Nghiên cứu hiệu quả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn đạo đức lớp 3 - Pdf 52

I. Phần mở đầu:
I.1. Lí do chọn đề tài.
Trong sự nghiệp đổi mới về giáo dục và đào tạo thì đổi mới về phương pháp
dạy học có một vị trí đặc biệt quan trọng. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế
giới chỉ ra rằng : Đổi mới về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới
cho giáo dục trong xã hội hiện đại. Hơn nữa ở các bậc học càng thấp, vai trò của
phương pháp càng quan trọng. Đặc biệt bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ
thống giáo dục quốc dân, do đó đổi mới phương pháp dạy học càng cấp thiết hơn.
Phong trào đổi mới về phương pháp dạy học từ nhiều năm qua với những tư tưởng
chủ đạo : “lấy hoạt động của người học làm trung tâm”, “tích cực hoá hoạt động
của người học”… Tất cả những tư tưởng này là: “phương pháp dạy học cần hướng
vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác,
tích cực và sáng tạo, thực hiện độc lập hoặc giao lưu”.
Lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học là hoạt động sáng tạo
và thường xuyên của giáo viên. Cùng một nội dung như nhau nhưng học sinh học
tập có hứng thú, tích cực hay không lại phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy
học của người thầy. Một trong những cách để phát huy hứng thú, tích cực, chủ
động của học sinh đó là việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm.
Môn Đạo đức ở Tiểu học là môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục
cơ sở ban đầu của những phẩm chất đạo đức cho học sinh, góp phần tích cực vào
sự hình thành ở học sinh ý thức, thái độ đạo đức, từ đó định hướng cho các em
thực hiện hành vi đạo đức. Nội dung của môn Đạo Đức ở Tiểu học là các chuẩn
mực hành vi đạo đức, được thể hiện qua các bài đạo đức. Để giới thiệu được cho
học sinh nội dung của môn Đạo đức đòi hỏi phải vận dụng nhiều phương pháp dạy
học thích hợp, trong đó phương pháp thảo luận nhóm giữ một vị trí quan trọng.
Học sinh lớp 3 đã được hình thành kinh nghiệm đạo đức qua tiếp thu các chuẩn
mực hành vi đạo đức ở các lớp 1 và 2. Học sinh lớp 3 kinh nghiệm học tập cũng
phong phú hơn, các em đã hình thành ý thức tổ chức kỉ luật, tính tự giác cao hơn.
Chính vì vậy vai trò của phương pháp thảo luận nhóm trong việc hình thành kinh
nghiệm đạo đức cho các em càng nổi bật rõ hơn. Vai trò của phương pháp thảo
luận nhóm là không thể phủ nhận trong việc dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học.

quyết các vần đề của đề tài.
Phương pháp điều tra.
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá hiệu quả, của việc sử dụng phương
pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức lớp 3.
Để đạt được mục đích trên, tôi soạn một hệ thống câu hỏi đóng, mở. Những câu
hỏi này được biên soạn theo yêu cầu sau:
Nội dung câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, hướng đến thăm dò ý kiến của giáo
viên và học sinh khối lớp 3, trường tiểu học ....
Hệ thống câu hỏi thống nhất, được sắp xếp theo trình tự nghiên cứu. Trong đó có
những câu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên, những khó khăn và thuận
lợi khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức lớp 3.
Phương pháp phỏng vấn.
Tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn các giáo viên trực tiếp giảng dạy và học sinh khối
lớp 3 nhằm bổ sung làm rõ thêm vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp quan sát.
Dự giờ một số tiết học môn Đạo đức, quan sát hoạt động của giáo viên và học
sinh trong quá trình thảo luận nhóm nhằm đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức.
Phương pháp thống kê toán học.
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm xử lý số liệu và kết quả thu thập được để rút
ra kết luận cho việc nghiên cứu đề tài.
II. Phần nội dung.
II.1. Cơ sở lý luận
* Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
2


Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Hợp biên soạn giáo trình “Phương pháp
dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học dành cho hệ tại chức- từ xa đào tạo giáo viên
Tiểu học đã đưa ra 15 phương pháp dạy học Đạo đức. Trong đó có đề cập tới

Đạo đức thì rất ít tác giả, tác phẩm nghiên cứu đến. Đặc biệt, thảo luận nhóm trong
dạy học môn Đạo đức lớp 3 thì chưa có tác giả , tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể.
* Vị trí, mục tiêu của môn Đạo đức ở tiểu học.
Vị trí của môn Đạo đức ở Tiểu học.
Môn Đạo đức là một môn học gắn bó mật thiết với quá trình giáo dục đạo đức ở
Tiểu học.

3


Việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học được thực hiện bằng hai con đường
cơ bản là qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp và quá trình dạy học các
môn học khác nhau, trong đó có môn Đạo đức.
Có thể nói, các môn học ở Tiểu học đều có khả năng giáo dục đạo đức. Ví dụ:
qua một bài thơ, truyện kể trong môn Tiếng việt đều chứa đựng những nội dung
giáo dục và nếu chúng được khai thác đúng đắn thì giáo viên có thể giáo dục cho
học sinh những khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực hành vi liên quan. Hay
qua việc dạy học môn Toán, có thể giáo dục cho các em những nét tính cách tích
cực như tính cẩn thận, lòng kiên trì, tính chính xác,…
Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng là một con đường quan trọng trong
việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học với những hình thức cụ thể như văn
nghệ, báo tường, tham quan, cắm trại,..
Tuy nhiên, việc giáo dục đạo đức qua môn học khác nhau và qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp ở Tiểu học chưa thực sự có tính hệ thống nên hiệu quả giáo dục
còn hạn chế.Vì vậy, cần có một môn học với chức năng chủ yếu là giáo dục đạo
đức cho học sinh Tiểu học một cách hệ thống – đó là môn Đạo đức.
Như vậy, môn Đạo đức có vị trí đặc biệt quan trọng mà không một môn học nào
có thể thay thế được. Bởi lẽ, chức năng của nó là giáo dục đạo đức cho học sinh
Tiểu học với hệ thống chuẩn mực hành vi đạo đức được quy định trong chương
trình môn học này. Cụ thể nó sẽ giúp học sinh là:

năng học tiếp môn Giáo dục công dân.
Như vậy, các em sẽ dần dần hình thành được một hệ thống những tri thức đạo
đức ngày càng có tính khái quát cao và ngày càng sâu tính tích luỹ để phục vụ cho
cuộc sống của mình.
Mục tiêu của môn Đạo đức ở Tiểu học.
Mục tiêu của môn Đạo đức ở Tiểu học là giúp học sinh hình thành được các
chuẩn mực hành vi đạo đức trong chính các em về ý thức đạo đức, thái độ đạo đức,
hành vi đạo đức.
Mục tiêu về tri thức.
Học sinh có những hiểu biết cần thiết về các chuẩn mực hành vi cơ bản, phù hợp
lứa tuổi phản ánh các mối quan hệ hằng ngày thường gặp của các em, từ đó bước
đầu các em có niềm tin đạo đức đúng đắn.
Những tri thức này, tuỳ từng bài đạo đức cụ thể, có thể bao gồm:
Yêu cầu các chuẩn mực hành vi.
Sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi.
Ý nghĩa: mối quan hệ giữa học sinh và đối tượng có liên quan đến chuẩn mực.
Tác dụng: những lợi ích, điều tốt đẹp cho đối tượng, những người xung quanh, bản
thân học sinh.
Tác hại của việc làm trái chuẩn mực hành vi: những cái ác, điều xấu mang lại cho
đối tượng, những người xung quanh, bản thân học sinh.
Cách thực hiện chuẩn mực đó theo các tình huống có liên quan.
Những việc cần làm.
Những việc cần tránh theo chuẩn mực quy định.
Để đạt được mục tiêu này, cần tổ chức cho học sinh phân tích, đánh giá những
hành vi, làm việc, hiện tượng cụ thể để các em thấy được lợi ích của việc làm
đúng, tốt (hay tác hại của việc làm sai, xấu); nêu các cách xử lí tình huống tương tự
trong cuộc sống rồi lựa chọn cách phù hợp… Từ đó tự học sinh rút ra bài học đạo
đức tương ứng. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho học sinh Tiểu học độc lập hay
trao đổi, hợp tác với bạn để tự rút ra tri thức về bản chất của chuẩn mực hành vi.
Tri thức, niềm tin cần được củng cố, khắc sâu qua việc tổ chức cho các em vận

chung và đạo đức của học sinh Tiểu học nói riêng được đánh giá qua hành động,
việc làm chứ không chỉ qua lời nói.
Những kĩ năng, hành vi này thường bao gồm:
Biết tự nhận xét hành vi của bản thân;
Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác;
Biết xử lí những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống;
Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu,qua trò chơi, hoạt cảnh;
Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài học đạo đức.
Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày của mình phù
hợp với các chuẩn mực hành vi.
Việc hình thành kĩ năng được thực hiện qua việc học sinh vận dụng tri thức đạo
đức để liên hệ thực tế, tự đánh giá bản thân, thực hiện trò chơi, điều tra thực tiễn.
Còn hành vi đạo đức và thói quen tích cực có được là nhờ việc các em tự giác thực
hiện những hành động, việc làm phù hợp với bài đạo đức trong cuộc sống thường
nhật của mình qua các mối quan hệ khác nhau.
Ba mục tiêu trên đây của môn Đạo đức có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ
trợ nhau, thống nhất với nhau.
6


Tri thức, niềm tin đạo đức định hướng cho việc thể hiện thái độ, tình cảm đạo
đức đúng đắn và việc hình thành kĩ năng, thực hiện hành vi và thói quen đạo đức
tích cực.
Qua việc hình thành kĩ năng, thực hiện hành vi, học sinh sẽ củng cố, khắc sâu tri
thức đạo đức, đồng thời các em cũng thể hiện, khẳng định thái độ và nảy sinh tình
cảm đạo đức của mình.
Thái độ, tình cảm đạo đức đúng đắn có tác dụng kích thích, làm cho quá trình
nhận thức diễn ra thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn (từ đó các em có được tri thức cần
thiết và niềm tin tự giác), thúc đẩy việc hình thành kĩ năng, rèn luyện hành vi và
thói quen đạo đức tích cực.

riêng. Như vậy phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất
7


của quá trình dạy học. Sau khi đã xác định được mục đích, nội dung thì một quá
trình dạy học có gây hứng thú, tích cực hay không, có biến kiến thức thành thái độ
hành vi trong thực tiễn hay không, tất cả phụ thuộc nhiều vào phương pháp dạy
học. Vì mục đích và nội dung về cơ bản đã được quy định trong sách giáo khoa,
nên trong thực tiễn dạy học, vấn đề phương pháp dạy học là hoạt động sáng tạo, là
mối quan tâm thường xuyên của người thầy.
Phương pháp dạy học môn Đạo đức theo chương trình Tiểu học sau năm 2000
có sự khác biệt so với phương pháp dạy học trước đây, thể hiện ở chỗ:
Dạy học Đạo đức trước đây mang nặng tính áp đặt, thường đưa ra những khuôn
mẫu ứng xử có sẵn, một chiều và thuyết phục học sinh tin rằng cách ứng xử đó là
tốt, là đúng. Còn dạy học Đạo đức theo chương trình mới lại khuyến khích sử dụng
những bức tranh, những tình huống, những câu chuyện với kết cục mở để học sinh
có thể tự phán đoán, liệt kê các cách giải quyết; tự phân tích, so sánh kết quả và tự
tìm ra cách giải quyết phù hợp nhất trong tình huống, hoàn cảnh đó.
Nếu như dạy học Đạo đức trước đây chỉ một cách: Bắt đầu từ phân tích truyện –
đàm thoại – khái quát thành bài học, thì dạy học theo chương trình Tiểu học sau
năm 2000 có thể tiến hành theo nhiều cách: có thể bắt đầu từ phân tích truyện kể,
bức tranh, tình huống với kết cục mở; có thể bắt đầu bằng trò chơi sắm vai; có thể
bắt đầu bằng việc học sinh báo cáo và thảo luận các kết quả điều tra, tìm hiểu vấn
đề trong thực tiễn ở lớp học, nhà trường địa phương có liên quan đến bài học đạo
đức.
Nếu như việc dạy học Đạo đức trước đây chỉ sử dụng phương pháp truyền
thống như: nêu gương, khen thưởng, trách phạt thì dạy học hiện nay ngoài việc sử
dụng các phương pháp truyền thống còn sử dụng các phương pháp dạy học hiện
đại như thảo luận nhóm, đóng vai, trò chơi, điều tra,…
Nếu như dạy học Đạo đức trước đây, học sinh tiếp thu bài học một cách thụ

khả năng độc lập suy nghĩ.
Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều được hoạt động tích cực, không thể ỷ lại
một vài người năng động và nổi trội hơn. Nhóm sẽ tự bầu ra nhóm trưởng nếu cần.
Các thành viên trong nhóm sẽ thay nhau làm nhóm trưởng. Sự lãnh đạo của nhóm
trưởng là rất quan trọng. Nhiệm vụ chính của nhóm trưởng là phát huy tinh thần
trách nhiệm và những sáng kiến của các nhóm viên, nhạy bén phát hiện những nhu
cầu của các nhóm viên để đạt thành những công tác chung. Dưới sự chỉ huy, điều
khiển của nhóm trưởng, các thành viên trong nhóm giúp nhau tìm hiểu vấn đề
trong không khí thi đua với các nhóm khác, kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ
đóng góp vào kết quả chung của cả lớp. Tuy nhiên, ở đây giáo viên cần lưu ý, học
sinh thường coi thảo luận trong nhóm như một tình huống cạnh tranh mà trong đó
họ chiến thắng bằng cách đánh bại ý kiến của người khác, do đó cần khuyến khích
tính hợp tác ở các em trong một nhóm, giữa các nhóm với nhau, thi đua nhưng
không cạnh tranh.
Vì thế, để nhóm có thể hoạt động đúng với yêu cầu thảo luận, giáo viên cần tập
cho học sinh các kĩ năng điều hành của một nhóm trưởng. Đó là các kĩ năng: trình
bày câu hỏi hoặc vấn đề thảo luận một cách rõ ràng, chỉ định người phát biểu, hạn
định thời gian phát biểu của các nhóm viên trong nhóm một cách hợp lí, biết lắng
nghe, biết ghi chép, biết tổng hợp ý kiến … các kĩ năng này không những quyết
định hiệu quả học tập của nhóm mà còn rất có ý nghĩa trong cuộc sống sau này của
học sinh.
Như vậy, phương pháp thảo luận nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia
sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây
dựng nhận thức, thái độ mới. Bằng cách nói ra những điều mình suy nghĩ, mỗi
người có thể nhận thức rõ trình độ hiểu biết của mình về vấn đề học tập được nêu
ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn
nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ phía giáo viên, thành công của
lớp học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của thành viên. Vì vậy, phương pháp
9


sao việc học ở nhà của các em, đường xá của một số buôn đi lại khó khăn, vất vả.
Một số em tiếp thu bài còn chậm, còn thụ động, chưa có sự cố gắng trong học tập,
còn nhút nhát khi đứng trước tập thể để phát biểu xây dựng bài học.
Với các hoạt động như: Thảo luận nhóm, trình bày kết quả thảo luận của nhóm
mình, trả lời câu hỏi của bạn và đặt câu hỏi cho bạn, …Tất cả đối với các em còn
rất lạ lẫm.
Bên cạnh đó một số cha mẹ học sinh chưa thực sự quan tâm đến con em mình,
còn có cách nghĩ '' trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô giáo chủ nhiệm'' cũng làm ảnh
hưởng đến chất lượng học tập môn Đạo đức.
Hiện nay những trò chơi trên mạng Internet đã ít, nhiều ảnh hưởng đến các em.
Các em đang trong độ tuổi thích bắt chước nhưng chưa phân biệt được hành vi đạo
10


đức tốt, xấu. Chính vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội
là rất cần thiết để giáo dục các em, giáo dục ngay từ bậc Tiểu học.
b. Thành công – hạn chế.
Thành công:
Học sinh rất hứng thú học tập theo nhóm trong môn Đạo đức, học với không khí
vui tươi, sinh động.
Làm việc theo nhóm nhỏ có thể phát triển được kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải
quyết vấn đề... cho học sinh. Động viên các em học hỏi lẫn nhau, hợp tác cùng
nhau. Giáo viên giúp các em hiểu ra rằng trong cùng một nhóm cần gắn bó với
nhau, quan tâm chia sẻ đến nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Bên cạnh đó còn tập trung
những điểm mạnh của từng cá nhân để bổ sung cho nhau những khiếm khuyết.
Qua quan sát sự làm việc của từng nhóm, giáo viên có thể dựa vào đó để biết
được sức học của từng học sinh, từ đây giáo viên có phương pháp dạy học cho phù
hợp. Đồng thời lựa chọn những em học khá giúp đỡ những em lực học còn yếu.
Hoạt động nhóm tạo cơ hội cho các em có sự bình đẳng, dám thể hiện khả năng
cũng như chính kiến của mình, phát triển ngôn ngữ tiếng việt, giúp những học sinh

pháp tốt, kết hợp nhiều yếu tố như hệ thống câu hỏi, nội dung thảo luận, số lượng
thành viên, lực học trong nhóm, bàn ghế phù hợp, ánh sáng... Nhưng yếu tố quyết
định là ở các em. Hứng thú, tích cực là chưa đủ mà học sinh cần được hướng dẫn
chuẩn bị nội dung thảo luận trước, giải thích rõ trước khi vào bài.
c. Mặt mạnh – mặt yếu.
Mặt mạnh:
Hoạt động nhóm trong môn Đạo đức giúp các em có tinh thần làm việc tập thể,
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân trong nhóm với nhau. Mỗi em có một nhiệm
vụ, hoàn thành công việc được giao là góp phần vào sự thành công của nhóm, của
tập thể lớp. Hiệu quả học tập được nâng cao.
Làm việc theo nhóm giúp học sinh có tinh thần đoàn kết, sống và làm việc với
tinh thần – mình vì mọi người, mọi người vì mình. Vì thế từ ngàn xưa cha ông ta
đã có câu: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Mặt yếu:
Giáo viên tổ chức cho các em học tập theo nhóm sẽ làm cho lớp học thường là
mất trật tự. Ngoài ra có một số em không thích hoạt động nhóm vì muốn thể hiện
kiến thức của riêng mình với cô giáo.
Mỗi hoạt động thường là phải chia nhóm, công việc này cũng mất thời gian. Khi
đánh giá kết quả học tập, giáo viên cần khéo léo kết hợp sự đánh giá của mình với
đánh giá của học sinh.
Cơ sở vật chất còn hạn chế; bàn ghế chưa thực sự phù hợp với học sinh lớp 3.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
100% các em là người đồng bào dân tộc Êđê nên các em chưa thực sự tự tin
trong giao tiếp bằng tiếng việt, một số gia đình kinh tế còn khó khăn, cha mẹ các
em trình độ văn hoá không cao, hơn nữa đi làm về mệt nên chưa thực sự quan tâm
đến việc học của các em mà giao phó lại cho nhà trường, giáo viên chủ nhiệm lớp,
đồng thời chưa kết hợp nhịp nhàng giữa giáo viên và phụ huynh học sinh, giáo
viên chưa đúc kết được phương pháp “thật sự phù hợp” với đối tượng học sinh
đồng bào. Các em còn nhỏ chưa phân định được ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, khả
năng tự chủ chưa cao. Các em ít dám bộc lộ cảm xúc cũng như chính kiến của

nhóm. Số giáo viên quan điểm thảo luận nhóm là hoạt động một chiều của các học
sinh trong nhóm với nhau: diễn ra trước và sau khi giáo viên truyền đạt nội dung
bài học là những quan điểm rất phiến diện, hiểu chưa đúng về bản chất của thảo
luận nhóm. Tuy nhiên số này không nhiều. Phần lớn giáo viên được điều tra đã
nhận thức đúng về bản chất của thảo luận nhóm, đó là cách tổ chức dạy học mà
theo đó học sinh ở các nhóm học tập, trao đổi, thảo luận các nhiệm vụ học tập dưới
sự hướng dẫn của giáo viên. Tuy nhiên, muốn thảo luận nhóm phát huy hết tác
dụng của nó trong thực tiễn dạy học cần nâng cao hiểu biết cho giáo viên về bản
chất của thảo luận nhóm.
Trong quá trình dạy học môn Đạo đức, giáo viên vận dụng phương pháp thảo
luận nhóm theo các mức độ sau:
Thường xuyên:
68.66%
Đôi khi:
31,34%
Chưa sử dụng bao giờ:
0.00%
Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trong giờ Đạo đức, là một
phương pháp tổ chức cho các em trao đổi, chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với nhau
trong nhóm nhỏ về một vấn đề nào đó.
Ví dụ: Khi dạy bài 2: Giữ lời hứa – giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo
luận các tình huống:
Tình huống 1: Tân hẹn chiều chủ nhật sang nhà Tiến giúp bạn học Toán. Nhưng
khi chuẩn bị đi thì trên ti vi lại chiếu phim rất hay.
Nếu là Tân, em sẽ làm gì? Vì sao?
13


Tình huống 2: Hằng có cuốn truyện mới. Thanh mượn bạn đem về nhà xem và
hứa sẽ giữ gìn cẩn thận. Nhưng về nhà Thanh sơ ý để em bé làm rách truyện.

ở cấp Tiểu học, học sinh nắm vững kiến thức khoa học sơ giản, kĩ năng sống... sẽ
là nền móng vững chắc cho các cấp học tiếp theo và là khâu quan trọng đặc biệt
đầu tiên cho việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Ý thức được tầm quan
trọng này, là một giáo viên Tiểu học bản thân tôi luôn trăn trở, học hỏi, tìm tòi các
phương pháp giảng dạy giúp học sinh không chỉ nắm vững được kiến thức mà còn
có kĩ năng vận dụng kiến thức ấy vào thực tế cuộc sống hàng ngày.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
* Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm.
14


Tuỳ vào từng nội dung của từng tiết học, bài học mà giáo viên chọn các phương án
sao cho phù hợp. Trong hoạt động nhóm có ba nhân tố tác động với nhau, đó là:
Giáo viên – Học sinh – Đối tượng học tập (nội dung học tập cụ thể của từng bài
học). Trong quy trình tổ chức dạy học theo nhóm cần làm rõ mối liên hệ của ba
nhân tố này và sự vận động của chúng trong các bước dạy học. Quy trình dạy học
theo nhóm trong môn Đạo đức có thể bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Thành lập nhóm – có thể chia nhóm như sau:
Nhóm đôi (hai em ngồi cạnh nhau thành một nhóm).
Tình bạn (học sinh chọn những bạn mình thích để ngồi với nhau).
Theo sở thích ( học sinh cùng sở thích ngồi với nhau).
Theo hành vi ứng xử (học sinh nghịch ngợm ngồi với học sinh ít nói).
Đếm theo thứ tự (học sinh lần lượt đếm số từ 1 đến 6, những em nào cùng số thì
ngồi cùng một nhóm).
Chia ngẫu nhiên ( giáo viên cho học sinh chơi trò kết bạn. Giáo viên hô kết bạn,
kết bạn – học sinh hô kết mấy, kết mấy – giáo viên hô kết 6 – 6 học sinh kết thành
một nhóm)...
Giáo viên nêu vấn đề hoặc tình huống có vấn đề - nhiệm vụ cần giải quyết, xử lý
của nhóm; học sinh là người tổ chức nhóm, tiếp nhận vấn đề, giải quyết nhiệm vụ
của nhóm ( nhận xét, phát hiện vấn đề).

trọng tài, người kiểm tra. Học sinh tự sửa sai và rút kinh nghiệm cho bản thân.
Trong quá trình hoạt động nhóm, học sinh tham gia tích cực vào quá trình học
tập, các em được học qua quá trình tiếp thu mang tính chủ quan có liên quan tới
kinh nghiệm (từ cuộc sống, từ các bài học trước...), tác động qua lại (học sinh chia
sẻ kinh nghiệm với các học sinh khác và học từ các học sinh khác), tự đánh giá
(học sinh có sự so sánh với kết luận, rút kinh nghiệm), giao tiếp (học sinh cần diễn
đạt chia sẻ những gì các em đã học và học như thế nào).
Vì vậy trong các bước cần lưu ý tới các bước 1,2 và 3 bởi đây là những bước chủ
yếu học sinh tự làm việc theo nhóm. Trong từng trường hợp cụ thể, bước 1 và 2
học sinh làm việc trong nhóm còn bước 3 là thống nhất ý kiến giữa các nhóm. Đây
cũng là bước giúp học sinh nắm được toàn bộ vấn đề sâu sắc hơn. Ở bước 4, học
sinh có điều kiện đánh giá, tự sửa sai và rút ra được những bài học, những kinh
nghiệm cho bản thân.
* Tổ chức hoạt động nhóm.
Giai đoạn 1: Trước khi dạy.
Đây là giai đoạn chuẩn bị, xây dựng kế hoạch (thiết kế nội dung dạy học theo
nhóm). Để xây dựng kế hoạch dạy học giáo viên cần phân tích bài học cụ thể và
đặc trưng người học. Như vậy, giáo viên căn cứ vào nhiệm vụ của giờ học mà thiết
kế các nhiệm vụ học tập cụ thể và các hoạt động để học sinh tiến hành giải quyết
đồng thời thiết kế các yêu cầu học tập cụ thể cho mỗi nhóm, lựa chọn các hình thức
phù hợp để kiểm tra mức độ hiểu, kĩ năng thực hành, hành vi thái độ cần hình
thành ở học sinh.
Động lực thúc đẩy là nhân tố quan trọng trong quá trình học tập của học sinh nói
chung và trong hoạt động nhóm nói riêng. Vì vậy, khi đưa ra các bài tập, nhiệm vụ
cho các học sinh thực hiện trong nhóm, giáo viên cần phải làm sao để kích thích
cho các em mà không vượt quá khả năng của chúng. Các bài tập cũng cần dựa trên
mức độ tiếp thu và nhu cầu của học sinh. Các bài tập đưa ra phải hấp dẫn, kích
thích học sinh tự tìm hiểu các ý tưởng, tự khám phá để hiểu sâu hơn.
Cũng cần chuẩn bị phương tiện, dụng cụ cho học sinh hoạt động khi tổ chức dạy
học theo nhóm như các phiếu giao việc, phiếu học tập, giấy tờ ghi chép...

Khi học sinh tiến hành làm việc giáo viên giám sát các nhóm, hỗ trợ, can thiệp kịp
thời để mang lại hiệu quả. Giáo viên không nên làm việc riêng trong khi học sinh
thảo luận, bao quát toàn bộ lớp học. Lắng nghe các em thảo luận trong nhóm, từ đó
giáo viên có thể phát hiện những khả năng đặc biệt của từng em.
Ví dụ: Dạy bài – Kính yêu Bác Hồ.
Giáo viên chia học sinh thành các nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm quan sát
các bức ảnh mà giáo viên đã chuẩn bị, tìm hiểu nội dung và đặt tên cho từng ảnh.
Các nhóm thảo luận.
Giáo viên yêu cầu đại diện mỗi nhóm lên giới thiệu về một ảnh. Cả lớp trao đổi.
Giáo viên kết luận.

Giai đoạn 3: Sau khi dạy.
Thu nhận thông tin phản hồi từ học sinh (ý kiến phản hồi của học sinh là rất quan
trọng, giáo viên phải đánh giá được đúng, sai và kịp thời bổ sung rồi mới kết luận
18


phần tranh luận), kiểm tra đánh giá hoạt động học của học sinh, rút kinh nghiệm
cho những lần sau.
* Kiểm tra đánh giá.
Việc kiểm tra đánh giá sau một hoạt động thảo luận nhóm đó là một vấn đề hết
sức quan trọng. Nó đảm bảo tính toàn diện trong lĩnh vực thực hiện của học sinh.
Tôi đưa ra việc kiểm tra đánh giá như sau:
Đại diện nhóm trình bày kết quả.
Giáo viên hỏi: nhóm nào có ý kiến khác?
Các nhóm khác trình bày.
Giáo viên dùng cụm từ “có thế như thế này sẽ hợp lí hơn” để kết luận, rút ra nội
dung chính cần ghi nhớ của hoạt động này.
Tạo điều kiện cho học sinh được đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá bản thân để kiểm
tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện, hành vi của học sinh.


sớm, một chiều mà phải có thời gian và sự kết hợp nhịp nhàng giữa giáo viên, học
sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Khi các em có hứng thú học tập thì chất lượng
dạy – học sẽ được nâng cao.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Hiệu quả do thảo luận nhóm mang lại góp phần tích cực hình thành và phát triển
các phẩm chất và năng lực sau đây của học sinh:
Làm cho lớp tranh luận hào hứng, sôi nổi
Làm cho học sinh tiếp thu bài nhanh hơn
Làm cho học sinh hứng thú với môn học hơn
Phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh
Hình thành năng lực giải quyết vấn đề
Tất cả các tác dụng trên đạt: 67.75%
Bên cạnh đó còn nâng cao năng lực tự học của học sinh, giúp học sinh có ý thức
tìm tòi, phát hiện nhằm giúp cho các em hiểu sâu hơn, nhớ lâu và vận dụng tốt bài
học vào thực tiễn. Tinh thần hợp tác nhóm của học sinh trong giờ học Đạo đức là.
Rất hứng thú hợp tác
90,32%
Hợp tác bình thường
6.67%
Ít khi hợp tác
3.01%
Không thích hợp tác
0.00%
Tôi đánh giá cao hiệu quả của phương pháp thảo luận nhóm trong môn Đạo đức
đem lại. Hiệu quả của nó không chỉ tác động đến những phẩm chất tốt đẹp vốn có
của học sinh trước yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, mà còn tác động tới những
năng lực cơ bản của người lao động mới: năng động, sáng tạo, hợp tác...Đó chính
là những tiền đề cần thiết để đưa phương pháp dạy học này vào trong thực tiễn dạy
học ở trường Tiểu học.

Hoàn thành
(A) 82,76 %
Chưa hoàn thành (B) 0

Kết quả thực nghiệm cho thấy việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, trong
dạy học môn Đạo dức lớp 3 không những không cản trở, làm phương hại đến kết
quả dạy học môn Đạo đức mà còn nâng cao chất lượng dạy học môn này nói chung
và củng cố khơi sâu ý thức, thái độ đạo đức, hình thành và rèn luyện hành vi đạo
đức ở học sinh nói riêng. Kết quả cho thấy về tri thức, thái độ đạo đức của học sinh
được củng cố, nắm vững hơn, hành vi đạo đức được rèn nhiều hơn. Việc làm của
các em có nhiều thiết thực, hiệu quả hơn. Những việc làm đó có “bàn tay sư phạm”
điều khiển, định hướng.
Với kết quả trên đây đã chứng minh tính đúng đắn của giả thiết khoa học mà đề
tài đặt ra. Việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào quá trình dạy học tại
lớp đã có tác dụng rõ rệt trong suốt quá trình phát huy tính tích cực và góp phần
nâng cao chất lượng kết quả học tập môn Đạo đức lớp 3 ở trường Tiếu học. Qua đó
tôi có thể khẳng định tính khả thi của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm
phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả học tập trong dạy học môn Đạo đức lớp 3 ở Tiểu
học.
III. Phần kết luận, kiến nghị.
III.1. Kết luận:
Qua nghiên cứu lí luận và thực tế giảng dạy, tôi rút ra kết luận như sau:
Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh là vấn đề nhiều nhà giáo dục nghiên
cứu và tìm cách thực hiện. Các nghị quyết của Đảng về giáo dục đều nhấn mạnh
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng này. Để phát huy cao tính tích
cực, tự giác, tính chủ động của người học ngày càng nghiên cứu sâu về nội dung,
bản chất của dạy học. Đây là kiểu dạy học có hiệu quả cao, phát huy tính tích cực
chủ động của người học, gắn liền giữa lí luận và thực tiễn.
Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp đặc biệt trong hệ phương pháp
tích cực. Qua việc nâng cao hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học

đắn về vị trí của việc dạy học mộn Đạo đức. Tránh tình trạng coi môn Đạo đức là
môn phụ, không cần thiết, ít đầu tư mà chỉ dạy qua loa, chiếu lệ, thậm chí còn bỏ
tiết. Khuyến khích phong trào thi đua giáo viên nghiên cứu và viết sáng kiến kinh
nghiệm dạy học trong môn Đạo đức ở Tiểu học.
Tăng cường cơ sở vật chất, nhất là phương tiện dạy học, trang thiết bị phục vụ
cho giảng dạy.
* Đối với giáo viên:
Thường xuyên tự bồi dưỡng và nâng cao trình độ sư phạm cho bản thân. Trong
đó, cần bồi dưỡng về cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp thảo luận nhóm,
từ đó vận dụng vào quá trình dạy học có hiệu quả hơn.
Mạnh dạn vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào quá trình dạy học môn
Đạo đức ở Tiểu học một cách thích hợp, từng bước khắc phục khó khăn của bản
thân. Tránh tình trạng coi nhẹ môn Đạo đức dẫn đến việc dạy học chưa đạt hiệu
quả trong môn học này.
Hình thành kĩ năng thích hợp cho các em bằng các biện pháp sáng tạo, linh hoạt,
các hình thức phong phú, thích hợp để tạo cho không khí tiết học sinh động mang
tính giáo dục cao.
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi, mặc dù đã đạt được hiệu quả nhất định trong thực
tế giảng dạy. Tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong sự
góp ý nhiệt tâm của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp, để sáng kiến được áp
dụng ngày càng hiệu quả hơn.
Tôi xin cảm ơn.
22


23





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status