1
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Tiến tới thực hiện BHYT toàn dân là quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta.
Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và
2020 với được Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt mục tiêu đến năm 2020 có
hơn 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế (Thủ tướng chính phủ 2013).
Những năm qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương, chính sách,
biện pháp nhằm đẩy mạnh sự tham gia BHYT trên địa bàn. Tuy nhiên, đến nay,
tỷ lệ tham gia BHYT trên địa bàn còn thấp, đặc biệt là người dân khu vực nông
thôn, với dân số gần 3,7 triệu người.
Theo báo cáo của BHXH TP Hà Nội, dù số người tham gia BHYT tăng
hằng năm, từ năm 2011 đến năm 2015 tăng 12,8%. Đến tháng 6 năm 2016,
TP.Hà Nội đã có 5.549.227 người dân tham gia BHYT (Phạm Chính , 2016); so
với dân số Hà Nội sơ bộ cuối năm 2015 là 7.216.000 người (Tổng cục Thống kê
2016) thì tỷ lệ bao phủ là 76,9%. Trong đó, nhóm tham gia BHYT tự nguyện,
BHYT hộ gia đình đạt rất thấp, hiện mới có 334.454 người tham gia. Việc mở
rộng phạm vi tham gia BHYT trên địa bàn thành phố Hà Nội để thực hiện mục
tiêu của Chính phủ tiến tới BHYT toàn dân phụ thuộc rất lớn vào việc tác động
đến đối tượng dân số tham gia BHYT tự nguyện, trước hết là nông dân. Vì thế
việc nghiên cứu chủ đề nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT của nông dân
trên địa bàn thành phố Hà Nội là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và
thực tiễn
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Luận án đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các nhân tố nhằm
đẩy mạnh sự tham gia bảo hiểm y tế đối với nông dân trên địa bàn thành phố Hà
Nội trước mắt đến năm 2020 và định hướng tới năm 2025.
trực tiếp lựa chọn ở một số huyện ngoại thành.
Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu của đề tài là các số liệu sơ cấp và
thứ cấp liên quan đến thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của hộ nông dân thành
phố Hà Nội giai đoạn 2009-2014, đề xuất hoàn thiện đến năm 2020
4. Những đóng góp chủ yếu của luận án
Về mặt lý luận: Luận án đã góp phần hệ thống hóa và xây dựng những vấn
đề lý luận cơ bản về nhân tố tác động tới sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân
trên cơ sở nghiên cứu những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài.
Về thực tiễn, luận án nghiên cứu tình hình tham gia BHYT của nông dân
trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, luận án đã chỉ ra sự bất cập của 5 nhân
tố tác động đến sự tham gia BHYT của nông dân đó là i) Các chính sách hỗ trợ
của Nhà nước về việc tham gia BHYT nông dân được ban hành và bổ sung
nhưng gvẫn còn thấp so với yêu cầu và việc thực hiện chưa thực sự hiệu quả; ii)
Chất lượng hoạt động khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ BHYT chưa cao, sự hài
lòng của nông dân tham gia BHYT còn rất thấp; iii) Công tác tổ chức quản lý và
năng lực đội ngũ cán bộ và sự phối hợp trong quản lý BHYT trên địa bàn thành
phố chưa theo kíp yêu cầu; iv) Thu nhập của nông dân còn thấp; và v) Nhận
thức, hiểu biết hết về chính sách BHYT còn thấp.
Để đến năm 2020 trên địa bàn Thành phố có 37,59% và đến năm 2025 có
64,59% nông dân tham gia BHYT luận án đề xuất với thành phố Hà Nội i) Nâng
mức hỗ trợ tham gia BHYT cho đối tượng cận nghèo và trung bình; cải cách
chính sách BHYT theo hướng công bằng và thống nhất; tăng cường huy động
các nguồn lực tài chính để hỗ trợ cho nông dân khó khăn trong tham gia BHYT;
ii) Tăng cường chất lượng khám chữa bệnh của các cơ sở KCB, trước hết là xóa
bỏ sự phân biệt giữa người có thẻ BHYT và người bệnh không dùng thẻ BHYT
khi KCB; chuyển hình thức cấp ngân sách Nhà nước từ cấp cho cơ sở cung ứng
3
tham gia BHYT là bắt buộc với mọi người dân và quy định, khuyến khích tham
gia BHYT theo hộ gia đình sẽ có tác động như thế nào đến sự tham gia BHYT
nông dân?
Đây chính là khoảng trống mà tác sẽ thực hiện trong quá trình làm nghiên
cứu. Từ đó những câu hỏi nghiên cứu đặt ra cần giải quyết là:
Thứ nhất, bảo hiểm y tế đối với nông dân có những đặc điểm gì và có
những nhân tố nào tác động đến sự tham gia BHYT đối với đối tượng nông dân?
Thứ hai, thực trạng tác động của các nhân tố đến sự tham gia vào BHYT nông
dân hiện nay như thế nào? Những nhân tố nào có tác động tích cực? những nhân tố
nào có tính hạn chế đến sự tham gia của nông dân vào hệ thống BHYT?
Thứ ba, làm thế nào để nâng cao mức độ tác động của các nhân tố nhằm
đẩy mạnh sự tham gia của nông dân vào BHYT những năm tới?
1.2. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Khung phân tích của luận án
Trên cơ sở trình bày quy trình nghiên cứu, luận án đã xây dựng khung
nghiên cứu cụ thể như sau:
Nhân tố tác động
Kinh nghiệm hoàn thiện cá
1. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước
2. Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT
3.Tổ chức hoạt động của BHYT; Năng lực đội ngũ cán bộ;
Phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành
4.Thu nhập của nông dân
5. Nhận thức của nông dân
Tiêu chí đánh giá
sự tham gia BHYT
nông dân
- Phạm vi bao phủ
Sở Y tế Hà Nội, từ số liệu điều tra thống kê về việc làm, thu nhập, mức sống,
5
6
nghèo đói của Cục Thống kê Hà Nội, từ các báo cáo của Sở Lao động Thương
binh và Xã hội Thành phố Hà Nội
Thứ hai, thu thập số liệu sơ cấp: thông qua khảo sát và phỏng vấn 330 phiếu của
hai đối tượng là hộ nông dân và cán bộ quản lý.
1.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Đề tài dựa vào bộ dữ liệu được tiến hành điều tra mã hóa các câu hỏi
phỏng vấn dưới dạng định tính, định lượng thành những biến định lượng và
dùng phần mềm Excel để thực hiện các nghiệp vụ thống kê mô tả để so sánh (i)
sự tham gia vào hệ thống BHYT của các nhóm đối tượng được điều tra theo các
tiêu chí về thu nhập, ngành nghề và vùng; (ii) nhận định của các nhóm đối tượng
này đối với các cơ chế chính sách của nhà nước về BHYT; (iii) nhận định của
các nhóm đối tượng được điều tra về những rào cản ảnh hưởng đến việc tham
gia vào hệ thống BHYT đang được triển khai trên địa bàn…
2.1.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm y tế đối với nông dân
Thứ nhất, đặc điểm về phạm vi đối tượng tác động và mức đóng góp. Bảo
hiểm y tế đối với nông dân thì đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là nông dân.
Nông dân cũng là tầng lớp dân cư thường có thu nhập không ổn định và tương
đối thấp. Chính vì vậy, mức đóng góp của bảo hiểm y tế đối với nông dân
thường thấp và được quy định bởi các mức đóng cụ thể.
Thứ hai, đặc điểm về rủi ro được bảo hiểm của bảo hiểm y tế đối với nông
dân. Rủi ro được bảo hiểm trong của bảo hiểm y tế đối với nông dân chính là các
rủi ro liên quan tới ốm đau, bệnh tật, phát sinh nhu cầu khám chữa bệnh của
2.2.2.2. Chất lượng của các hoạt động khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế
Chất lượng khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ BHYT là quan hệ giữa nhu
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN
2.1 Bảo hiểm y tế và tầm quan trọng của bảo hiểm y tế đối với nông dân
2.1.1 Nông dân và các nhóm đối tượng nông dân
Nông dân chính là những người lao động cư trú tại nông thôn và hoạt động
trong lĩnh vực của ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm nông, lâm,
thủy sản) với tư liệu sản xuất chính là đất đai, mặt nước.
Luận án phân nhóm đối tượng nông dân theo thu nhập, theo ngành nghề và
theo vùng để phân tích, so sánh sự tham gia BHYT của các nhóm đối tượng khác
nhau
2.1.2 Bảo hiểm y tế và đặc điểm của bảo hiểm y tế đối với nông dân
2.1.2.1 Bảo hiểm y tế và bản chất của bảo hiểm y tế với nông dân
Có thể hiểu bảo hiểm y tế là bộ phận của hệ thống an sinh xã hội, là sự đảm
bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người tham gia bảo hiểm
khi họ gặp phải những biến cố gây giảm sút về sức khỏe trên cơ sở hình thành
và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung thống nhất dựa trên quy định bắt buộc của
Nhà nước, không vì mục đích lợi nhuận. Bảo hiểm y tế đối với nông dân là hình
thức bảo hiểm được áp dụng với đối tượng nông dân để chăm sóc sức khỏe,
không vì mục đích lợi nhuận.
Bảo hiểm y tế đối với nông dân về bản chất vẫn giống như bảo hiểm y tế
thông thường, được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất, là bảo hiểm y tế tự
nguyện; Thứ hai, hình thức bảo hiểm được áp dụng với đối tượng nông dân để
chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận; thứ ba, chia sẻ rủi ro giữa
những người tham gia BHYT, giữa những người có thu nhập cao với những
người có thu nhập thấp, giữa những người không gặp rủi ro với những người
gặp rủi ro gây tổn thất về tài chính; thứ tư, mang tính kinh tế
Nhận thức của nông dân về ý nghĩa tầm quan trọng bao gồm: Thứ nhất người
nông dân phải có sự hiểu biết về BHYT. Thứ hai, người nông dân phải hiểu được
những chế độ và nghĩa vụ khi tham gia BHYT đối với nông dân. Trong đó, đặc
biệt cần nhấn mạnh vào sự hiểu biết về các chính sách trợ cấp của Nhà nước đối
với người dân về mức phí tham gia BHYT, phương thức tham gia BHYT, quyền
lợi khi tham gia. Mức độ hiểu biết càng nhiều, mức độ sẵn sàng tự nguyện tham
gia vào BHYT của người nông dân càng cao.
2.2.3 .Tiêu chí đánh giá sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân
Thứ nhất, phạm vi bao phủ bảo hiểm y tế của nông dân
Thứ hai, cơ cấu tham gia bảo hiểm y tế của nông dân
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng tham gia bảo hiểm y tế của nông dân
2.3. Kinh nghiệm về nâng cao sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới sự
tham gia bảo hiểm y tế của nông dân
Luận án đã trình bày kinh nghiệm của một số nước như Pháp, Nhật Bản,
Hàn Quốc và các đia phương trong nước như Thành phố Hồ Chí Minh, Thành
phố Hải Phòng, tỉnh Bắc Ninh, Phú Thọ và Thái Bình về các nhân tố tác động
đến sự tham gia BHYT của nông dân .
Trên cơ sở đó rút ra bốn bài học kinh nghiệm về nâng cao sự tác động của
các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân là: Thứ nhất,
chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ; Thứ hai, nâng cao chất lượng
khám chữa bệnh; Thứ ba, cần tăng cường hoạt động của chính quyền địa
phương và có sự phối kết hợp giữa các cấp, chính quyền địa phương trong việc
thu hút nông dân tham gia BHYT; Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền về
BHYT cho nông dân.
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO
HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình tham gia bảo
hiểm y tế của nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
9
10
Bảng 1: Tỷ lệ bao phủ BHYT của nông dân tại Hà Nội
Chỉ
tiêu
2010
2011
2012
2013
2014
2015
Số lượng nông dân
thuộc diện tham
gia BHYT Người
1.055.865
1.058.684
1.095.621
1.093.148
1.052.690
1.051.683
Số lượng nông dân đã
tham gia BHYT
Người
84.976
99.129
111.901
lý kê khai tham gia BHYT,...
3.2.1.3. Thực trạng triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ nông dân tham
gia BHYT tự nguyện của Thành phố
Từ những năm 2000 BHYT thành phố Hà Nội đã thực hiện triển khai nhân
rộng BHYT tự nguyện cho hộ nông dân trên địa bàn. Năm 2001, BHXH Thành
phố đã trình đề án triển khai chương trình bảo hiểm y tế nông dân tiếp theo tại
các huyện ngọai thành Thành phố Hà Nội. BHXH Thành phố cũng duyệt đề án
Phát triển BHYT tự nguyện trên địa bàn Hà Nội tới năm 2005, trong đó bao gồm
phát triển BHYT tự nguyện cho nông dân trên địa bàn.
BHXH Thành phố Hà Nội đã tăng cường công tác tuyên truyền cho người
nông dân hiểu về chính sách này.
BHXH TP cùng với Sở LĐ-TB&XH, Sở Tài chính tham mưu UBND TP
nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo từ 70% lên
100% mức đóng BHYT từ ngày 1/1/2014; tham mưu để UBND TP ban hành một
loạt các kế hoạch về triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT,
giao chỉ tiêu thực hiện BHYT, tăng cường thực hiện chính sách BHXH, BHYT...
Thành phố đưa chỉ tiêu tỷ lệ người dân tham gia BHYT được tính vào chỉ
tiêu kinh tế xã hội nên UBND các cấp phải vào cuộc, nâng cao hoạt động tuyên
truyền để hoàn thành mục tiêu bao phủ của BHYT, đặc biệt là đối với nhóm đối
tượng hộ nông dân.
3.2.2. Thực trạng chất lượng của các hoạt động khám chữa bệnh khi sử dụng
thẻ bảo hiểm y tế
3.2.2.1. Các biện pháp chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của
các hoạt động khám chữa bệnh khi sử dụng thẻ BHYT
i) Nhà nước ban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KCB) của Nhà nước; tập
trung và tăng cường hiệu quả sử dụng NSNN và các nguồn thu để nâng cao chất
lượng các dịch vụ KCB, có các giải pháp để sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị của các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện
có hơn 63 triệu lượt người có thẻ BHYT được đảm bảo quyền lợi khám chữa
bệnh, với tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT đã thanh toán là 21.600 tỷ đồng.
Trên thực tế, hiện nay nhóm đối tượng BHYT là nông dân thường tập trung
11
12
tại các huyện, thị xã ngoại thành Hà Nội. Do đó, người nông dân khi đi khám
bệnh bằng thẻ BHYT tại các bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn.
3.2.3. Thực trạng về năng lực tổ chức quản lý đội ngũ cán bộ về BHYT và
phối hợp thực hiện
Cùng với sự phát triển của ngành, 20 năm qua BHXH Thành phố đã không
ngừng lớn mạnh và phát triển cả về bộ máy và đội ngũ công chức, viên chức.
Để đáp ứng yêu cầu về đội ngũ cán bộ trong tình hình mới, hằng năm
BHXH Thành phố luôn quan tâm đến công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị cho CCVC.
Cùng với công tác đào tạo, việc nâng cao kỷ luật lao động, kỷ cương hành
chính, ý thức trách nhiệm phục vụ đối tượng cũng được quan tâm.
Tổ chức thu BHYT tự nguyện đối với hộ nông dân được thực hiện theo
phương thức: phí BHYT của người tự nguyện tham gia có thể nộp theo phương
thức 6 tháng hoặc 12 tháng một lần; thời điểm nộp là thời điểm bắt đầu đăng ký
tham gia BHYT theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước;
Việc thu phí tham gia BHYT của người nông dân khi họ tự nguyện tham
gia được BHXH Thành phố giao cho BHXH các huyện, thị xã, quận trực tiếp tổ
chức thu phí và phát hành thẻ BHYT cho người tham gia thông qua hệ thống
mạng lưới đại lý thu BHYT tự nguyện. Các đại lý thu BHYT tự nguyện thực
hiện thu phí của người nông dân trong tháng và nộp cho cơ BHXH huyện, thị
xã, quận.
tốc độ tăng là 3,52%. Chính điều đó làm cho tỷ trọng số nông dân đã tham gia
BHYT so với tổng số nông dân được điều tra ngày càng tăng. Nếu như năm
2012, tổng số nông dân có BHYT chỉ chiếm 52,93% thì tới năm 2013 tỷ trọng
đã tăng lên mức 54,63% và tới năm 2014 tăng lên mức 57,26%..
Biểu đồ 1: Tỷ trọng số người đã tham gia BHYT trong tổng số nông dân
qua điều tra (2012 – 2014)
3.3.2. Tác động của các nhân tố đến sự thay đổi phạm vi bao phủ bảo hiểm y
tế của các nhóm đối tượng nông dân theo thu nhập, theo tính chất ngành
nghề và theo vùng
Thứ nhất, theo thu nhập của hộ nông dân. Có thể thấy rằng người có thu
nhập càng cao thì phạm vi bao phủ (tham gia) BHYT càng cao. Năm 2014, số
người tham gia BHYT của hộ giàu là 68%, hộ khá là 62%, hộ trung bình là 57%
và hộ cận nghèo là 44%. Các hộ cận nghèo là những hộ có thu nhập thấp, số lao
động trong gia đình đã mua BHYT rất ít.
13
Bảng 2. Tác động của các nhân tố đến sự thay đổi phạm vi bao phủ bảo
hiểm y tế của các nhóm đối tượng nông dân theo thu nhập, theo tính chất
ngành nghề và theo vùng
Chỉ tiêu
2012 2013 2014
Theo thu nhập
28
28
28
Tỷ lệ người thuộc hộ giầu đã mua BHYT %
64
57
50
Thứ hai, theo tính chất ngành nghề. Hiện nay tỷ lệ số hộ hỗn hợp tham gia
BHYT cao hơn so với số hộ thuần nông
Thứ ba, theo vùng. Về cơ bản tỷ lệ tham gia BHYT của nông dân vùng đồng
bằng và vùng miền núi khá ngang nhau.
3.3.3. Tác động của các nhân tố đến sự biến đổi về tốc độ tăng trưởng của
BHYT nông dân
Năm 2012, tổng số người có thẻ BHYT năm 2012 là 461 người, chiếm
53% trong tổng số 871 người thuộc 196 hộ gia đình; năm 2013 là 478 người
chiếm 55%, tăng 17 người tương đương mức tăng 3,7% so với năm 2012; năm
2014 là 505 người chiếm 57%, tăng 27 người tương ứng mức tăng 5,6% so với
năm 2013. Như vậy có thể thấy rằng, trong giai đoạn 2012 – 2014, quy mô và
tốc độ tăng tham BHYT nông dân thuộc các hộ được khảo sát tăng nhẹ.
Bảng 3. Tình hình tăng trưởng tham gia BHYT của nông dân qua khảo sát
2013/2012 2014/2013
Chỉ tiêu
2012 2013 2014
+/%
+/%
1.Tổng số hộ
196 196 196
2.Tổng số người
871 875 882
4
0.5
7
0.8
3.Tổng số người có thẻ BHYT
461 478 505 17
2014/2013
+/%
5.Tỷ trọng người đã mua BHYT
53
55
57
2
3.7
2
5.6
%
5.1.Tỷ trọng lao động trong gia
28
30
32
2
6.8
2
5.5
đình đã mua BHYT %
5.2.Tỷ trọng số người có thẻ BHYT học
24
25
25
0
-0.9
1
3.9
sinh %
thẻ BHYT làm tăng gánh nặng cho nông dân, nhất là đối với người có thu nhập
thấp.
Thứ hai, chất lượng hoạt động khám chữa bệnh BHYT chưa cao, thời gian
chờ đợi khám chữa bệnh lâu, thủ tục làm hồ sơ khám, chữa rườm rà, việc chuyển
tuyến khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT gặp nhiều khó khăn, sự phân biệt giữa
khám chữa bệnh bằng BHYT và khám chữa bệnh không qua BHYT của các đơn
vị y tế. tinh thần và thái độ phục vụ của các cán bộ BHYT chưa cao,... làm cho sự
hài lòng của người nông dân tham gia BHYT còn rất thấp.
Thứ ba, tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ BHYT trên địa bàn thành phố
còn chưa theo kíp yêu cầu. Thủ tục hành chính mua BHYT rườm ra, từ xác
15
16
nhận hộ tịch hộ khẩu đến photocopy sổ hộ khẩu, kê khai biểu mẫu, xin xác nhận
của thôn, xã làm cho nông dân gặp khó khăn trở ngại khi tham gia BHYT.
Mạng lưới đại lý BHYT, mặc dù đã đa dạng hóa với 601 đại lý thu BHYT
(gồm UBND xã, các đoàn thể, bưu điện) và 1.203 nhân viên đại lý đã được đào
tạo, song việc hướng dẫn giải quyết vướng mắc thực hiện BHYT theo hộ gia
đình của các bộ, ngành chưa kịp thời, chưa cụ thể, dẫn đến phản ứng từ phía
người tham gia. Tại Hà Nội, hiện có 197 cơ sở có ký hợp đồng khám, chữa bệnh
BHYT song việc tổ chức chi trả BHYT vẫn còn những vướng mắc khiến không ít
trường hợp người dân có thẻ BHYT vẫn phải bỏ tiền túi ra thanh toán.
Theo luật định UBND xã, phường có trách nhiệm rõ ràng trong hệ thống
BHYT nhưng hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa có kinh phí hỗ trợ nên
việc triển khai gặp khó khăn.
Công tác tuyên truyền chưa được thực hiện tốt, phần lớn những người không
tham gia BHYT đều trả lời họ không năm rõ các chủ trương, chính sách hỗ trợ của
Chương 4
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ
THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1. Mục tiêu phát triển và phương hướng hoàn thiện các nhân tố tác động
đến sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
4.1.1. Căn cứ xác định mục tiêu phát triển và phương hướng hoàn thiện các
nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân trên địa bàn
Thành phố Hà Nội
4.1.1.1. Mục tiêu phát triển bảo hiểm y tế đến năm 2020 của đất nước
Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW xác định mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân
vào năm 2020, với chỉ tiêu đạt độ bao phủ BHYT tới 80% dân số.
BHYT chính là một trong hai trụ cột chính của chính sách an sinh xã hội
quan trọng của đất nước, đảm bảo góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, việc quản lý BHYT cũng phải đảm bảo mục tiêu “quản lý, sử
dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ bảo hiểm y tế”. Xây dựng hệ thống bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. (Ban chấp hành trung ương
2012).
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đề ra các biện pháp khác như nâng cao chất
lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo
hiểm y tế theo quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người
tham gia bảo hiểm y tế. Đồng thời, từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng
đầu tư trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham
gia bảo hiểm y tế, bảo đảm cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm y tế, phấn đấu giảm tỷ lệ
chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình xuống dưới 40% vào năm 2020.
4.1.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và bảo hiểm y tế của Hà Nội đến năm 2020
Thứ nhất, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020.
các huyện của Thành phố, nâng tiêu chí đánh giá tỷ lệ bao phủ BHYT từ 70%
lên 80% đối với các xã đạt chuẩn nông thôn mới.
4.1.2. Mục tiêu phát triển bảo hiểm y tế của nông dân trên địa bàn thành phố
Hà Nội đến năm 2020
4.1.2.1. Về tốc độ tăng trưởng tham gia BHYT tự nguyện của nông dân
Dựa vào kết quả điều tra của tác giả và báo cáo của BHXH Hà Nội năm
2015, luận án sử dụng tốc độ tăng BHYT tự nguyện của nông dân là 3,57%/năm
để làm căn cứ tốc độ tăng BHYT nông dân đến năm 2020 và 2025. Đồng thời
căn cứ vào sự hỗ trợ của chính quyền và sự tăng của nhân nhân tố tác động, luận
án xây dựng ba phương án về tỷ lệ tham gia BHYT nông dân.
Phương án thứ nhất là phương án cơ sở, lấy tốc độ tham gia chung BHYT
tự nguyện của nông dân trong suốt giai đoạn 2015-2025 tăng bình quân mỗi năm
là 3,57%, thì tỷ lệ tham gia BHYT của nông dân năm 2020 là 36,30%, và năm
2025 là 54,15%.
Phương án thứ hai là phương án trung bình, thì trong ba năm 2015-2017
tốc độ tăng là 3,57% bình quân năm; 2018-2020 tăng bình quân 4% năm; 20212022 tăng bình quân 5% năm và 2023-2025 tăng bình quân 5,5%. Theo tốc độ
đó, tỷ lệ tham gia BHYT tự nguyện của nông dân năm 2020 là 37,59%, năm
2025 là 64,09%.
Phương án thứ ba là phương án cao, thì trong những năm 2015-2017 tốc độ
tăng là 3,57% bình quân năm; năm 2018 tốc độ tăng là 4%; năm 2019-2020 mỗi
năm tăng thêm so với năm trước là 0,5% nên tốc độ tăng năm 2019 là 4,5% và
năm 2020 tốc độ tăng là 5%; ba năm tiếp theo 2021-2023 mỗi năm tăng thêm so
năm trước 1% nên tốc độ tăng của năm 2021 là 6%, năm 2022 là 7% và năm
2023 là 8%; hai năm 2024-2025 mỗi năm tăng thêm so với năm trước 1,5% nữa
nên tốc độ tăng của năm 2024 là 9,5% và năm 2025 là 11%. Theo tốc độ tăng
như thế, dự kiến đến năm 2020 sẽ có 39,09% nông dân tham gia BHYT tự
nguyện và năm 2025 có 80,59% nông dân tham gia BHYT tự nguyện trên địa
bàn Hà Nội
Xét theo thực tế hiện nay, đề tài lựa chọn phương án trung bình, bởi lẽ dưới tác
4,00
29,59
2019
32,73
33,59
4,50
34,09
2020
36,30
37,59
5,00
39,09
3,57 39,87
2021
5,0
42.59
6,00
45,09
2022
43,44
47,59
7,00
52,09
2023
47,01
5,5
53,09
8,00
60,09
2024
2025
BHYT năm 2014
Tỷ lệ nông dân tham gia theo thu nhập
Giầu và khá
46,34
69,05
95,55
Trung bình
38,41
61,12
87,62
Cận nghèo
15,25
37,96
64,46
Tỷ lệ nông dân tham gia theo ngành nghề
Hỗn hợp
64,95
87,66
100,00 *
Thuần nông
35,05
57,78
84,28
Tỷ lệ nông dân tham gia theo vùng
Đồng bằng
70,29
92,89
100,00**
Miền núi
biện pháp nhằm cải thiện thu nhập cho các hộ nông dân, đặc biệt là hộ nông dân
ở vùng núi;ii) tiếp tục chính sách hỗ trợ tham gia BHYT cho các hộ yếu thế. Đối
với nhóm các hộ nông dân ở vùng đồng bằng, cần tăng cường các biện pháp
tuyên truyền và quản lý chặt chẽ các đối tượng tham gia BHYT .
4.2. Giải pháp hoàn thiện các nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm y
tế của nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm tới
4.2.1 Hoàn thiện chính sách hỗ trợ của nhà nước
Thứ nhất, mở rộng mức hỗ trợ BHYT đối với đối tượng các đối tượng hộ
nông dân tham gia BHYT.
Mặc dù có chủ trương đối với hộ cận nghèo và mới thoát nghèo Thành phố
hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế, nhưng hiện nay mới chỉ được hỗ
trợ 70%. Do đó, đề nghị với UBND thành phố Hà Nội tiếp tục dùng nguồn kinh
phí của Thành phố để hỗ trợ nốt 30% kinh phí còn lại cho hộ cận nghèo trên địa
bàn trong những năm tiếp theo.
Đối với hộ Trung bình, hiện thành phố hỗ trợ 30% kinh phí mua thẻ BHYT.
Những năm tới thành phố nâng mức hỗ trợ đối tượng này lên 45%-50% kinh phí
mua thẻ BHYT
Đề nghị với UBND tiến hành hỗ trợ một phần kinh phí cho nhóm hộ gia
đình nông nghiệp tham gia BHYT theo hộ gia đình này. Mức hỗ trợ có thể từ
5% - 10% tùy thuộc vào cân đối ngân sách của Thành phố.
Đối với người cao tuổi, UBND Thành phố cũng có thể như: 60 tuổi trở lên
thì hỗ trợ 30% mệnh giá thẻ, 79 tuổi trở lên hỗ trợ 50%.
Thứ hai, cải cách chính sách BHYT theo hướng công bằng và thống nhất.
Tiến tới mục đích bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ y tế và BHYT toàn
dân, chính sách BHYT của Nhà nước thời gian tới cần thiết phải đảm bảo thống
nhất mức chi trả, trợ cấp BHYT cho tất cả các đối tượng như nhau. Mọi người
dân khi khám chữa bệnh đúng tuyến, không theo yêu cầu đều được thanh toán
tất cả các chi phí KCB.
Thời gian tới, quy định trong chính sách BHYT hộ gia đình cần được điều
BHXH Thành phố Hà Nội có thể kiến nghị với BHXH Việt Nam cho phép
sử dụng nguồn kinh phí kết dư quỹ khám, chữa bệnh BHYT của BHXH các
tỉnh, thành phố để thực hiện hỗ trợ theo các nhóm đối tượng tham gia BHYT.
4.2.2 .Giải pháp nâng cao chất lượng của các hoạt động khám chữa bệnh sử
dụng thẻ bảo hiểm y tế
Thứ nhất, xóa bỏ tình trạng, tâm lý có sự phân biệt giữa người có thẻ
BHYT và người bệnh không dùng thẻ BHYT khi khám bệnh.
Thứ hai, chuyển hình thức cấp ngân sách của Nhà nước từ cấp cho cơ sở
cung ứng dịch vụ sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế thông
qua hình thức BHYT
Thứ ba, khắc phục tình trạng phân biệt cơ sở khám chữa bệnh tư trong thực
hiện chính sách BHYT
Thứ tư, các biện pháp khác nhằm tăng cường chất lượng khám chữa bệnh
của các cơ sở KCB
Thứ năm, đẩy mạnh việc triển khai thí điểm thực hiện chương trình Chất
lượng và sự hài lòng của người bệnh tại một số bệnh viện lớn ở Hà Nội như
Bạch Mai, Việt Đức, K, Nhi TƯ, Mắt TƯ, Phụ sản TƯ, Hữu Nghị (Hà Nội). Cơ
quan BHXH cần tiếp tục hỗ trợ các bệnh viện này cần nhanh chóng xây dựng kế
hoạch, triển khai hẹn khám bệnh theo giờ qua điện thoại, qua mạng đối với
người bệnh không phải đối tượng cấp cứu để chủ động phân bổ thời gian khám
hợp lý, giúp người bệnh giảm thời gian chờ đợi và để đơn vị chủ động việc tăng
cường cho khoa khám bệnh.
Thứ sáu, Sở Y tế Thành phố cùng với các cơ sở KCB cần xây dựng kiện
toàn đội ngũ công chức, viên chức toàn hệ thống, tổ chức đào tạo bồi dưỡng
nâng cao trình độ cho công chức, viên chức vững vàng về bản lĩnh chính trị,
giỏi về chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng tích cực phấn đấu
hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Thứ bảy, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa chi phí và chất lượng. Điều
này có nghĩa là muốn nâng cao chất lượng khám chữa bệnh thì bắt buộc phải đi
Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ BHYT
Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa BHYT với các đơn vị để thanh tra kiểm tra
Thứ năm, thực hiện áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý
4.2.4. Nâng cao điều kiện kinh tế cho người dân
Thứ nhất, nâng cao trình độ lao động cho nông dân nhằm đáp ứng được
nhu cầu lao động. Thứ hai, thúc đẩy phát triển đa dạng các ngành nghề để tăng
cầu lao động trên các địa bàn quận huyện trên toàn thành phố theo hướng CNHHĐH. Thứ ba, phát triển đa dạng hóa các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh,
nhằm giải quyết việc làm cho nông dân. Thứ tư, tăng cường tạo công ăn việc làm
cho nông dân.
4.2.5. Nâng cao nhận thức của người dân về việc tham gia BHYT
23
24
Tiếp tục đổi mới về nội dung, công tác tổ chức và hình thức tuyên truyền,
chú ý đặc điểm đối tượng; cần tăng cường phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa
BHXH với ban tuyên giáo và các đoàn thể trong công tác tuyên truyền BHYT.
Đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về
BHYT; phát hiện kịp thời và xử lý các hành vi vi phạm, giảm thiểu tình trạng
trốn đóng, nợ BHYT và các hành vi tiêu cực, gian lận để hưởng chế độ, trục lợi
BHYT.
KẾT LUẬN
Phát triển BHYT nông dân đang là vấn đề rất quan trọng nhưng cũng rất
khó khăn để tiến tới BHYT toàn dân trên địa bàn cả nước ta nói chung, thành
phố Hà Nội nói riêng. Những năm qua, mặc dù thành phố đã có nhiều chủ
trương biện pháp nhằm triển khai thực hiện BHYT nông dân nhưng tỷ lệ tham
gia BHYT của đối tượng này vẫn còn rất thấp. Vì thế việc nghiên cứu những
nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà
còn thấp. Những nhân tố này đã được kiểm định thông qua bài toán đánh giá
những rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT. Kết quả cho thấy, có 85,8%
trong số 152 người đã tham gia vào hệ thống bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2014
cho rằng những hạn chế về việc chưa biết thủ tục, thu nhập thấp và chế độ hưởng
chưa thiết thực là những rào cản đối với sự tham gia của họ vào hệ thống này. Nói
cách khác, về chính sách thụ hưởng, tổ chức quản lý và thu nhập là những rào cản
chủ yếu về sự tham gia của nông dân vào BHYT hiện nay.
Xuất phát từ đó, luận án cho rằng, để thực hiện tiến trình tiến tới BHYT
toàn dân trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận án đã xây dựng và lựa chọn
phương án về tỷ lệ tham gia BHYT từ năm 2017 đến năm 2025, đưa tỷ lệ nông
dân tham gia BHYT đạt 37,59% vào năm 2020 và 64,09% vào năm 2025
Muốn vậy, luận án đã đề xuất phương hướng hoàn thiện các nhân tố cụ
thể cho từng đối tượng nông dân và 5 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện.
Các nhóm giải pháp cụ thể là: i) Mở rộng mức hỗ trợ BHYT đối với đối tượng
các đối tượng nông dân tham gia BHYT cụ thể là hỗ trợ 100% kinh phí mua
thẻ bào hiểm y tế cho hộ cận nghèo, nâng mức hỗ trợ kinh phí cho hộ trung
bình cũng như BHYT học sinh từ 30% hiện nay lên 45%-50%. Hỗ trợ có thể từ
5% - 10% cho các hộ khác tham gia NHYT theo hộ gia đình; cải cách chính
sách BHYT theo hướng công bằng và thống nhất; tăng cường huy động các
nguồn lực tài chính để hỗ trợ cho nông dân khó khăn trong tham gia BHYT; ii)
Nâng cao chất lượng của các hoạt động khám chữa bệnh sử dụng thẻ bảo hiểm
y tế thông qua xóa bỏ tâm lý có sự phân biệt giữa người có thẻ BHYT và người
bệnh không dùng thẻ BHYT khi khám bệnh; chuyển hình thức cấp ngân sách
của Nhà nước từ cấp cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang cấp trực tiếp cho đối
tượng thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức BHYT; khắc phục tình trạng
phân biệt cơ sở khám chữa bệnh tư trong thực hiện chính sách BHYT; iii) Tăng
cường về năng lực tổ chức quản lý và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ về
BHYT; iv) Nâng cao điều kiện kinh tế cho nông dân và v) Tăng cường công
tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của nông dân về ích lợi
khi tham gia bảo hiểm y tế.