Mối quan hệ phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản bằng chứng thực nghiệm tại việt nam - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-------------

HỒ THỊ ĐOAN TRANG

“MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN TÍNH GIỮA TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI THỰC VÀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ CƠ BẢN.
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh, Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-------------

HỒ THỊ ĐOAN TRANG

“MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN TÍNH GIỮA TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI THỰC VÀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ CƠ BẢN.
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM”

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH

1.1 Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 2
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................................. 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 4
1.5 Tổng quan các nội dung chính ................................................................................. 4
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây ............................................................ 6
2.1 Tổng quan những nghiên cứu trước đây về các nhân tố kinh tế cơ bản quyết
định tỷ giá hối đoái ......................................................................................................... 6
2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tỷ giá hối đoái
và các nhân tố kinh tế cơ bản ....................................................................................... 13
2.2.1 Sự thất bại mô hình tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ
bản ................................................................................................................................ 14
2.2.2 Mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản......... 16


3. Kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế
cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4 ............................................. 20
3.1 Mô tả bộ dữ liệu ..................................................................................................... 20
3.1.1 Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) ................................................................ 22
3.1.2 Chênh lệch năng lực sản xuất (PROD) (-) .......................................................... 24
3.1.3 Tỷ lệ mậu dịch (TOT) (+/-) ................................................................................. 24
3.1.4 Chi tiêu chính phủ (GEXP) (+/-)......................................................................... 25
3.1.5 Độ mở của nền kinh tế (OPEN) (+/-) .................................................................. 26
3.1.6 Tài sản nước ngoài ròng (NFA) (-) ..................................................................... 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu........................................................................................ 30
3.2.1 Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc................................................ 31
3.2.1.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến gốc .................................................. 31
3.2.1.2 Kiểm định đồng liên kết tuyến tính các biến gốc............................................. 34
3.2.2 Kiểm định đồng liên kết phi tuyến các biến gốc ................................................. 35
3.2.2.1 Thuật toán ACE - Kỳ vọng có điều kiện luân phiên ........................................ 35

Autoregressive Distributed Lag
ADRL
Model
Behavioural Equilibrium
BEER
Exchange Rate
CPI
Consumer Price Index
Cumulative sum of recursive
CUSUM
residuals
Cumulative sum of squares of
CUSUMSQ
recursive residuals
DOTS
Direction of Trade Statistics
GDP
Gross Domestic Product
GEXP
Goverment expenditure
IFS
International Financial Statistics
IMF
International Monetary Fund
NEER

Nonimal effective exchange rate

NFA
OPEN

Chỉ số giá tiêu dùng
Kiểm định tổng tích lũy phần dư
Kiểm định tổng tích lũy bình
phương phần dư
Danh mục thống kê thương mại
Tổng sản phẩm quốc nội
Chi tiêu chính phủ
Thống kê tài chính quốc tế
Qũy tiền tệ quốc tế
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa
phương
Tài sản nước ngoài ròng
Độ mở của nền kinh tế
Chênh lệch năng lực sản xuất
Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực
Tổng tài sản nước ngoài
Tổng nợ nước ngoài
Tổng giá trị ngoại thương
Tỷ lệ mậu dịch
Mô hình hiệu chỉnh sai số không
giới hạn
Mô hình tự hồi quy Vector


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Mô tả các nhân tố kinh tế cơ bản được lựa chọn ........................................ 29
Bảng 4.1.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF các biến gốc và sai phân bậc 1 43
Bảng 4.1.2a: Kết quả độ trễ được lựa chọn cho mô hình ARDL các biến gốc........... 44
Bảng 4.1.2b: Kết quả ước lượng mô hình ARDL các biến gốc .................................. 45
Bảng 4.1.2c: Kết quả kiểm định WALD các biến gốc................................................ 47


Tóm tắt
Bài nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực
và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam bằng việc sử dụng số liệu theo quý trong
giai đoạn từ 2000Q1 tới 2013Q4. Tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
bao gồm: tổng hợp, thống kê, so sánh và kế thừa có chọn lọc các bài nghiên cứu
trước đây. Đi từ nền tảng cơ sở lý thuyết đến phân tích thực nghiệm mối quan hệ
giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam. Tác giả sử
dụng các phương pháp thực nghiệm như: kiểm định nghiệm đơn vị ADF để kiểm tra
tính dừng của các biến, chuyển đổi các biến từ tham số sang phi tham số bằng thuật
toán ACE, kiểm định đồng liên kết bằng ARDL Models-Bounds tests và phân tích
mối quan hệ thông qua dữ liệu thực tế tại Việt Nam. Kết quả cho thấy rằng tồn tại
mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố
kinh tế cơ bản tại Việt Nam. Trong đó, độ mở của nền kinh tế có tác động đồng biến
với tỷ giá hối đoái thực, ngược lại tài sản nước ngoài ròng tác động nghịch biến với
tỷ giá hối đoái thực và tác động của các nhân tố còn lại khó xác định do có xu
hướng thay đổi theo thời gian.
Từ khóa: tỷ giá hối đoái cân bằng, kiểm định nghiệm đơn vị ADF, thuật toán Kỳ
vọng có điều kiện luân phiên ACE, đồng liên kết tuyến tính, đồng liên kết phi
tuyến, ARDL Models-Bounds test.


2

1. Giới thiệu
1.1

Lý do chọn đề tài

Thực tiễn đã cho thấy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có quan hệ mật thiết với sự

Để có một đánh giá tổng thể về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố
kinh tế cơ bản, tác giả nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) thay vì tỷ
giá hối đoái thực song phương (RER).
Các nhân tố kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá hối đoái thực hiệu lực được lựa chọn
gồm: chênh lệch năng lực sản xuất (PROD), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu chính
phủ (GEXP), độ mở của nền kinh tế (OPEN) và tài sản nước ngoài ròng (NFA).
Với 10 đối tác mậu dịch lớn nhất của Việt Nam thay đổi trong từng thời kỳ: Nhật
Bản, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Úc, Hồng Kông, Đức,
Malaysia.
Nguồn dữ liệu: dữ liệu được lấy theo qu từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (IFS và
DOTS), Bloomberg, Ngân hàng thế giới World Bank, Trading Economics, Tổng
cục thống kê Việt Nam.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu được đặt ra là kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá
hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, bài nghiên cứu tập trung trả lời cho các
câu hỏi sau:
(1)

Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản: đồng
liên kết tuyến tính, đồng liên kết phi tuyến hoặc không tồn tại đồng liên kết?

(2)

Tác động các nhân tố kinh tế cơ bản đến tỷ giá hối đoái thực diễn ra như thế
nào?


4

1.4 Phương pháp nghiên cứu

các nhân tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1-2013Q4 bằng các
phương pháp định lượng với dữ liệu thực tiễn tại Việt Nam.
Phần 4 trình bày kết quả nghiên cứu và dựa trên kết quả mô hình ước lượng được
để phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế
cơ bản tại Việt Nam trong giai đoạn 2000Q1 – 2013Q4.
Cuối cùng, Phần 5 nêu kết luận của bài nghiên cứu cùng những hạn chế và hướng
nghiên xa hơn cho đề tài.


6

2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
2.1 Tổng quan những nghiên cứu trước đây về các nhân tố kinh tế cơ bản
quyết định tỷ giá hối đoái
Thực tiễn đã cho thấy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có quan hệ mật thiết với sự
biến động của các nhân tố kinh tế cơ bản. Tỷ giá hối đoái là một nhân tố vô cùng
nhạy cảm, không những ảnh hưởng mà còn hấp thụ mọi tác động từ các nhân tố kinh tế
cơ bản khác. Do đó việc xác định các nhân tố kinh tế cơ bản tác động đến tỷ giá hối
đoái thực thật sự quan trọng và cần thiết.
Khởi đầu bằng nghiên cứu Balassa (1964) và Samuelson (1964) cho rằng sự gia tăng
trong năng lực sản xuất của khu vực hàng hóa mậu dịch lớn hơn hàng hóa phi mậu
dịch sẽ dẫn đến đồng nội tệ tăng giá (REER giảm) bởi sự gia tăng nhanh của giá cả
hàng hóa phi mậu dịch so với giá cả hàng hóa mậu dịch.
Mô hình Balassa-Samuelson gắn với sự dịch chuyển của tỷ giá hối đoái thực trong
dài hạn và giải thích cho sự trệch khỏi l thuyết PPP xét theo khía cạnh các chỉ số
giá giữa các nước phát triển. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng năng lực
sản xuất của các nước phát triển cao hơn so với các nước đang phát triển. Sự khác
biệt trong năng lực sản xuất xảy ra phần lớn trong khu vực hàng hoá mậu dịch hơn
là khu vực hàng hoá phi mậu dịch. Theo như giả định của mô hình, mức lương
trong khu vực hàng hoá mậu dịch và phi mậu dịch là như nhau tại mỗi quốc gia và

quyết định REER.
Tiếp đến là hai mô hình nổi tiếng khác trong cách xác định tỷ giá hối đoái thực cân
bằng: một là mô hình cân bằng bên trong và bên ngoài FEER và hai là mô hình tỷ
giá hối đoái cân bằng hành vi BEER.
Mô hình tỷ giá hối đoái cân bằng (FEER - Fundamental Equilibrium Exchange
Rate) được giới thiệu trong GS Williamson (1985) và được phát triển bởi
Williamson (1994), MacDonald và Clark (1998, 2000, 2004), Barisone (2006),
Simplice Asongu (2014),... Trong phương pháp này mức cân bằng của tỷ giá hối
đoái được định nghĩa là tỷ giá hối đoái thực hiệu lực trong điều kiện nền kinh tế vĩ
mô cân bằng hay còn thể hiểu là tại trạng thái nền kinh tế hoạt động ở mức toàn
dụng và lạm phát thấp (cân bằng bên trong) và tài khoản vãng lai ổn định, phản ánh
nguồn vốn ròng tiềm ẩn và kỳ vọng (cân bằng bên ngoài). Với việc loại bỏ các nhân


8

tố chu kỳ và đầu cơ trong ngắn hạn trong thị trường ngoại hối thì FEER được xác
định dựa vào các nhân tố kinh tế cơ bản mà được kỳ vọng duy trì trong trung hạn.
Một phương pháp tiếp cận khác được đề xuất bởi Clark và Macdonald (1998) đó là
mô hình tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi (BEER - Behavioural Equilibrium
Exchange Rate). Các nhà nghiên cứu tiếp cận một khuôn khổ mới cho các phân tích
thực nghiệm, tức là không xem xét sự cân bằng kinh tế vĩ mô (bên trong và bên
ngoài) mà phân tích hành vi của tỷ giá hối đoái bằng cách xem xét nguồn gốc của
sự chuyển động theo chu kỳ và tạm thời của tỷ giá hối đoái và sử dụng các giá trị
hiện tại hơn là các giá trị ở mức toàn dụng lao động của các nhân tố kinh tế cơ bản
trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng. Bằng việc xây dựng một mô hình
cơ bản họ đã cho thấy mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế
cơ bản trong dài hạn, bao gồm: tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP (GOVD), tỷ lệ
mậu dịch (TOT), năng lực sản xuất (TNT) được đại diện bằng chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) trên chỉ số giá sản xuất (PPI), tài sản nước ngoài ròng trên tổng sản phẩm

Tiếp đến, Jongwanich (2009) ngoài việc lựa chọn các nhân tố khá tương đồng với
nghiên cứu của Frait và các cộng sự (2004) thì tỷ giá hối đoái thực mà Jongwanich
(2009) sử dụng không phải là tỷ giá hối đoái thực song phương mà là tỷ giá hối đoái
thực đa phương (REER).
Montiel (1999) đã phát triển một mô hình tổng hợp các phương pháp tiếp cận trên.
Trong mô hình này, tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong dài hạn được xác định bởi
giá trị ổn định của các biến được xác định trước và giá trị cố định của những biến
chính trong mô hình và cả biến ngoại sinh. Những biến đóng vai trò như các nhân tố
quyết định đối với tỷ giá hối đoái trong dài hạn được chia thành 4 nhóm:
(1) Nhóm đầu tiên bao gồm nhân tố cung nội địa được đặc trưng bởi hiệu ứng
Balassa - Samuelson, xuất hiện khi có sự tăng nhanh năng lực sản xuất từ
khu vực hàng hóa mậu dịch hơn so với khu vực hàng hóa phi mậu dịch.
(2) Thứ hai, cấu trúc chính sách tài khóa được đại diện bởi thay đổi trong thành
phần chi tiêu chính phủ giữa hàng hóa mậu dịch và hàng hóa phi mậu dịch.
(3) Thứ ba, những thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế, bao gồm sự thay
đổi trong tỷ lệ mậu dịch, dòng vốn chuyển giao từ nước ngoài, lạm phát nước
ngoài và chênh lệch lãi suất thực các nước trên thế giới.


10

(4) Thứ tư, tự do hóa chính sách ngoại thương, như giảm trợ cấp xuất khẩu có
thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn, được đại diện bởi trợ
cấp xuất khẩu (EXSUB).
Mô hình có dạng như sau:
REER = (TOT, OPEN, GOVEX, PROD, EXSUB)

(3)

Các kỹ thuật thực nghiệm được sử dụng trong bài nghiên cứu của Xiaolei Tang và

thực (REER) đối với các nhân tố kinh tế cơ bản trong khuôn khổ Liên minh Tiền tệ
Tây Phi. Kết quả cho thấy rằng hành vi tỷ giá trong dài hạn được giải thích bởi tỷ lệ
mậu dịch (TOT), năng lực sản xuất (PROD) được đại diện bởi GDP trên đầu người,
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), độ mở của nền kinh tế (OPEN).


11

Việt Nam không công bố chính thức một số liệu nào cho tỷ giá hối đoái thực hiệu
lực REER cũng như mối quan hệ giữa nó với các nhân tố kinh tế cơ bản. Tuy nhiên,
một loạt các nghiên cứu xem xét tác động của biến số này đến nền kinh tế để xác
định tỷ giá hối đoái cân bằng. Điển hình là nghiên cứu “Chênh lệch tỷ giá hối đoái
thực đa phương và tỷ giá hối đoái thực đa phương cân bằng của Việt Nam” của
nhóm tác giả Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Bình Minh (2011). Bài nghiên cứu
này nhóm tác giả đã dựa vào mô hình của Edwards (1988), Elbadawi (1998),
Montiel (1999) và phân tích 5 nhân tố kinh tế cơ bản của Việt Nam bao gồm: độ mở
của nền kinh tế (OPEN), tỷ lệ mậu dịch (TOT), chi tiêu chính phủ (GOVEX), năng
lực sản xuất (PROD), tài sản nước ngoài ròng (NFA) và thêm biến DC đại diện cho
chính sách tiền tệ do tốc độ tăng quy mô tín dụng tương đối cao trong những năm
gần đây ở Việt Nam.
Mô hình có dạng như sau:
LREERt=α0 + β1LOPENt + β2TOTt + β3GOVEX+ β4PRODt + β5LDCt + β6NFAt + εt
(5)
Một nghiên cứu khác tại Việt Nam là “Tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000-2011: Mức
độ sai lệch và tác động đối với xuất khẩu” của nhóm tác giả Vũ Quốc Huy,
Nguyễn Thị Thu Hằng và Vũ Phạm Hải Đăng (2011). Bài nghiên cứu xây dựng
mô hình xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng của đồng Việt Nam theo phương
pháp tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi BEER. Từ đó xác định mức độ sai lệch của tỷ
giá hối đoái thực tế so với giá trị cân bằng. Trong bài nghiên cứu này, tỷ giá hối
đoái cân bằng được xác định dựa trên 5 nhân tố kinh tế cơ bản NFA, PROD, TOT,

nhiều nhất cho biến động của tỷ giá hối đoái thực. Đồng thời, mối quan hệ giữa tỷ
giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản phải được nghiên cứu trong mối
quan hệ tổng thể thống nhất và theo hai chiều tác động qua lại trong bối cảnh toàn
cầu hoá kinh tế hiện nay.


13

2.2 Tổng quan những kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ tỷ giá hối
đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản
Mặc dù, các nghiên cứu đều khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa tỷ giá hối
đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ bản, nhưng các nghiên cứu về mối quan hệ này
vẫn chưa có được một sự thống nhất. Tranh cãi xuất hiện từ việc xác định mối quan
hệ giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố kinh tế cơ bản là tuyến tính hay phi tuyến, lựa
chọn biến, phương pháp kinh tế lượng. Điều này đã chứng minh độ phong phú về lý
thuyết cũng như thực nghiệm của các nghiên cứu về tỷ giá hối đoái thực.
Về lý thuyết, có ba mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố kinh tế cơ
bản là: đồng liên kết tuyến tính, đồng liên kết phi tuyến và không tồn tại đồng liên
kết. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây hiếm khi chú ý tới trường hợp phi tuyến.
Thực ra, không có học thuyết kinh tế nào đảm bảo rằng mối quan hệ giữa các nhân
tố kinh tế này phải là tuyến tính. Với việc bỏ qua các trường hợp phi tuyến có thể
dẫn đến các kết luận sai lệch rằng không có đồng liên kết tồn tại giữa tỷ giá hối đoái
và các nhân tố kinh tế cơ bản. Do đó, bài nghiên cứu này cố gắng khám phá bằng
chứng về mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân
tố kinh tế cơ bản tại Việt Nam.
Có một nền tảng lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các
nhân tố kinh tế cơ bản. Một số nghiên cứu về cách xác định tỷ giá hối đoái danh
nghĩa đã cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các
nhân tố kinh tế cơ bản. Ngược lại, các nghiên cứu khác xác định tỷ giá hối đoái thực
chỉ tập trung vào mối quan hệ tuyến tính. Mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối

được giải thích bằng các biến động của các nhân tố kinh tế cơ bản. Một vài nghiên
cứu gần đây hơn sử dụng mô hình VARs đã thu được các kết luận tương tự. Các
biến động bất thường của các nhân tố kinh tế cơ bản chỉ có thể giải thích cho một
phần nhỏ những thay đổi của tỷ giá hối đoái. Với tầm dự đoán là một năm, các
thông tin biến động của các biến kinh tế chỉ giải thích được khoảng 5% tổng độ lệch
của tỷ giá hối đoái (De Boeck (2000), Attavilla(2000)). Do đó, các nhà nghiên cứu
tìm kiếm một sự thay thế cho mô hình thế hệ đầu tiên, đồng thời kiểm định về mối
quan hệ phi tuyến.


15

Bài nghiên cứu “Some linear and nonlinear thoughts on exchange rates” của
Menzie David Chinn (1991) cũng đã chỉ ra những thất bại trong nghiên cứu mối
quan hệ tuyến tính, sự phá vỡ cấu trúc phi tuyến trong dài hạn và cho thấy một triển
vọng sử dụng mô hình phi tuyến xác định tỷ giá hối đoái sẽ tốt hơn so với mô hình
tuyến tính như: mô hình ARCH của Diebold (1988) hay những mô hình phi tuyến
trong Diebold và Nason (1990), Meese và Ross (1991) và Schinasi và Swamy
(1989). Bài nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng một hình thức đặc biệt để kiểm
định tính phi tuyến, được gọi là thuật toán Kỳ vọng có điều kiện luân phiên (ACE Alternating Conditional Expectations), vừa là một công cụ chẩn đoán vừa là một
phương pháp dự báo. Các kết quả chuẩn đoán trong bài nghiên cứu này là những
biến đổi tối ưu hầu hết là phi tuyến. Kết quả dự báo các mô hình phi tuyến đều
mang lại những hiệu ứng tốt hơn. Vì vậy, mô hình phi tuyến giữa các biến số được
đánh giá là tốt hơn so với mô hình tuyến tính.
Bài nghiên cứu “Real exchange rate levels, productivity and demand shocks:
evidence from a panel of 14 countries” của Menzie Chinn & Louis Johnston
(1997) đã nghiên cứu mối quan hệ trong dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và các
nhân tố kinh tế cơ bản như năng lực sản xuất, tỷ lệ mậu dịch, chi tiêu chính phủ, giá
thực tế của xăng dầu, kiểm định đồng liên kết sử dụng dữ liệu bảng của 14 nước
thuộc OECD. Kết quả cũng đã cho thấy mối quan hệ đồng liên kết giữa các nhân tố

Bước 1: Kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm tra tính dừng. Nếu các biến là không
dừng, các tác giả tiếp tục chuyển sang Bước 2. Ngược lại, chuyển sang Bước 4.
Bước 2: Kiểm định tham số tuyến tính và đồng liên kết phi tham số sử dụng phương
pháp của Johansen (1998) và Bierens (1997a, b). Nếu kết quả cho thấy không có
đồng liên kết, thì chuyển sang Bước 3. Ngược lại, chuyển sang Bước 4.
Bước 3: Nếu không có đồng liên kết tuyến tính thì kiểm định đồng liên kết phi
tuyến, nếu thỏa mãn thì đây là bằng chứng cho mối quan hệ dài hạn. Ngược lại,
chuyển sang Bước 4.
Bước 4: Dựa vào kết quả của ba bước đầu, các tác giả đi ước lượng một mô hình
VAR cho các biến. Nếu kết quả kiểm định ở Bước 1 cho thấy các biến là dừng tìm
thấy quan hệ đồng liên kết tuyến tính tại Bước 2, các tác giả sẽ đi ước lượng một
mô hình VAR với các biến gốc. Nếu kết quả của Bước 3 cho thấy không có mối



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status