau khi học bài đó.
- Mục tiêu của bài học chỉ đạo toàn bộ nội dung, phương pháp dạy –

giữa chúng.
Khi sử dụng thí nghiệm để dạy học cần sử dụng theo phương pháp
hướng tới việc tích cực hóa hoạt động của HS.
Bước này rất cần thiết, tuy nhiên có thể ghi hoặc không ghi trong kế
hoạch mà sẽ thể hiện ở tiến trình dạy học, hoạt động cụ thể của GV và HS.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status