PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài
1.Lí do khách quan
Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân
cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp học cao hơn nữa. Là
những chủ nhân tương lai của đất nước đòi hỏi các em phải có vốn kiến thức cần thiết
cho bản thân. Để giúp học sinh có vốn kiến thức đó, nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở
tiểu học nhằm trang bị cho các em những kiến thức về hệ thống Tiếng Việt, chuẩn
Tiếng Việt, rèn cho học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp. Trong đó,
phân môn luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng có ý nghĩa to lớn
trong chương trình Tiếng Việt tiểu học. Bởi lẽ, nó không chỉ giúp học sinh mở rộng hệ
thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu mà nó
còn rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu và cách sử dụng dấu câu. Phân môn
luyện từ và câu còn bồi dưỡng cho các em thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu,
giúp học sinh ccó ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp, rèn luyện phát
triển tư duy bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp cho học sinh.
Việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng phân môn luyện từ và câu sẽ giúp các
em làm giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm hồn. Từ đó, các em tích lũy cho mình những
kiến thức cần thiết, tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác trong Tiếng
Việt như chính tả, tập làm văn… và các môn học khác như Toán, Tự nhiên xã hội, Âm
nhạc, Mĩ thuật… Trên hết là phân môn luyện từ và câu sẽ khơi dậy trong tiềm thức
tâm hồn học sinh lòng yêu quý sự phong phú của Tiếng Việt, có ý thức bảo vệ và giữ
gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ, góp phần hình thành phát triển nhân cách của con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phân môn luyện từ và câu có vai trò quan trọng như thế, vậy bản thân mỗi giáo viên sẽ
làm gì để dạy tốt nó?
Là người giáo viên, mỗi chúng ta phải biết đổi mới phương pháp dạy học, kết
hợp những phương pháp dạy học khác nhau nhằm gây hứng thú cho học sinh, giúp
việc học đạt kết quả cao hơn. Trong đó, phương pháp thảo luận nhóm không những có
tác dụng lớn trong việc giúp học sinh mở rộng vốn kiến thức, biết bày tỏ thái độ, quan
điểm, đào sâu thêm những vấn đề học tập trên cơ sở phân tích, nhận xét, phát triển tư
nâng cao chất lượng giáo dục của nước nhà.
2.Lí do chủ quan
Mặt khác, xuất phát từ nhu cầu của cá nhân, qua phần nghiên cứu này tôi sẽ có
thêm sự hiểu biết sâu rộng hơn về phương pháp thảo luận nhóm, nâng cao kĩ năng sử
dụng để dạy học phân môn luyện từ và câu. Đây cũng là kinh nghiệm, là vốn kiến thức
quý báu để phục vụ cho quá trình giảng dạy sau này.
2
II.Mục đích - ý nghĩa.
Đối với bản thân tôi, bài nghiên cứu đã giúp tôi khắc sâu kiến thức, có thêm
kinh nghiệm vô cùng quý báu về phương pháp thảo luận nhóm. Đây cũng là tài liệu để
tôi có thể vận dụng sáng tạo trong quá trình dạy học sau này.
Từ việc tiếp thu những ý kiến của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên
cứu vấn đề này tôi dự kiến sẽ đóng góp thêm tiếng nói của mình giúp các bạn đọc hiểu
sâu hơn về phương pháp thảo luận nhóm.
Khi hướng đến đề tài này tôi mong nó sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích giúp
các
bạn sử dụng thành thạo và đạt hiệu quả cao trong việc tổ chức thảo luận nhóm để dạy
luyện
từ và câu trong Tiếng Việt tiểu học.
III.Phạm vi nghiên cứu.
Nội dung của đề tài này là đi sâu vào việc sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học luyện từ và câu ở tiểu học. Từ đó thấy được những lợi ích to lớn
và quan trọng mà phương pháp thảo luận nhóm sẽ mang lại. Bên cạnh đó là một vài đề
xuất của cá nhân tôi nhằm giúp cho người đọc nâng cao kĩ năng sử dụng phương pháp
thảo luận nhóm trong quá trình giảng dạy phân môn luyện từ và câu ở chương trình
Tiếng Việt tiểu học.
Đối tượng nghiên cứu: những dạng kiến thức, câu hỏi, bài tập sử dụng phương
trên đặt ra cho giáo dục phải đổi mới toàn diện về học chế đào tạo, cách thiết kế
chương trình, tìm tòi những phương thức, cách thức giáo dục thích hợp để đáp ứng tốt
hơn nhu cầu giáo dục của xã hội.
Từ những thập niên đầu của thế kỉ XX, các nước phương Tây đã bắt đầu quan
tâm đến vấn đề dạy học nhóm. Sự ứng dụng của dạy học nhóm là một trong những sự
thành công và nhất quán của lĩnh vực giáo dục. Ngoài những kết quả đạt được khả
quan về chất lượng học tập, mức độ nhận thức, kĩ năng suy luận,… các nghiên cứu dạy
học nhóm còn đem lại kết quả bất ngờ về kĩ năng giao tiếp đa văn hóa.
Mở đường cho những nghiên cứu về hợp tác nhóm trên thế giới là ba học
thuyết: tương thuộc xã hội, phát triển tri thức và thái độ trong học tập.
1.1.Thuyết tương thuộc xã hội
Tương tác với người khác là điều cơ bản cho sự tồn tại của con người. Trong
dạy học, sự tương thuộc xã hội liên quan đến sự nỗ lực của học sinh để phát triển mối
quan hệ tích cực, điều chỉnh tâm lí và thể hiện kĩ năng xã hội.
Tiền đề của học thuyết tương thuộc xã hội về hợp tác nhóm giả định rằng: cách
mà tương thuộc xã hội được xây dựng chỉ ra cách mà mọi người tác động lẫn nhau.
Một trong những yếu tố quan trọng là phải xây dựng được những lớp học trong đó sự
hợp tác có tồn tại. Kết quả là sự hợp tác dẫn đến các mối tương thuộc được đẩy mạnh
khi những thành viên động viên và khuyến khích tinh thần nỗ lực học tập.
Thuyết tương thuộc xã hội bắt đầu được nghiên cứu vào những năm đầu tiên
của thập niên 1990, một trong những người sáng lập của Trường Tâm lí học Gestalt,
Kurt Koffka đề xuất rằng “nhóm là động lực cho toàn bộ sự tương thuộc của các thành
viên”. Năm 1920-1930 đồng nghiệp của Koffka, Kurt Lewin đã tinh chế khái niệm của
ông khi nói rằng: “Bản chất của một nhóm là sự tương thuộc với nhau giữa các thành
viên với mong muốn hoàn thành tốt các mục tiêu chung”. Cuối năm 1940, Morton
5
Deutsch một học trò xuất sắc của Lewin đã mở rộng lí luận về thuyết tương thuộc xã
6
đa dạng, học sinh tự phát hiện, tìm tòi kiến thức, phải có sự hợp tác, gắn kết, chia sẻ
trách nhiệm và lợi ích.
2.Cơ sở về tâm lí học
Một số lí thuyết khoa học gần đây đã làm sáng tỏ bản chất của việc học dưới
những cách nhìn mới. Tâm lí học hoạt động, khi nghiên cứu bản chất tâm lí con người
đã chỉ ra rằng tâm lí hình thành trong hoạt động.
Từ đó, GS.VS. Nguyễn Minh Hạc đã nhấn mạnh: “Nhà trường hiện đại ngày
nay là nhà trường hoạt động, dùng phương pháp hoạt động… thu hẹp sự cưỡng bức
của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao”. “phương pháp giáo dục hoạt động là sự dẫn
dắt học sinh tự xây dựng công cụ làm trẻ thay đổi từ bên trong… Hoạt động cùng
nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, hoạt động hợp tác giữa trò và trò có một tác
dụng lớn”. Từ đó có thể rút ra kết luận: “cần kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động
nhóm”, dạy học là tổ chức các dạng hoạt động học tập khác nhau cho học sinh, dạy
học cần thay đổi phương thức cưỡng bức học sinh học tập bằng phương thức học tập
hợp tác, làm việc cùng nhau”.
Theo quan điểm tâm lí học lịch sử, L.X.Vưgôtxki cho rằng các chức năng tâm lí
cấp cao xuất hiện trước hết ở mức độ liên nhân cách giữa các cá nhân trước khi chúng
tồn tại ở mức độ tâm lí bên trong. Chính vì vậy, theo ông, trong một lớp học, cần coi
trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá. Từ đó cần rút ra một nguyên tắc
là dạy học cần tổ chức cho học sinh học tập với sự trợ giúp, hỗ trợ của bạn học, học
tập cùng nhau sẽ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn.
3.Cơ sở giáo dục học
3.1.Khái niệm về nhóm và hoạt động nhóm
3.1.1.Khái niệm về nhóm
Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác lẫn nhau để thực hiện
các mục tiêu (chung và riêng) và thảo mãn các nhu cầu cá nhân.
trong lớp cũng như ngoài lớp, các giáo viên đều cho học sinh làm việc theo tổ nhóm
trước khi sinh viên ra trường. Cái lợi nhất của phương pháp này là làm cho học sinh
quen thuộc với môi trường làm việc chung trước khi chính thức đi vào làm việc tại các
công ti, xí nghiệp, nhà máy, cơ quan trong xã hội. dần dần, phương pháp làm việc theo
nhóm nhỏ được mang ra áp dụng không những ở cấp đại học mà còn ở cả trung học
phổ thông và tiểu học
Tại Việt Nam, một số giáo sư thuộc khoa tâm lí giáo dục của các trường đại học
bắt đầu nghiên cứu và công bố các công trình của mình vào cuối thập niên 1990 và
đem ra áp dụng ở những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI.
Vậy phương pháp thảo luận nhóm là gì? Đã có rất nhiều quan niệm đưa ra định
nghĩa về thảo luận nhóm. Cụ thể:
8
- Theo tác giả Nguyễn Văn Cường: “Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của
dạy học, trong đó học sinh của lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng
thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân
công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh
giá trước toàn lớp.
- Tác giả Phan Trọng Ngọ cũng cho rằng: “Thảo luận nhóm là phương pháp
trong đó nhóm lớp (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên
trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung
của nhóm mình về vấn đề đó.
- Thống nhất với các quan điểm trên, Nguyễn Trọng Sửu trong công trình “Dạy
học nhóm - phương pháp dạy học tích cực - Group studying - an active teaching
method, tạp chí giáo dục số 171” viết: “Dạy học nhóm là một hình thức xã hội học tập
trong đó, học sinh của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian
nhất định, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và
hợp tác làm việc, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày, đánh giá trước
3.2.Tác dụng và mục đích của phương pháp thảo luận nhóm
Thông qua việc cộng tác thực hiện một nhiệm vụ học tập nhằm phát triển tính
tích cực, tự lực, sáng tạo cũng như năng lực xã hội, đặc biệt là khả năng cộng tác làm
việc, thái độ đoàn kết của học sinh. Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ thực hiện
được những chức năng và công dụng sau:
- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động và tính trách nhiệm của học sinh:
Trong thảo luận nhóm, học sinh phải tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự
tham gia tích cực của các thành viên, đồng thời các thành viên phải có trách nhiệm về
kết quả làm việc của mình. Dạy học nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm và hành động độc
lập, sáng tạo của học sinh.
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc của học sinh: học sinh được luyện tập kĩ
năng cộng tác, làm việc với tinh thần đồng đội, các thành viên có sự quan tâm và
khoan dung trong cách sống, cách ứng xử,…
- Phát triển năng lực giao tiếp: thông qua quá trình cộng tác làm việc giúp cho
học sinh có điều kiện trao đổi, rèn luyện khả năng ngôn ngữ., phát triển năng lực giao
tiếp, biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến của người khác. Đồng thời các em
biết đưa ra và bảo vệ những ý kiến của mình trong nhóm.
- Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội: học sinh trong mối tương tác lẫn
nhau trong nhóm, có thể giúp đỡ nhau trong học tập; tạo lập, củng cố các mối quan hệ
trong xã hội và cảm thấy không phải chịu áp lực từ phía giáo viên.
- Tăng cường sự tự tin cho học sinh: học sinh được liiên kết với nhau qua giao
tiếp xã hội, các em sẽ mạnh dạn hơn và ít mắc sai lầm; thông qua giao tiếp sẽ khắc
phục sự thô bạo, cục cằn.
10
- Phát triển năng lực nghiên cứu phương pháp của học sinh: thông qua thảo luận
nhóm, nhất là quá trình tự lực giải quyết các vấn đề bài học, giúp các em hình thành
dần phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện và phát triển năng lực khoa học
11
tắc hoặc quay lại vấn đề đang thảo luận. Hướng dẫn ở đây là đưa ra vài chi tiết liên
quan đến giải pháp, đặt lại câu hỏi cho sáng rõ hơn chứ không đưa ra giải pháp. Nếu
nhóm im lặng quá lâu do hết ý hay không ai có ý kiến, giáo viên tìm hiểu lí do và đặt
câu hỏi cho học sinh trả lời. Trường hợp trong nhóm có thành viên “ngôi sao” hoặc có
thành viên quá nhút nhát, giáo viên khéo léo giải quyết vấn đề bằng cách cho rằng ý
kiến của thành viên quá nổi trội là đáng ghi nhận nhưng giáo viên muốn nghe ý kiến
của học sinh nhút nhát.
Cuối buổi thảo luận, nhiệm vụ của giáo viên là nhận xét, bổ sung, định hướng
đúng vấn đề, ghi nhận đóng góp của các nhóm, cho điểm.
Sau đây là những câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị một tiết dạy học
nhóm:
- Chủ đề có phù hợp với dạy học nhóm không ?
- Các nhóm làm việc nhiệm vụ giống nhau hay khác nhau ?
- Học sinh có đủ điều kiện, kiến thức để làm việc nhóm chưa ?
- Cần trình bày làm việc nhóm như thế nào cho hiệu quả ?
- Cần chia nhóm theo tiêu chí nào ?
- Cần tổ chức bàn ghế lớp học như thế nào ?
Nếu đặt ra câu hỏi và giải đáp cho các câu hỏi đó thì đã góp một ý nghĩa vô
cùng quan trọng cho sự thành công của buổi thảo luận.
3.3.2.Nhiệm vụ của học sinh
Học sinh phải chuẩn bị ý kiến cho buổi thảo luận, tham gia thảo luận một cách
tích cực
Nếu ý kiến trùng với ý kiến của bạn trả lời trước thì học sinh cần phải bổ túc
thêm hay đưa ra một ý kiến khác. Học sinh bảo vệ ý kiến của mình bằng những dẫn
chứng thuyết phục nếu ý kiến của bản thân khác với ý kiến của cả nhóm và phải chấp
nhận ý kiến đúng đắn. Trong khi thảo luận, học sinh cần ghi chép những ý kiến thảo
luận trên vở nháp. Cuối buổi thảo luận, học sinh nhóm trưởng có trách nhiêmh trình
nhóm học tập cảm thấy bị chia thành những học sinh thông minh và học sinh yếu kém,
gây ra sự tự ti mặc cảm trong các em.
Ngoài ra còn có các cách phân chia khác nhau như phân chia nhóm theo các
dạng học tập (dùng khi học tập theo tình huống), nhóm với các bài tập khác nhau,
nhóm phân chia theo giới tính,…
3.5.Các bước tiến hành thảo luận nhóm
3.5.1.Tổ chức nhóm
Ngay buổi đầu của môn học, giáo viên nên thông báo cho học sinh cách tổ chức
nhóm và nội dung học tập của nhóm. Việc tổ chức nhóm sao cho giáo viên có thể bao
quát được nhóm. Số lượng thành viên trong nhóm vừa đủ để làm việc được và đồng
thời phải phát huy được tính tích cực của mỗi thành viên trong nhóm.
13
Thông thường nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 học sinh và phải có nhóm trưởng. Giáo
viên có thể phân nhóm ngẫu nhiên hoặc theo một mục đích riêng. Cũng có khi để cho
học sinh tự chọn nhóm. Việc phân nhóm có nhiều cách khác nhau nhưng miễn sao đạt
được mục đích học sinh có sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, tránh tình trạng
trong nhóm chỉ có một vài người làm việc còn những người khác không làm gì cả.
Cơ cấu tổ chức nhóm: Một nhóm có hoạt động hiệu quả cần có cơ cấu tổ chức:
- Nhóm trưởng có trách nhiệm tổ chức, điều hành mọi hoạt động của nhóm,
nhóm trưởng có thể do các thành viên trong nhóm bầu hoặc do giảng viên chỉ định.
- Có thể có nhóm phó nếu quy mô nhóm lớn để thay thế nhóm trưởng khi nhóm
trưởng vắng mặt hoặc hỗ trợ nhóm trưởng trong một số việc.
- Thư kí để ghi chép các diễn biến các công việc, thảo luận của nhóm thư kí có
thể thay đổi theo từng công việc hoặc cố định từ đầu đến cuối.
- Phải quy định rõ trách nhiệm cụ thể từng vị trí của các thành viên trong nhóm
- Trưởng nhóm phải có năng lực, nhiệt tình và có uy tín: trưởng nhóm sẽ góp
phần quyết định thành công của một nhóm học tập. Trong hoạt động của một nhóm,
Lưu ý: đề tài thảo luận nên là những vấn đề mở (chưa có giải đáp trong sách
giáo khoa) thì mới gây được hứng thú cho học sinh. Không nên chọn những câu hỏi
mà trong sách giáo khoa đã có lời giải.
Câu hỏi thảo luận phải là những câu hỏi:
+ Câu hỏi phải là câu hỏi mở
+ Câu hỏi phải dễ hiểu: khi đọc lên chỉ hiểu theo một nghĩa. Câu hỏi chỉ bao
hàm một đến hai ý.
+ Câu hỏi phải đúng văn phạm
+ Thường là những câu hỏi suy luận: làm thế nào, liệt kê, hãy cho biết, theo
các em, hãy trình bày,…
3.5.3.Nhóm thảo luận và thuyết trình
Giáo viên tuyên bố cách thức thuyết trình bằng phương tiện gì? Người thuyết
trình được chỉ điểm ngẫu nhiên hoặc do nhóm chọn và đề cử (nếu nhóm đề cử thì mỗi
lần thuyết trình cần phải thay người khác để mỗi cá nhân đều có cơ hội thuyết trình).
Ngoài ra có thể chấp nhận cho cả nhóm cùng tham gia hỗ trợ thuyết trình và trả lời các
câu hỏi phản biện. Dù thực hiện bằng cách nào nhưng yêu cầu đặt ra là mỗi thành viên
trong nhóm phải hiểu và nắm rõ được nội dung bài thuyết trình của nhóm mình (có thể
yêu cầu bất kì thành viên nào trong nhóm lên tóm tắt lại phần nội dung của bài thuyết
trình)
Giáo viên chỉ định nhóm nhận xét và phản biện cụ thể hoặc mời ngẫu nhiên bất
kì hoặc cũng có thể cho phản biện tự do (học sinh xung phong). Nên để cho các lớp
được tự do phản biện trước, nếu không có ai nhận xét và phản biện thì giáo viên mới
15
chỉ định. Lúc này, giáo viên nên là người đóng vai trò quan sát, qua đó ghi nhận đúng
sai và đánh giá các nhóm.
Giáo viên cũng có thể đặt câu hỏi cho nhóm thuyết trình và cũng có thể hỗ trợ
nhóm trả lời câu hỏi của các nhóm khác khi nhóm thuyết trình không trả lời được hoặc
16
chủ đề. Điểm này nhân với số điểm của từng cá nhân sẽ ra số điểm mà học sinh đạt
được.
- Các nhóm đánh giá kết quả làm việc của nhau: sau phần thuyết trình của các
nhóm và phần nhận xét của giáo viên, giáo viên yêu cầu các nhóm bình chọn lẫn nhau
(chỉ bình chọn không chấm điểm) đây là việc làm phát huy tính dân chủ trong việc
đánh giá đồng thời giúp cho giáo viên đưa ra kết quả cuối cùng một cách công bằng.
- Giáo viên chấm điểm: giáo viên chấm điểm cho các nhóm sau khi đã có sự
bình chọn giữa các nhóm với nhau. Phần chấm điểm của giáo viên nên bao gồm: nội
dung thuyết trình của nhóm và phần phản biện, ngoài ra cần chấm thêm kĩ năng thuyết
trình. Tất cả nội dung chấm điểm cần thông báo trước cho cả lớp biết.
3.6.Một vài nhận xét về phương pháp thảo luận nhóm
3.6.1.Ưu điểm của phương pháp
Phương pháp tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm có những ưu điểm so với
các phương pháp dạy học truyền thống:
- Việc ứng dụng phương pháp này đã tích cực hóa người học. Qua đó giúp học
sinh chủ động tìm tòi khám phá kiến thức nên tạo được sự thích thú, khơi dậy niềm
đam mê trong việc tìm kiến thức và từ đó học sịnh sẽ hiểu biết nhiều hơn.
- Thông qua việc chủ động tìm tòi kiến thức và khám phá kiến thức mới giúp
học sinh tư duy chủ động thay vì tư duy thụ động lối cũ chỉ nghe thầy giảng, lĩnh hội
kiến thức một chiều.
- Học sinh cùng làm việc với nhau sẽ tạo lập được tinh thần đoàn kết, hợp tác
giữa các thành viên trong nhóm và mở rộng giao lưu với các học sinh khác, góp phần
tích cực trong quá trình xây dựng nội dung bài học.
- Trong quá trình làm việc nhóm giúp học sinh rèn luyện tính tự chủ, trách
nhiệm trong công việc và biết cách phối hợp với các thành viên trong nhóm, từ đó giúp
học sinh nâng cao kĩ năng làm việc nhóm, một kĩ năng mềm vô cùng cần thiết cho
dạy học tích cực.
- Phương pháp thảo luận nhóm phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh, khắc phục
được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền thống do vậy gây hứng thú cho
người học, kích thích học sinh tư duy tích cực.
- Tài liệu học tập, tài liệu tham khảo phong phú và đa dạng giúp học sinh tìm
kiếm dễ dàng hơn.
- Các kênh thông tin, truyền thông phát triển nhanh chóng tiện lợi hơn trong
việc thu thập dữ liệu
- Điều kiện cơ sở vật chất của trường ngày một đầy đủ hơn giúp học sinh trình
bày bài thuyết trình dễ dàng, nhanh chóng và hay hơn.
3.7.2 Khó khăn
18
Tuy đã có những thusận lợi hơn so với ngày xưa nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại
một số khó khăn sau:
- Mặt bằng về điều kiện, kĩ năng của học sinh không đồng đều, nhiều em chưa
thành thạo trong một số kĩ năng liên quan đến phương pháp này nên việc học tập của
các em gặp nhiều khó khăn.
- Đây là phương pháp dạy học mới nên giáo viên và học sinh không tránh khỏi
sự lung túng trong một số kĩ năng, kiến thức.
- Thông tin trên các phương tiện truyền thông được đăng tải từ nhiều nguồn
khác nhau khiến người học khó phân biệt được sự chính xác của thông tin kiến thức.
- Về việc chia nhóm: số học sinh mỗi lớp hiện nay từ 35 em trở lên, nếu chia
lớp thành hai nhóm thì sẽ đông, nếu chia lớp thành quá nhiều nhóm thì sẽ không có đủ
thời gian cho các nhóm trình bày, giáo viên khó bao quát được lớp, khó phát hiện học
sinh nào còn thụ động.
- Về đánh giá kết quả học nhóm còn khó khăn: hiện nay chưa có văn bản nào
quy định cho việc đánh giá thảo luận nhóm. Đây cũng là một hạn chế bởi lẽ nếu có
hiện đầy đủ các yêu cầu đặt ra từng cá nhân hoặc nhóm.
4.Cơ sở ngôn ngữ học
4.1.Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,
phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội.
4.2.Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” như vậy
chức năng quan trọng nhất, cơ bản nhất của con người là chức năng giao tiếp.
Giao tiếp- hiểu theo nghĩa rộng-là dùng mã để truyền đi một thông tin. Việc truyền đạt
thông tin này được tiến hành qua những bước liên tục, quá trình này làm thành hệ
thống giao tiếp với các nhân tố sau:
- Con người: tức là những kẻ tham gia vào giao tiếp. Con người có thể đóng vai
trò là nguồn phát tin và nguồn nhận tin. Nguồn phát tin và nguồn nhận tin có thể là
một
- Mã: vừa là kí hiệu (ngôn ngữ hoặc văn tự) vừa là cách sử dụng chúng. Nguồn
phát tin phải mã hóa, phải lập mã tức là dùng mã tạo ra một hình thức có thể truyền đạt
bằng kênh, nguồn nhận phải giải mã tức là nhận kiểu hình thức đó.
- Nội dung thông tin truyền đi được gọi là thông điệp.
- Thông điệp này được tổ chức qua văn bản, tức là qua cách lựa chọn và sắp xếp
ngôn ngữ để giao tiếp.
Muốn giao tiếp xảy ra, thì nguồn nhận tin và nguồn phát tin phải sử dụng cùng
một mã chung, hay ít nhất hai mã được sử dụng phải tương đương phần nào. Mặt khác,
mã hiểu rộng ra có thể là vốn kiến thức của người nói, người nghe, người đọc, người
20
viết. Vốn kiến thức giữa mã phát và mã nhận càng gần nhau bao nhiêu thì giao tiếp
càng đạt hiệu quả cao bấy nhiêu. Tuy nhiên, sự trùng khớp về mã khóa và mã nhậntrên thực tế- chỉ là điều lí tưởng.
Ngôn ngữ được xem như là mã và lời nói là thông báo cụ thể: ngôn ngữ là cái
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học mới đã sát nhập hai phân môn Từ ngữ và
Ngữ pháp thành phân môn Luyện từ và câu. Cơ sở của việc sát nhập này là xuất phát
từ mối quan hệ chặt chẽ giữa từ và câu trong giao tiếp đồng thời coi trọng yêu cầu thực
hành của môn học.
Phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng trong chương trình Tiểu học.
Trước hết, Luyện từ và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho học sinh đặc biệt là hệ thống
từ ngữ cung cấp cho học sinh được gắn với chủ điểm ở từng lớp nhằm tăng cường sự
hiểu biết của học sinh về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống.
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn
kĩ năng dùng từ đặt câu, sửu dụng từ ngữ vào trong giao tiếp hằng ngày. Chính vì vậy,
học sinh được làm quen với từ và câu ngay từ lớp 1 và được học với tư cách là một
phân môn độc lập của môn Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5.
1.1.2.Nhiệm vụ của dạy học Luyện từ và câu
1.1.2.1.Làm giàu vốn từ cho học sinh, phát triển năng lực dùng từ, đặt câu cho
các em.
- Nghĩa từ: giúp học sinh nắm nghĩa của từ, phạm vi sử dụng chúng, nắm được
từ nhiều nghĩa, chuyển nghĩa, các từ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa.
- Mở rộng vốn từ: Xây dựng một kho từ ngữ phong phú, thường trực và có hệ
thống trong trí nhớ của học sinh.
- Tích cực hóa vốn từ: nghĩa là dạy sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ
trong lời nói và lời viết của học sinh, “đưa từ” vào trong số vốn từ được học sinh dùng
thường xuyên, dồng thời loại ra khỏi vốn từ của học sinh những từ không văn hóa.
- Dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu, phù hợp
với ngữ cảnh, mục đích giao tiếp.
1.1.2.2.Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
Kiến thức về từ và câu sơ giản, cơ bản, cần thiết và vừa sức với các em. Đó là
những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng. Cụ thể đó là
những kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại, các kiến thức về câu
Để làm gì?
+ Dấu câu: dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy.
+ Ghi nhớ các nghi thức lời nói khi chào hỏi, chia tay, mời, cảm ơn, xin lỗi, yêu
cầu, tự giới thiệu…
2.2.1.2. Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa lớp 2
Luyện từ và câu được sắp xếp là tiết thứ 6 trong quy trình 10 tiết học về Tiếng
Việt một tuần (sau các bài học: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập đọc(bài thứ 2)).
-
Cấu trúc của bài học trong sách giáo khoa:
Mỗi bài học Luyện từ và câu thông thường được trình bày từ 3 - 4 bài tập.
-
Cách sắp xếp các bài tập theo thứ tự:
23
+ Những bài tập nhằm giúp học sinh nhận biết về từ ngữ theo chủ điểm hoặc từ
loại.
+ Những bài tập về nhận diện các dấu hiệu liên quan đến câu.
+ Những bài tập vận dụng từ và câu trong giao tiếp.
2.2. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3
2.2.1. Nội dung chương trình:
Chương trình Luyện từ và câu lớp 3 gồm 31 tiết. Trong đó, học kì I: 16 tiết, học
kì II: 15 tiết, mỗi tuần một tiết gồm các nội dung:
*Mở rộng từ, hệ thống hóa, tích cực vốn từ theo các chủ điểm được học ở bài
tập đọc (dựa vào vốn sống của học sinh, bài tập đọc, gợi ý của giáo viên).
Hình thức luyện tập mở rộng vốn từ thông qua các bài tập. Hệ thống bài tập
nhân hóa (thông qua các bài tập).
- Bài tập tu từ so sánh:
+ Nhận diện (tìm) những sự vật, những hình ảnh, các vế so sánh, các từ so sánh,
…
+ Tập nhận biết tác dụng của so sánh.
+ Tập đặt câu có biện pháp so sánh.
-
Bài tập tu từ nhân hóa:
+ Nhận diện phép nhân hóa trong câu: Cái gì được nhân hóa? Nhân hóa bằng
cách nào?
+ Tập nhận biết cái hay của nhân hóa.
+ Tập nhận biết câu hay đoạn có nhân hóa.
2.2.2. Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa lớp 3
Vị trí tiết học trong sách giáo khoa: Luyện từ và câu được sắp xếp là tiết thứ 6
trong quy trình 9 tiết học về Tiếng Việt một tuần (sau các bài học: Tập đọc, Kể chuyện,
Chính tả, Tập đọc)
Cấu trúc của bài học trong sách giáo khoa: Cấu trúc bài học Luyện từ và câu
lớp 3 như lớp 2.
2.3. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 4.
2.3.1. Nội dung chương trình
Luyện từ và câu ở lớp 4 được học trong 62 tiết, mỗi tuần 2 tiết trong cả năm
học. Bao gồm các nội dung sau:
*Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ theo các chủ điểm:
+ Học kì I: Nhân hậu, Đoàn kết, Trung thực, Tự trọng, Ước mơ, Ý chí nghị lực,
Trò chơi, Đồ chơi.
+ Học kì II: Tài năng, Sức khỏe, Cái đẹp, Dũng cảm, Du lịch, Thám hiểu, Lạc
quan, Yêu đời,…
*Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và từ: