Biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT - Pdf 47

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội để
đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống xã hội, giáo dục ý thức pháp
luật xã hội chủ nghĩa cho nhân dân nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước
bằng xã hội trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
(XHCN) Việt Nam. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những
nhiệm vụ trọng yếu của toàn bộ hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Đó là một mắt xích, là giai đoạn đầu của hoạt động thực thi pháp luật.
Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường phổ thông là một trong những vấn
đề có ý nghĩa rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta
hiện nay.
Đất nước ta đã bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, cả nước đang
tiếp tục công cuộc đổi mới sâu sắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định “Tập trung
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục pháp luật, tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành. Xây dựng
môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình
và xã hội, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân
được học tập suốt đời”. Giáo dục pháp luật, tư tưởng chính trị, đạo đức cho học
sinh phổ thông cần được cải tiến và đẩy mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp
giáo dục toàn diện, hài hòa, đáp ứng yêu cầu mới của xã hội.
Giáo dục pháp luật trong các nhà trường là một bộ phận cấu thành của quá
trình tổ chức dạy và học, là bộ phận quan trọng góp phần hình thành nhân cách,
phẩm chất, lối sống cho học sinh theo mục tiêu giáo dục: “Đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Điều 2, Luật Giáo dục). Những mục
tiêu đó chỉ có thể thực hiện được phần lớn thông qua giáo dục pháp luật cho học

tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về quản lý giáo dục
pháp luật, quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông và thực
trạng công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trường THPT tại trong
thời qua, chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường THPT trong địa bàn trong thời
gian đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa tại .
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Khảo sát thực trạng quản lý của Hiệu trưởng các trường THPT về giáo dục
pháp luật cho học sinh trên địa bàn . Các biện pháp được đề xuất cho các trường
THPT trên địa bàn .
Khảo sát thực trạng của 03 trường THPT trên địa bàn : trường THPT Trần
Quý Cáp, Nguyễn Trãi và Trần Hưng Đạo.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh
THPT.
2


Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý về giáo dục pháp luật
cho học sinh các trường THPT trên địa bàn trong những năm qua.
Đề xuất các biện pháp thực hiện tốt hơn công tác quản lý giáo dục pháp
luật tại các trường THPT tại trong thời gian đến.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận

mục tiêu chung. Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý
được các nhà lý luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
“Quản lý là những tác động có tính định hướng, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt
được mục đích nhất định”.
“Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.
Tóm lại: Có thể hiểu quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục
đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các
tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện
biến động của môi trường.
1.1.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành
hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. QLGD tác động lên tập thể
học sinh, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm
huy động mọi lực lượng trong xã hội cùng tham gia vào các hoạt động của nhà
trường để đạt đến mục tiêu dự kiến.
1.1.2. Giáo dục pháp luật
1.1.2.1. Pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà
nước thừa nhận hoặc ban hành, được bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai
cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho
sự phát triển xã hội.
Đặc trưng của pháp luật thể hiện ở tính quy phạm phổ biến, tính quyền lực,
bắt buộc chung và tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.

4


1.2.1. Sự cần thiết phải giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
Thời gian qua, tình trạng vi phạm pháp luật ở lứa tuổi vị thành niên đang có
chiều hướng gia tăng. Trong số đó, có không ít trường hợp là học sinh phổ thông
đang ngồi trên ghề nhà trường.
Xu hướng những kẻ phạm tội ở tuổi vị thành niên ngày càng nhiều làm
dấy lên những lo lắng, quan ngại trong dư luận xã hội. Có thể nhận thấy, ngoài
những nhân tố như: hoàn cảnh, môi trường sống, phương pháp giáo dục của gia
đình, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng trên là những
khoảng trống chưa được khỏa lấp trong công tác giáo dục pháp luật cho học
sinh. Trong chương trình GDCD cho học sinh trung học phổ thông, những kiến
thức cơ bản về pháp luật đã được đưa vào giảng dạy hoặc được lồng ghép tích
5


hợp. Mặc dù vậy, do hạn chế về thời lượng, cùng với đó là phương pháp truyền
thụ của giáo viên chưa thực sự sinh động, hấp dẫn, những kiến thức pháp luật
cần thiết thì còn phổ biến chung chung nên học sinh thường có suy nghĩ rằng lứa
tuổi các em chưa phải chịu trách nhiệm pháp lý hoặc có chăng thì chỉ là cảnh
cáo. Chính những nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, mơ hồ đã dẫn
đến ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt, thậm chí là có những hành vi coi
thường pháp luật. Do đó, việc giáo dục pháp luật cho học sinh ở bậc học này vì
thế là rất cần thiết. Việc làm này nhất thiết phải có sự đồng thuận, thống nhất từ
gia đình, nhà trường đến cộng đồng nhằm xây dựng môi trường xã hội lành
mạnh, từ đó, ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của
mỗi học sinh.
1.2.2. Mục tiêu của giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
Mục tiêu của giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạo nên cấu trúc
bên trong của giáo dục pháp luật, là cái đích hướng tới các hoạt động giáo dục
pháp luật. Việc xác định đúng đắn mục tiêu cần đạt được trong quá trình giáo
dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nội dung, hình thức,

người hoạt động ở trong những lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau. Ngoài
việc giáo dục những khái niệm pháp luật cơ bản, cần GDPL có nội dung liên quan
trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của đối tượng, các quyền và nghĩa vụ công dân
trong lĩnh vực hoạt động của họ và trình tự giải quyết các tranh chấp phổ biến liên
quan đến lĩnh vực nghề nghiệp.
Thứ ba: Giáo dục luật chuyên ngành cho những người hành nghề pháp
luật. Đây là mức độ cao nhất, được thực hiện nhằm mục đích đào tạo các chuyên
gia pháp luật cho bộ máy nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… Sự
hiểu biết của đối tượng này bao gồm những tri thức pháp luật mang tính chuyên
sâu về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
1.2.5. Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật
1.2.5.1.Hình thức giáo dục pháp luật
GDPL cho đối tượng là học sinh THPT là một hoạt động tác động trực tiếp
vào quá trình hình thành nhân cách con người. Do vậy GDPL phải được tiến
hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Hiệu quả của công tác GDPL tùy thuộc rất
nhiều vào việc sử dụng các hình thức giáo dục.
Hình thức GDPL là một yếu tố có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả giáo dục. Việc áp dụng các hình thức giáo dục phải lựa chọn trên cơ sở
phù hợp với nội dung và điều kiện, phù hợp với chương trình theo từng khối,
từng cấp học của các em.
Qua nghiên cứu thực tế, GDPL cho học sinh THPT có thể được tiến hành
theo 2 hình thức cơ bản sau:
Các hình thức GDPL mang tính phổ biến, truyền thống được sử dụng trong
nhiều loại hình thức giáo dục như: nói chuyện pháp luật, dạy và học pháp luật
trong các trường THPT, qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, tác
phẩm văn học nghệ thuật, câu lạc bộ pháp lý, thi tìm hiểu pháp luật, hội nghị,
hội thảo, nói chuyện pháp luật ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức quần chúng,
khu dân cư, hội thảo khoa học pháp lý.
Các hình thức mang tính đặc thù của GDPL. Tính đặc thù này thể hiện
trong mối quan hệ tác động giữa GDPL và ý thức, hành vi của công dân. Nội


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TRONG THỜI GIAN
QUA
(Giai đoạn 2014- 2016)
(TẠI SAO Ở PHẦN KẾT CẤU TIỂU LUẬN C ĐỂ LÀ 2013 ĐẾN 2016
MÀ?)
2.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
thuộc , có tổng diện tích tự nhiên 61,71 km2, nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông
Thu Bồn, ở vị trí địa lý từ 15 015’26” đến 15055’15” vĩ độ Bắc và từ 108017’08”
đến 108023’10” kinh độ Đông; cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách
Đà Nẵng 25 km về phía Đông Nam, cách Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông
Bắc;
Phần đất liền của có diện tích 46,22 km2 (chiếm 74,9% tổng diện tích tự
nhiên toàn ), có hình thể gần giống như một hình thang cân, đáy là phía Nam giáp
huyện Duy Xuyên với ranh giới chung là sông Thu Bồn, phía Tây và phía Bắc
giáp huyện Điện Bàn, phía Đông giáp biển với bờ biển dài 7 km. Hạt nhân trung
tâm đô thị là các phường Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô; trong đó có Khu phố cổ
rộng chừng 5km2 đã được Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên hợp quốc
(UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (ngày 04/12/1999).
Cách đất liền 18 km là cụm đảo Cù Lao Chàm với 8 hòn đảo lớn nhỏ, có
diện tích 15,49 km2 (chiếm 25,1% tổng diện tích tự nhiên toàn ), ở vị trí tọa độ :
15052’30’’ đến 160 00’00’’ Bắc và 108024’30’’ đến 108034’30’’ kinh độ Đông. Các
hòn đảo này quần tụ thành hình cánh cung hướng mặt ra Biển Đông, như bức
bình phong che chắn cho đất liền. Cù Lao Chàm - đã được UNESCO công nhận
là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (ngày 26/5/2009).
Do phía Bắc được ngăn bởi dải Hoành Sơn, phía Tây được che bởi khối núi
Bắc tỉnh Kon Tum nên cũng như các địa phương khác của và các tỉnh, lân cận,

nhân, kinh tế hộ chiếm tỷ trọng lớn. Vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế tiến bộ
trên nhiều mặt.
Kinh tế - xã hội những năm gần đây có sự chuyển biến rõ nét. Hiện nay,
đang bước vào thời kỳ mới với những thuận lợi cơ bản, đó là:
Hệ thống chính trị ổn định, đảm bảo vai trò lãnh đạo, điều hành, quản lý và
huy động được sức mạnh của nhân dân cho sự phát triển của trong thời kỳ mới.
cũng đang tập trung chỉ đạo và đầu tư để đẩy nhanh tốc độ phát triển của
với mục tiêu: xây dựng đạt chuẩn đô thị loại 2, một trung tâm du lịch của quốc
gia, đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ của giai đoạn đầu trong lộ trình xây dựng
- sinh thái.
Diện mạo đô thị và cơ cấu kinh tế đang hình thành rõ nét. Đây chính là
những tiền đề quan trọng để tiếp tục định hướng phát triển, tạo niềm tin, tinh
thần quyết tâm trong Đảng bộ và nhân dân quận.
Tiếp tục phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục đào tạo và khoa
học - công nghệ phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của .
Bên cạnh đó, cũng có nhiều khó khăn, thách thức, đó là:
đang trong giai đoạn đầu của quá trình cải tạo cảnh quan môi trường cho
phù hợp với đô thị sinh thái, còn nhiều dự án lớn trong giai đoạn quy hoạch và
triển khai ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của bộ phận lớn
nhân dân tạo nên nhiều vấn đề xã hội cần phải tập trung giải quyết.
Một bộ phận người dân chưa có việc làm ổn định, một bộ phận tham gia
1 Theo Niên giám thống kê Thành phố Hội An năm 2015.

10


lao động phổ thông hoặc làm việc theo thời vụ nên đời sống bấp bênh không ổn
định, việc quan tâm chăm sóc và đầu tư cho việc học tập của con em phần nào
còn hạn chế.
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục của

Tổng số trường
THPT
Tổng số lớp học

20112012

20122013

20132014

20142015

20152016

03

03

03

03

03

95

97

65



15
19
31
2.829
673
790
1.366

26
13
19
2.414
1.097
536
781

25
21
13
2.597
1.072
988
537

(Nguồn: BGH các trường THPT tại TP cung cấp)

2.1.3.2. Quy mô học sinh
Trong năm học 2016-2017, tổng số học sinh THPT trên địa bàn là: 3.672
học sinh, được phân chia tại các trường trong Bảng 2.2.

345
7
315
25
1.072

Số lớp Số HS
8
325
9
369
7
294
24
988

Số lớp Số HS
28
1.120
26
1.070
22
933
76
3.123

(Nguồn: BGH các trường THPT tại TP cung cấp)

2.1.3.3 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên các trường THPT năm học 2016-2017

NV
QL
viên c sĩ học độ khác

51
68

2
3

42
57

7
5

39
55

5
8

47

3

40

10


trường nên cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học từng bước được đầu tư nâng
cấp, xây dựng mới với 100% phòng học kiên cố, các phòng chức năng, khu
hiệu bộ, sân chơi bãi tập cho học sinh. Các trường đều có nhà đa năng để dạy
học môn thể dục và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ trong nhà
trường.
2.1.3.5. Đánh giá chung
Được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Sở Giáo dục Đào tạo, Thành ủy và
Ủy ban Nhân dân , giáo dục đã có bước phát triển đáng kể, chất lượng đại trà
phát triển tương đối bền vững, số lượng học sinh tham gia các hội thi cấp thành
phố, quốc gia như học sinh giỏi lớp 9, lớp 12, giải toán qua mạng, Olympic tiếng
Anh, giải thể thao học sinh, Hội khỏe Phù Đổng, văn nghệ Mừng Đảng, mừng
xuân… luôn tăng và đạt nhiều thành tích cao. Các trường THPT đều có khuôn
viên rộng rãi, thoáng mát, đảm bảo đủ phòng học để tổ chức các hoạt động giáo
dục. Tất cả các trường đều được đầu tư các trang thiết bị dạy học hiện đại như
máy vi tính, máy chiếu, máy photocopy…; 100% giáo viên đạt chuẩn và trên
chuẩn. Đặc biệt, các trường đã triển khai có hiệu quả chương trình “Tiếp sức học
13


sinh nghèo đến trường”, chương trình “Người bạn đồng hành” với những hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp thật bổ ích đã góp phần giúp đỡ các em học sinh
yếu, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn có cơ hội vươn lên trong học tập.
Kết quả đã góp phần hạ thấp số lượng học sinh yếu kém, nâng cao chất lượng
đại trà và hạn chế tỷ lệ học sinh bỏ học thấp nhất trên địa bàn .

14


2.2. Thực trạng công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường
trung học phổ thông tại

trường giai đoạn 2013 – 2016”.
2.2.2. Quá trình triển khai thực hiện GDPL cho học sinh trung học phổ
thông
2.2.2.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục pháp luật cho
học sinh trung học phổ thông
Qua quan sát thực tế tại trường THPT trên địa bàn , tác giả được biết lãnh
đạo nhà trường có lập kế hoạch năm học, trong đó có nội dung GDPL cho học
sinh thông qua các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
15


(GDNGLL). Bên cạnh đó, Nhà trường có lập kế hoạch cho cả năm học và từng
tháng. Kế hoạch có chú trọng GDPL qua các ngày lễ, kỷ niệm và các đợt thi đua
theo chủ đề thể hiện sự quan tâm của nhà quản lý đến GDPL và nhận thức được
tầm quan trọng của công việc này, có sự sắp xếp, bố trí nhân sự khá hợp lý.
Tuy nhiên, công tác xây dựng kế hoạch vẫn còn một số hạn chế như: chưa
có kế hoạch riêng về GDPL mà còn thể hiện chung trong kế hoạch năm học, kế
hoạch tháng, tuần chưa cụ thể. Bên cạnh đó, thời gian xây dựng kế hoạch chưa
hợp lý thường mang tính thời vụ.
Phần lớn giáo viên chỉ chú trọng đến công tác chuyên môn giảng dạy hơn
là chú ý đến các hành vi đạo đức của các em. Họ vẫn cho rằng việc GDPL là
trách nhiệm của cơ quan chức năng, trách nhiệm của người quản lý và của các tổ
chức Đoàn thể.
Qua khảo sát cán bộ quản lý (CBQL), tổ trưởng chuyên môn (TTCM) và
giáo viên tại trường về nhận thức GDPL cho học sinh, kết quả nêu trong bảng
2.4 dưới đây:
Bảng 2.4. Việc xây dựng kế hoạch GDPL cho học sinh
CBQL, TTCM
Giáo viên
Hiệu quả thực

Sự khác biệt trong trường hợp này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ và nhận
thức của đối tượng về vấn đề trên. CBQL và TTCM có nhiều kinh nghiệm trong
việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nên có những hiểu biết nhất định
về quy trình xây dựng cũng như chất lượng kế hoạch đề ra. Thông qua công tác
thường xuyên, theo dõi, kiểm tra, CBQL và TTCM có cơ sở để đánh giá khách
quan về hiệu quả việc xây dựng kế hoạch GDPL cho học sinh.
Hầu hết đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường THPT trên địa bàn có trình
độ học vấn, chuyên môn cao, nhiều người có khả năng sư phạm tốt. Tuy nhiên,
công tác giáo dục pháp luật chưa được đặt ngang tầm với yêu cầu quản lý xã hội
bằng pháp luật, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, rộng khắp,
chưa có trọng tâm, trọng điểm. Họ xem việc giáo dục pháp luật là trách nhiệm
của cơ quan quản lý pháp luật, họ chưa có kế hoạch phối hợp chặt chẽ, đồng bộ
16


giữa các cấp, các ngành để huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, và sự
tham gia của toàn xã hội. Vì những hạn chế đó, nhu cầu thông tin về pháp luật
của học sinh trong trường chưa được đáp ứng đầy đủ. Nhiều học sinh còn rất mơ
hồ khi nói về luật, kể cả trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
2.2.2.2. Thực trạng tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông:
2.2.2.2.1. Thực trạng về mục tiêu giáo dục pháp luật
Các trường quán triệt đầy đủ và sâu sắc ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng
của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh. Qua đó, giúp học sinh
nâng cao hiểu biết, có ý thức tôn trọng, thực thi pháp luật; góp phần tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật mọi lúc, mọi nơi.
Phổ biến đầy đủ, kịp thời các quy định pháp luật cơ bản và cần thiết cho
học sinh. Nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức, hành vi của học sinh trong việc
thực hiện quy định của pháp luật.

học và các hoạt động GDNGLL. Để làm tốt công tác GDPL ngoại khóa, các
trường đã tiến hành xây dựng và triển khai kế hoạch về việc thực hiện “Chương
trình phổ biến, giáo dục pháp luật ngoại khóa cho học sinh các trường trung học
cơ sở, trung học phổ thông giai đoạn 2015 - 2017”. Nội dung cụ thể như sau:
Phổ biến, giáo dục những nội dung cần thiết liên quan tới học sinh, như:
Quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, pháp luật về thanh
thiếu niên; chú trọng phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng
chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, phòng chống ma túy và tệ nạn mại dâm,
giáo dục giới tính và phòng chống HIV/AIDS, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với
người nhiễm HIV/AIDS, biện pháp chăm sóc sức khỏe vị thành niên, bảo vệ môi
trường; phổ biến các nội dung Luật Biển Việt Nam, về chủ quyền biển, đảo và
chiến lược biển của Việt Nam, pháp luật về cư trú, pháp luật về lao động và việc
làm, hôn nhân và gia đình, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật về
lao động và an toàn lao động, Luật Phòng cháy chữa cháy, các hiểu biết nhất
định về phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, biến đổi khí hậu, tiết kiệm năng lượng
và các quy định pháp luật có liên quan đến công tác đảm bảo an ninh, trật tự,
nếp sống văn minh đô thị.
2.2.2.2.3.. Thực trạng về hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật
Trong thời gian qua, GDPL cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn
đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung, hình thức, phương pháp tiến
hành ở cả chính khóa và ngoại khóa.
Giáo dục chính khóa: Đối với môn GDCD, khi giảng dạy rất cần đến sự
hỗ trợ của các thiết bị như máy tính xách tay, đèn chiếu projector, ...để làm cho
bài giảng sinh động hơn và cần kết hợp giữa giảng dạy với việc đưa học sinh đi
thực tế dự các phiên tòa...Tuy nhiên, qua khảo sát thì có (50%) ý kiến cho rằng
khả năng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào thiết kế bài giảng của giáo
viên còn hạn chế, (75%) giáo viên đã quen với cách dạy truyền thống là viết
bảng và thuyết trình.
Cùng với các hoạt động giáo dục khác, sinh hoạt chủ nhiệm là hoạt động
quan trọng vì qua đó giáo viên chủ nghiệm (GVCN) có thể vận dụng linh hoạt

53,3
10
33,33
04
13,37
0
0

(Nguồn: BGH các trường THPT tại TP cung cấp)

Do vậy, việc chỉ đạo tổ chức thực hiện giờ sinh hoạt chủ nhiệm khoa học, đạt
hiệu quả là công việc rất cần thiết. Số liệu trên cho thấy ý kiến nhận xét của
CBQL, giáo viên và GVCN đánh giá về nội dung tiết Sinh hoạt lớp tổ chức ở mức
độ tốt là: CBQL và giáo viên chiếm tỉ lệ 34,6%, GVCN chiếm tỷ lệ: 53,3%.
Nguyên nhân sự chênh lệch đó bắt nguồn từ 2 đối tượng. CBQL thì dựa trên kết
quả công tác kiểm tra giờ Sinh hoạt lớp. Tuy nhiên kết quả đánh giá hiệu quả công
việc này ở một thời điểm nhất định, không mang tính liên tục của cả quá trình.
Trong khi đó GVCN là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nên khi đánh giá
thường căn cứ trên hiệu quả thực tế của công việc và sự hứng thú của học sinh khi
tham gia các hoạt động trong giờ Sinh hoạt lớp. Do đó đánh giá của GVCN là tốt
hơn.
Bên cạnh đó, để tìm hiểu cụ thể mức độ thực hiện các hoạt động trong giờ
Sinh hoạt lớp, tác giả đã khảo sát ý kiến học sinh, kết quả như sau:
Thông thường trong những giờ Sinh hoạt lớp, GVCN thường xuyên phát
động các phong trào thi đua rất thường xuyên chiếm đến 90,50% nhưng khâu
tổng kết và khen thưởng chiếm tỉ lệ ít hơn, khâu tổng kết ở mức độ thường
xuyên chiếm chỉ 51,50%, còn khâu khen thưởng cá nhân, tập thể chỉ chiếm 35%.
Qua bảng số liệu, ta thấy công việc thực hiện Sinh hoạt lớp của GVCN qua
ý kiến của học sinh rất tốt. GVCN thường xuyên tổ chức các hoạt động vui chơi
bổ ích trong giờ Sinh hoạt lớp, tuy nhiên ở một số hoạt động liên quan trực tiếp

lớp
2 Tổng kết thi đua hàng tuần
51,5
41
7,5
3 Nhắc nhở, động viên học sinh
92,5
6
1,5
4 Phê bình, kỷ luật nghiêm học sinh vi
51
38,5
10,5
phạm
5 Khen thưởng cá nhân, tập thể tốt
35
51,5
13,5
6 Nêu gương người tốt, việc tốt
56
39,5
4,5
7 Tổ chức các hoạt động: văn nghệ, kể
62,5
34
3,5
chuyện, tọa đàm,...
8 Tổ chức các trò chơi theo chủ đề giáo
dục pháp luật (đóng vai, tình huống,
18

Hiểu biết pháp luật của học sinh còn hạn chế. Hiện tượng vi phạm pháp luật
nói chung trong lứa tuổi học sinh vẫn còn xảy ra. Có nhiều trường hợp học sinh vi
phạm pháp luật vẫn không nhận thức được những việc làm của mình.
Bảng 2.7. Các hoạt động ngoài giờ lên lớp do nhà trường,
Đoàn thanh niên tổ chức nhằm GDPL cho học sinh
20


T
T
1
2
3
4
5

6
7
8

Nội dung
Sinh hoạt dưới cờ
Phổ biến tình hình thời sự, chính
trị
Nghe nói chuyện, thi tìm hiểu về
các chủ đề: ATGT, phòng chống
ma túy, bảo vệ môi trường…
Thi tìm hiểu kiến thức pháp luật
Các hoạt động xã hội như cứu trợ,
khuyến học, giúp đỡ bạn bè khó

27,5

61,5

31,5

6

92,5

7,5

0

87,5
43,5

10,5
38

2
18,5

(Nguồn: BGH các trường THPT tại TP cung cấp)

Qua khảo sát ta thấy rằng có 42,5% học sinh không thích nghe nói chuyện,
tìm hiểu về các vấn đề an toàn giao thông hơn so với 41% học sinh cho rằng rất
thích. Hầu hết các em rất thích tham gia các hoạt động ngoài trời như cắm trại,
tham quan, du lịch, thi đấu TDTT, văn nghệ; có đến hơn 92% học sinh rất thích
hoạt động này

cầu tra cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên, học sinh.
2.2.3. Kết quả giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
2.2.3.1. Nhận thức của học sinh
Bảng 2.8. Ý kiến về sự cần thiết của GDPL trong học sinh
Rất cần
Cần
Không cần
STT
Trường
thiết
thiết
thiết
01 Trường THPT Trần Quý Cáp
56,25 % 40,63 %
3,12 %
02 Trường THPT Nguyễn Trãi
52,3%
39,6%
8,1%
Trường THPT Trần Hưng
03
55 %
37,5 %
7,5 %
Đạo
Tổng cộng
54,5 %
39,2 %
6,3 %
(Nguồn: BGH các trường THPT tại TP cung cấp)

vòng cám dỗ của các tệ nạn xã hội dẫn đến vi phạm pháp luật. Thời kỳ hội nhập,
giao lưu văn hoá mạnh mẽ, đa dạng hiện nay một mặt tạo cho học sinh có nhiều
cơ hội để mở rộng tầm nhìn, mở rộng giao lưu văn hoá nhưng mặt khác cũng dễ
bị kích động, lôi kéo thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật.
2.2.3.2. Kết quả giáo dục pháp luật
Các trường học tích cực tuyên truyền, giáo dục và thực hiện nghiêm túc
Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, Chăm sóc và
Giáo dục trẻ em. Nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh, ngăn ngừa các
hiện tượng vi phạm quyền trẻ em trong trường học như đánh đập, trừng phạt,
nhục mạ, chèn ép học sinh. Phối hợp với Hội Chữ thập đỏ, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên, Công an, ngành Y tế … tổ
chức rèn luyện cho các em học sinh kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống
trong cuộc sống; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng,
chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện
kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn
xã hội; giúp cho học sinh biết tự bảo vệ tính mạng và nhân phẩm của mình, cần
phải xây dựng kỹ năng ứng xử văn hóa, biết cách giao tiếp từ việc trò chuyện
trao đổi với bạn bè, người thân đến khả năng thuyết trình, báo cáo trước đám
đông, hội nghị… Giáo dục các em biết bảo vệ sức khỏe, nói không với rượu bia,
thuốc lá, tránh xa các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm trong học đường.
Bằng nhiều hình thức sinh động, sáng tạo sự phối hợp của các Hội, Đoàn thể
như: Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên… đã xây dựng các chương trình
hành động, cụ thể:
Phát huy vai trò của thùng thư “Tố giác tội phạm”, cam kết xây dựng “Mái
trường không có khói thuốc lá”... trong việc ngăn ngừa, phát hiện các hành vi
mua bán, tàng trữ các chất ma túy, đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn
xã hội xâm nhập học đường.
Các chương trình ngoại khóa về truyền thông giáo dục sức khỏe cho học
sinh trong nhà trường đã góp phần rất lớn trong công tác phòng chống ma túy,
HIV/AIDS trong trường học.

%
%
%
%
lượng
lượng
lượng
lượng
2011-2012
2012-2013
2013-2014
2014-2015
2015-2016
Tổng cộng

4.132
3.724
2.829
2.414
2.597
15.696

2.607
2.470
1.841
1.574
1.672
1.0164

63,09

7,42
8,12
8,09

29
19
31
12
25
116

0,7
0,51
1,1
0,5
0,96
0,74

(Nguồn: BGH các trường THPT tại TP cung cấp)

Từ kết quả trên cho ta thấy việc xếp loại hạnh kiểm học sinh chứng tỏ rằng
đại đa số học sinh nắm bắt quy chế, thực hiện nghiêm túc nội quy nhà trường, có
ý thức phấn đấu vươn lên trong quá trình học tập, rèn luyện trong nhà trường.
Tuy nhiên, bên cạnh đại đa số học sinh có ý thức chấp hành tốt chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nội quy, quy chế của Bộ
GDĐT và quy định của nhà trường vẫn còn một bộ phận nhỏ học sinh do nhận
thức còn chậm, việc chấp hành nội quy, quy chế chưa tốt, tư tưởng không vững
vàng dẫn tới kết quả rèn luyện không cao.
Nguyên nhân:
Công tác GDPL cho học sinh chưa được thường xuyên, liên tục.

Đội ngũ CBQL nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình, chịu khó; đội ngũ giáo viên
dạy môn GDCD có tinh thần trách nhiệm cao trong giảng dạy và trong hoạt
động GDPL; đa số học sinh các trường có thái độ, động cơ học tập và rèn luyện
tốt; môi trường giáo dục lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi để học sinh nỗ lực
học tập và rèn luyện, khắc phục khó khăn để vươn lên trong cuộc sống.
Đa số CBQL, giáo viên đều có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm
quan trọng trong GDPL cho học sinh tại trường THPT. Trong thời qua các
trường đã chủ động xây dựng nhiều nội dung và hình thức GDPL phong phú,
thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu GDPL cho học sinh góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện.
Hoạt động của Đoàn thanh niên ở các trường từng bước đổi mới về nội
dung và hình thức hoạt động, đã từng bước thu hút được nhiều học sinh tự giác
tham gia. Từ đó, giáo dục cho học sinh am hiểu về pháp luật, có thói quen chấp
hành pháp luật mọi lúc, mọi nơi qua đó hình thành những kỹ năng sống, phát
triển nhân cách cần thiết ở trong mỗi học sinh.
Nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường để GDPL cho học
sinh ngày càng được quan tâm nhiều hơn, chặt chẽ hơn, đã có tác dụng tích cực
trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội đang tìm mọi cách xâm nhập vào học
đường.
Công tác GDPL được các trường coi trọng, GVCN và giáo viên bộ môn
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status