LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành tới các
thầy cô giáo trong khoa Quản trị văn phòng đã tận tình chỉ bảo em trong
suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt là thầy Nguyễn Mạnh Cường
giảng viên bộ môn Nghi thức Nhà nước. Thầy đã trang bị cho em không chỉ
những kiến thức chuyên môn mà còn có cả kỹ năng sống để từ đó em có
thể vận dụng vào thực tiễn công việc và tự hoàn thiện bản thân mình hơn.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song do thời gian và kiến thức còn hạn hẹp
nên đề tài của em không thể tránh được những thiếu sót. Em rất mong sẽ
nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các
bạn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Tiểu luận này
là trung thực. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Tiểu luận này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Tiểu luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
rõ ràng và được phép công bố.
Hà Nội, ngày 29 tháng 02 năm 2017
Sinh viên
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra, nước ta ngày càng
hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực công tác trong các lĩnh vực liên quan
cho cán bộ, công chức… để đạt hiệu quả tối đa trong mọi hoạt động như
chia sẻ thông tin, kinh nghiệm… đòi hỏi các cán bộ phải hiểu rõ về các
nghi thưc nhà nước. Nghi thức Nhà nước không những thể hiện chủ trương
chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước mà còn thể hiện những nét văn
minh và bản sắc văn hóa của dân tộc. Thực hiện tốt nghi thức Nhà nước là
góp phần quan trọng vào sự thành công của công tác đối ngoại và ngược
lại, nếu xảy ra sai sót sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của công tác đối
ngoại, thậm chí có thể gây căng thẳng cho quan hệ ngoại giao. Từ lý luận
và thực tiễn đều cho thấy vai trò to lớn của Nghi thức Nhà Nước trong nền
kinh tế và hội nhấp từng giờ của đất nước ta vì vậy chung tôi chọn đề tại
“Tìm hiểu về lịch sử phát triển và đặc điểm của Nghi thức Nhà Nước.
Hệ thống hóa các văn bản quy định về Nghi thức Nhà Nước từ năm
1945 đến nay và đưa ra nhận xét” làm chuyên đề nghiên cứu cho bài tiểu
luận của mình.
2. Mục địch và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: là tìm hiểu sự phát triển của Nghi thức Nhà
Nước, các đặc điểm và hệ thống hóa các văn bản quy định về nghi thức
Nhà Nước từ năm 1945 đến nay đồng thời đánh giá nhận xét ưu điểm và
nhược điểm việc vận dụng nghi thức Nhà Nước
Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất
của Nghi thức Nhà Nước trong việc tổ chức điều hành công việc tại các cơ
quan Hành chính nhà nước và công sở. Quá trình phát triển qua các thời kỳ
lịch sử.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu về Nghi thức Nhà Nước nói chung.
Tập trung nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu về lịch sử phát triển và đặc
điểm của Nghi thức Nhà Nước. Hệ thống hóa các văn bản quy định về
5
hiện trong những cơ cấu nghi thức nhất định để đạt được những hiệu quả
ngoại giao đặt ra.
Hoạt động quản lý Nhà Nước cũng không nằm ngoài những yêu cầu
về giao tiếp xã hội. Nhà nước là một tổ chức thể chế cơ cấu phức tạp với
chức năng quản lý đời sống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên một
lãnh thổ nhất định. Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện các quyết định
quản lý của mình đối với các công dân của mình bởi nhiều biện pháp kỷ
luật, thuyết phục, kỷ luật, kinh tế… và quyền lực đó còn được thể hiện qua
hình thức bài trí công sở, nghi thức lễ tân, trang phục….
Như vậy, có thể hiểu: Nghi thức nhà nước là những phương thức
giao tiếp trong hoạt động quản lý Nhà nước nói chung được quy định tại
các văn bản pháp luật của Nhà Nước, theo tập quán truyền thống dân tộc
hoặc quốc tế mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý Nhà Nước phải
tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh.
1.2. Nội dung của Nghi thức Nhà Nước.
Nội dung của Nghi thức Nhà Nước bao gồm những vấn đề sau:
7
- Những vấn đề liên quan đến cách thức sử dụng và thể hiện các biểu
tượng quốc gia (Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca) thể thức văn bản quản lý nhà
nước.
- Những vấn đề liên quan đến công tác lễ tân, tổ chức tiếp khách đãi
khách (chào đón, hội đàm, tặng quà, đưa tiễn…) đặc biết với các khách
nước ngoài.
- Những vấn đề liên quan đến kỹ năng giao tiếp (lời nói, cử chỉ, trang
phục…) của cán bộ công chức nhà nước với những hoàn cảnh giao tiếp
khác nhau.
- Những vấn đề liên quan đến tổ chức, quản lý, hội họp, lễ kỷ niệm,
khen thưởng…
- Quốc kỳ Việt Nam của ta là lá cờ đỏ sao vàng có hình chữ nhật,
chiều rộng bằng 2/3 chiều dài nền đỏ, ở chính giữa có ngôi sao vàng năm
cánh .
- Quốc kỳ được treo trong các phòng họp của các cấp chính quyền và
các đoàn thể khi họp những buổi long trọng.
- Cơ quan Nhà nước, các trường học (học viện), các đơn vị vũ trang,
các cửa khẩu biên giới, các cảng quốc tế có cột cờ, và treo trước công sở,
hoặc nơi trang trọng trước cửa cơ quan.
- Các đơn vị vũ trang, các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường
trung học chuyên nghiệp… tổ chức chào cờ và hát quốc ca một cách trang
nghiêm vào sang thứ 2 hàng tuần, trước buổi học đầu tiên (không dùng
băng ghi âm).
* Quốc kỳ của nước ta treo với Quốc kỳ các nước trong những
trường hợp sau:
+ Kỷ niệm quốc khánh một nước bạn hay một nước ngoài.
+ Khi đón tiếp đoàn đại biểu chính phủ của một nước.
- Khi treo quốc kỳ không để ngược ngôi sao. Treo quôc kỳ nước ta
với quốc kỳ nước khác: đứng đằng trước nhìn vào cờ thì cờ của ta ở bên tay
phải, cờ nước ngoài ở bên tay trái, các cờ phải làm đúng kiểu mẫu bằng
nhau và treo đều nhau.
9
- Khi có Quốc tang thì đính trên quốc kỳ một dải vải đen, dài bằng
chiều dài quốc kỳ, rộng bằng 1/10 chiều rộng quốc kỳ.
- Hình nền đỏ sao vàng được in trên các hình nền huân chương ,
bằng khen, giấy khen của các cấp chính quyền.
- Quốc kỳ được cắm vào xe ô tô của các đại sứ và lãnh sự Việt Nam
ở nước ngoài. Khi đón đưa các đại biểu chính phủ nước ngoài thì cắm quốc
kỳ của ta và quốc kỳ nước ngoài vào xe ô tô dùng cho các đại biểu ấy.
nghĩa Việt Nam năm 1992: “Quốc huy nươc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hình tròn, nền đỏ ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung
quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ “Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Việc sử dụng Quốc huy được quy định cụ thể tại hướng dẫn số
3420/HD-BVHTTDL ngày 02/10/2012 của Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch
như sau:
- Quốc huy có thể làm to, nhỏ tùy theo sự cần thiết. Các mầu vàng ở
mẫu Quốc huy có thể thay bằng mầu vàng kim nhũ, hoặc có thể dùng
không tô mầu.
- Quốc huy được treo ở chính của cơ quan, về phía trên, chỗ trống rõ
nhất tại các cơ quan sau đây:
+ Nhà họp của chính phủ
+ Nhà họp của Quốc hội khi họp;
+ Trụ sở UBND Tỉnh, Huyện, Thị xã, Thành Phố, Phường, Xã;
+ Bộ ngoại giao, các Đại sứ quán, lãnh sứ quán của Việt Nam ở nước
ngoài;
- Quốc huy có thể treo ở lễ đài các lễ lớn: 1-5, 2-9 do chính phủ
trung ương hoặc các cấp chính quyền tổ chức.
- Rước Quốc huy: trong các cuộc mitting, biểu tình, tổ chức 1-5 và 29;
- Quốc huy được in hoặc đóng dấu nổi trên các giấy tờ sau:
+ Bằng, huân chương, bằng khen của chủ tịch nước, thủ tướng chính
phủ;
11
+ Các văn bản ngoại giao như Quốc thư, ủy nhiệm thư, thư giới thiệu
của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao;
+ Hộ chiếu;
+ Công hàm, thiếp mời, Phong bì của Chủ tịch nước, Thủ tướng
thành phố trực thuộc Trung ương; Tập đoàn Kinh tế nhà nước, Tổng công
ty 91 không ghi cơ quan chủ quản.
Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản bao gồm tên của cơ quan, tổ
chức chủ quản trực tiếp (nếu có) (đối với các tổ chức kinh tế có thể là công
ty mẹ) và tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.
- Tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản phải được ghi đầy đủ
hoặc được viết tắt theo quy định tại văn bản thành lập, quy định chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy, phê chuẩn, cấp giấy phép
hoạt động hoặc công nhận tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền,
- Tên của cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp có thể viết tắt những
cụm từ thông dụng như Ủy ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân
(HĐND), Việt Nam (VN)
* Kỹ thuật trình bày
- Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được trình bày tại ô số 2;
chiếm khoảng 1/2 trang giấy theo chiều ngang, ở phía trên, bên trái.
- Tên cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp được trình bày bằng chữ in
hoa, cùng cỡ chữ như cỡ chữ của Quốc hiệu, kiểu chữ đứng. Nếu tên cơ
quan, tổ chức chủ quản dài, có thể trình bày thành nhiều dòng.
- Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trình bày bằng chữ in hoa,
cùng cỡ chữ như cỡ chữ của Quốc hiệu, kiểu chữ đứng, đậm, được đặt canh
giữa dưới tên cơ quan, tổ chức chủ quản; phía dưới có đường kẻ ngang, nét
liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so
với dòng chữ. Trường hợp tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản dài có thể
trình bày thành nhiều dòng
- Số của văn bản
Số của văn bản là số thứ tự đăng ký văn bản tại văn thư của cơ quan,
13
- Ngày, tháng, năm ban hành văn bản phải được viết đầy đủ; các số
chỉ ngày, tháng, năm dùng chữ số Ả-rập; đối với những số chỉ ngày nhỏ
hơn 10 và tháng 1, 2 phải ghi thêm số 0 ở trước
* Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản
- Thể thức
Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức ban
hành. Khi ban hành văn bản đều phải ghi tên loại, trừ công văn.
Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hoặc một cụm
từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản.
- Kỹ thuật trình bày
Tên loại và trích yếu nội dung của các loại văn bản có ghi tên loại
được trình bày tại ô số 5a; tên loại văn bản (nghị quyết, quyết định, kế
hoạch, báo cáo, tờ trình và các loại văn bản khác) được đặt canh giữa bằng
chữ in hoa, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; trích yếu nội dung văn bản
được đặt canh giữa, ngay dưới tên loại văn bản, bằng chữ in thường, cỡ chữ
14, kiểu chữ đứng, đậm; bên dưới trích yếu có đường kẻ ngang, nét liền, có
độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so với dòng
chữ ích yếu nội dung công văn được trình bày tại ô số 5b, sau chữ “V/v”
bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng; được đặt canh
giữa dưới số và ký hiệu văn bản, cách dòng 6pt với số và ký hiệu văn bản
* Nội dung văn bản
- Thể thức
+ Nội dung văn bản là thành phần chủ yếu của văn bản.
Nội dung văn bản phải bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau:
- Phù hợp với hình thức văn bản được sử dụng;
- Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; phù hợp
với quy định của pháp luật;
- Được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, chính xác;
- Sử dụng ngôn ngữ viết, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu;
điểm hoặc theo khoản, điểm.
16
Đối với các hình thức văn bản được bố cục theo phần, chương, mục,
điều thì phần, chương, mục, điều phải có tiêu đề.
* Kỹ thuật trình bày
Nội dung văn bản được trình bày tại ô số 6.
Phần nội dung (bản văn) được trình bày bằng chữ in thường (được
dàn đều cả hai lề), kiểu chữ đứng; cỡ chữ từ 13 đến 14 (phần lời văn trong
một văn bản phải dùng cùng một cỡ chữ); khi xuống dòng, chữ đầu dòng
phải phải lùi vào từ 1cm đến 1,27cm (1 default tab); khoảng cách giữa các
đoạn văn (paragraph) đặt tối thiểu là 6pt; khoảng cách giữa các dòng hay
cách dòng (line spacing) chọn tối thiểu từ cách dòng đơn (single line
spacing) hoặc từ 15pt (exactly line spacing) trở lên; khoảng cách tối đa
giữa các dòng là 1,5 dòng (1,5 lines).
Đối với những văn bản có phần căn cứ pháp lý để ban hành thì sau
mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu “chấm phẩy”, riêng căn cứ
cuối cùng kết thúc bằng dấu “phẩy”.
- Họ tên bao gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản
Đối với văn bản hành chính, trước họ tên của người ký, không ghi
học hàm, học vị và các danh hiệu danh dự khác. Đối với văn bản giao dịch;
văn bản của các tổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học hoặc lực lượng
vũ trang được ghi thêm học hàm, học vị, quân hàm.
- Kỹ thuật trình bày
Quyền hạn, chức vụ của người ký được trình bày tại ô số 7a; chức vụ
khác của người ký được trình bày tại ô số 7b; các chữ viết tắt quyền hạn
như: “TM.”, “KT.”, “TL.”, “TUQ.” hoặc quyền hạn và chức vụ của người
ký được trình bày chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.
Họ tên của người ký văn bản được trình bày tại ô số 7b; bằng chữ in
được sự dụng trong những buổi lễ, cuộc họp trọng thể, các cuộc tiếp khách
nước ngoài.
- Lễ phục của Nam cán bộ, công chức, viên chức: Bộ comple, áo sơ
mi, caravat.
- Lễ phục của Nữ cán bộ, công chức, viên chức : Áo dài truyền
18
thống, bộ comple nữ.
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số
trang phục ngày hội dân tộc cũng cọi là lễ phục.
b) Giao tiếp và ứng xử
Trong giao tiếp và ứng xử, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái
độ lịch sự, tôn trọng. Ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói
tục, nói tiếng lóng, quát nạt.
Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân, cán bộ, công chức, viên
chức phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể
về các quy định liên quan đến giải quyết công việc.
Cán bộ, công chức, viên chức không được có thái độ hách dịch,
nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ.
Trong giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp, cán bộ, công chức, viên
chức phải có thái độ trung thực, thân thiện, hợp tác.
Khi giao tiếp qua điện thoại, cán bộ, công chức, viên chức phải xưng
tên, cơ quan, đơn vị nơi công tác; trao đổi ngắn gọn, tập trung vào nội dung
công việc; không ngắt điện thoại đột ngột.
1.2.4. Những vấn đề có liên quan đến tổ chức hoạt động quản lý như
hội họp, lễ kỷ niệm, cấp chứng chỉ, chứng thực, phong tặng, khen thưởng
Quyết định số 114/2006/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quy định chế độ hội họp trong hoạt động của
các cơ quan hành chính nhà nước quy định này điều chỉnh việc tổ chức các
- Họp chuyên môn từ một buổi làm việc đến 1 ngày, trường hợp đối
với những đề án, dự án lớn, phức tạp thì có thể kéo dài thời gian hơn,
nhưng cũng không quá 2 ngày;
- Họp tổng kết công tác năm không quá 1 ngày;
- Họp sơ kết, tổng kết chuyên đề từ 1 đến 2 ngày tùy theo tính chất
và nội dung của chuyên đề;
- Họp tập huấn, triển khai nhiệm vụ công tác từ 1 đến 3 ngày tùy
theo tính chất và nội dung vấn đề.
+ Các loại cuộc họp khác thì tuỳ theo tính chất và nội dung mà bố trí
20
thời gian tiến hành hợp lý, nhưng không quá 2 ngày.
1.2.5. Những vấn đề về công tác lễ tân, hay tổ chức tiếp đãi khách
Lễ tân nhà nước là tổng hợp các nghi thức, thủ tục trong việc đón,
tiễn, giao tiếp với khách nhằm giải quyết những công việc có liên quan đến
quan hệ nội bộ nhà nước, giữa các nhà nước, cũng như giữa nhà nước và
công dân. Như vậy, về cơ bản, lễ tân được hiểu là tổng hợp những quy
định, nghi thức, thủ tục được các nhà nước tuân thủ thực hiện trong giao
tiếp quốc tế.
- Tổ chức tiếp khách là một trong những hoạt động quan trọng, một
công tác cơ bản của các cơ quan công quyền, các đoàn thể, các tổ chức
khác nhau. Công tác này được thực hiện không chỉ nhằm để giao tiếp xã
hội thuần thuý, đảm bảo hoạt động thông suốt đối với các hệ quả của quá
trình quản lý, mà còn tạo cho các nhà quản lý có điều kiện xem xét, đánh
giá hiệu quả công việc từ phía bên ngoài.
Việc tiếp khách đến giao dịch cần được tiến hành đảm bảo các yêu
cầu nhất định.Trước tiên, cần được bố trí phòng thường trực cơ quan để
khách ngồi đợi trước khi vào làm việc. Tại đây cần treo bảng nội quy tiếp
khách có nội dung ngắn gọn để khách biết cần phải làm gì khi có việc đến
-
Bố trí chỗ ngồi cho khách là công việc tiếp theo không kém phần quan
trọng trong công tác lễ tân, nó ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và hiệu
quả của hoạt động được tổ chức.
Bố trí chỗ ngồi phải thích hợp theo thứ bậc của từng người. Tuỳ theo
tính chất, nội dung của từng loại hoạt động mà có cách bố trí sao cho thích
hợp. Sắp xếp cho những người tham gia hội nghị, hội thảo, họp bàn, hội
đàm v.v... phải theo những nguyên tắc nhất định, đó là:
+ Nguyên tắc ngôi thứ: ngôi thứ và cấp bậc được dựa trên các nguồn
khác nhau như từ danh sách các ngôi thứ chính thức do nhà nước và tổ
chức định chế công bố, từ tập quán ngoại giao ngày càng được hoàn thiện
theo năm tháng trong quan hệ quốc tế, từ sự tôn kính đối với một số thành
viên trong xã hội hay phép tắc xã giao giữa các thành viên của cộng đồng.
+ Nguyên tắc ”đoàn khách tự định đoạt”: chỗ ngồi của khách nước
22
ngoài cùng một nước do chính quyền nước đó xác định; đoàn khách tự chỉ
định người đứng đầu và thứ bậc của mỗi người.
+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các nước: cần xác định những tiêu
chuẩn khách quan để xác lập ngôi thứ các nguyên thủ quốc gia với nhau và
giữa các phái đoàn với nhau, ví dụ như: sắp xếp theo thâm niên chức vụ,
xếp chỗ theo thứ tự vần chữ cái tên của nước có đại diện hoặc rút thăm.
+ Nguyên tắc ngôi thứ không uỷ quyền: một người khi đại diện một
người khác thì không thể được đối xử như người mình đại diện. Trừ trường
hợp liên quan đến nguyên thủ quốc gia.Để có những vinh dự như nhau,
người thay thế phải cùng cấp.Một người thay thế có thứ bậc thấp hơn
không nhất thiết phải được mời phát biểu hoặc lên bục danh dự.
+ Nguyên tắc ”nhường chỗ”: chủ một buổi lễ tiếp một nhân vật cấp
a) Cơ quan phải có biển tên được đặt tại cổng chính, trên đó ghi rõ
tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt và địa chỉ của cơ quan theo hướng dẫn thống
nhất của Bộ Nội vụ.
b) Phòng làm việc phải có biển tên ghi rõ tên đơn vị, họ và tên, chức
danh cán bộ, công chức, viên chức. Việc sắp xếp, bài trí phòng làm việc
phải bảo đảm gọn gàng, ngăn nắp, khoa học, hợp lý.Không lập bàn thờ,
thắp hương, không đun, nấu trong phòng làm việc.
c) Cơ quan có trách nhiệm bố trí khu vực để phương tiện giao thông
của cán bộ, công chức, viên chức và của người đến giao dịch, làm việc.
Không thu phí gửi phương tiện giao thông của người đến giao dịch, làm
việc.
24
CHƯƠNG II
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, ĐẶC ĐIỂM NGHI THỨC NHÀ NƯỚC,
HỆ THỐNG HÓA CÁC VĂN BẢN VỀ NGHI THỨC NHÀ NƯỚC
TỪ 1945 ĐẾN NAY
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CUẢ GHI THỨC NHÀ NƯỚC
2.1.1. Quan niệm về nghi thức Nhà Nước thời xưa
Các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Việt Nam và một số nước
Đông Á khác trước đây luôn coi trọng và áp dụng rộng rãi tư tưởng “lễ
hình kết hợp”, tức luôn coi trọng “Nghi lễ” và “phép” (pháp).
Ngày nay, nghi thức nhà nước cần phải được hiểu là những phương thức
giao tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung được quy định tại các
văn bản pháp luật của Nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc
quốc tế mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân
thủ và thực hiện nghiêm chỉnh.
2.1.1. Nội dung của nghi thức nhà nước những năm đầu giải