Hiệu quả hoạt động của các công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn tại tỉnh bình thuận - Pdf 47

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, Luận văn này với đề tài “Hiệu quả hoạt động của
các công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn tại tỉnh Bình Thuận” là
nghiên cứu của chính bản thân tôi.
Ngoại trừ, những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong Luận văn, tôi
cam đoan toàn bộ hay một bộ phận của Luận văn này chưa từng được công bố
hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm hoặc nghiên cứu nào của người khác được sử dụng
trong Luận văn này mà không được trích dẫn đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc các cơ sở đào tạo khác./.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 9 năm 2016
Học viên thực hiện Luận văn

Lý Hữu Phước


ii

LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí
Minh, với sự giảng dạy, hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm của quý thầy, cô; tôi đã
hoàn thành Luận văn tốt nghiệp với Đề tài: “Hiệu quả hoạt động của các công trình
cấp nước sạch tập trung nông thôn tại tỉnh Bình Thuận”.
Tôi xin trân trọng cám ơn quý thầy, cô Trường Đại học Mở đã nhiệt tình truyền đạt
nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, tôi
xin cám ơn chân thành và quý trọng đối với PGS.TS. Trần Tiến Khai đã hết lòng hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn này.

sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Quốc gia). Dữ liệu nghiên cứu tại
tỉnh Bình Thuận sử dụng từ kết quả Bộ chỉ số tỉnh Bình Thuận năm 2014 và dữ liệu
sơ cấp tình hình hoạt động thực tế của toàn bộ 58 CTCN trên địa bàn toàn tỉnh.
Đề tài đã phân tích và xác định các nguyên nhân chủ yếu tác động đến hiệu
quả hoạt động của các CTCN trên địa bàn các địa phương trong cả nước và tại tỉnh
Bình Thuận.
Đề tài xây dựng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp OLS với biến phụ
thuộc là hiệu quả hoạt động của CTCN và 09 biến độc lập. Kết quả cho thấy có 06
biến độc lập tác động, có ý nghĩa thống kê, có quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
gồm: quy mô công trình, địa bàn đầu tư, đơn vị vận hành công trình, giá nước, năng
lực của nhân viên, thu nhập của nhân viên. Có 03 biến độc lập không có ý nghĩa
thống kê là: số năm hoạt động, nguồn nước thô và công nghệ xử lý nước, và đơn vị
quản lý đầu tư xây dựng công trình.
Kết quả nghiên cứu về các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của các CTCN của các tỉnh, thành phố trong cả nước kết hợp với kết quả phân
tích định lượng tại tỉnh Bình Thuận có tính hỗ trợ lẫn nhau nhằm làm rõ các yếu tố
chủ yếu tác động tới hiệu quả hoạt động của các CTCN. Từ kết quả này, Đề tài đã
đề xuất, khuyến nghị các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các CTCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và các tỉnh, thành phố khác./.


iv

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn


1.2. Vấn đề nghiên cứu

2

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

4

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

4

1.5. Tính mới của Đề tài và phương pháp nghiên cứu

5

1.6. Phạm vi nghiên cứu

5

1.7. Ý nghĩa nghiên cứu của Đề tài

5

1.8. Kết cấu của luận văn

6

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

13


iv

2.2.3.3. Hiệu quả của dự án đầu tư

15

2.2.3.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả của công trình cấp nước

16

2.2.3.5. Xét chọn, áp dụng phương pháp đánh giá hiệu quả CTCN

22

2.3. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước

23

2.4. Bài học kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước

26

2.5. Giả thuyết nghiên cứu

28

2.5.1. Quy mô công trình


2.5.9. Thu nhập của nhân viên vận hành

36

Tóm tắt Chương 2

39

Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN
CỨU

40

3.1. Phương pháp nghiên cứu

40

3.2. Phạm vi nghiên cứu và thời gian của dữ liệu khảo sát

40

3.3. Mô hình nghiên cứu

40

3.4. Giải thích biến

42



3.10. Cách xử lý dữ liệu

47

Tóm tắt Chương 3

47

Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

49

4.1. Tổng quan tình hình cung cấp nước sạch nông thôn tỉnh Bình
Thuận

49

4.2. Thống kê mô tả các biến trong mô hình

54

4.3. Kiểm định sự tương quan và hiện tượng đa cộng tuyến

63

4.3.1. Kiểm định sự tương quan

63


72

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

73

5.1. Kết luận

72

5.2. Khuyến nghị các giải pháp, chính sách

74

5.3. Hạn chế của Đề tài

78

5.4. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

78

Tài liệu tham khảo

80

PHẦN PHỤ LỤC

85



xi

MH.CĐ: các công trình cấp nước tập trung nông thôn do cộng đồng dân cư
địa phương quản lý, vận hành;
MH.DN: các công trình cấp nước tập trung nông thôn do các doanh nghiệp
quản lý, vận hành;
MH.HTX: các công trình cấp nước tập trung nông thôn do các hợp tác xã
quản lý, vận hành;
MH.TN: các công trình cấp nước tập trung nông thôn do các hộ tư nhân
quản lý, vận hành;
MH.TTN: các công trình cấp nước tập trung nông thôn do Trung tâm Nước
sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh quản lý, vận hành;
MH.UB: các công trình cấp nước tập trung nông thôn do UBND xã quản lý,
vận hành;
MNPB: các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, gồm các tỉnh khu vực
Đông Bắc và Tây Bắc;
NCERWASS: Trung tâm quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông
thôn, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
NGOs: Các tổ chức phi Chính phủ;
NSNN: Ngân sách Nhà nước;
NTB: các tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ;
NTP (National Target Program): Chương trình mục tiêu quốc gia Nước
sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn;
NTP 1, 2, 3: Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 1 (1998 -2005), giai
đạon 2 (2006 -2011), giai đoạn 3 (2012 – 2015);
Nghị định 117 CP: Nghị định số 117/2007/NĐ-CP, ngày 11 tháng 7 năm
2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch;
p.CERWASS: Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
tỉnh/thành phố;

Phát triển nông thôn (Bộ NN và PTNT) đến cuối năm 2014, cả nước có tổng cộng
16.054 công trình cấp nước tập trung nông thôn (CTCN) với tổng kinh phí đầu tư
ước tính gần 22.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, trong số này có đến 18,4 % số công trình
hoạt động kém hiệu quả và 14,3 % công trình bị hư hỏng, ngưng hoạt động. Trong
đó, hầu hết các tỉnh thuộc khu vực Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỉ lệ CTCN
hoạt động kém hiệu quả và không hoạt động chiếm tỉ lệ rất cao. Cao nhất là tỉnh
Đắc Nông, có 49,5 % số CTCN không hoạt động và 14,4 % số CTCN hoạt động
kém hiệu quả. Thậm chí, ngay tại thủ đô Hà Nội cũng có đến 29,2 % CTCN không
hoạt động và 12,5 % hoạt động kém hiệu quả.
Trong khi đó, theo đánh giá của Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh
môi trường nông thôn (Trung tâm Quốc gia) trực thuộc Bộ NN và PTNT, với điều
kiện tự nhiên, dân số và mức hỗ trợ tương đương nhưng các tỉnh khu vực Đông
Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và cực Nam Trung Bộ, trong đó có tỉnh Bình
Thuận lại thực hiện phương thức đầu tư và quản lý vận hành, khai thác các CTCN
đạt kết quả khá tốt. Theo số liệu điều tra Bộ chỉ số theo dõi – đánh giá nước sạch và
vệ sinh môi trường (Bộ chỉ số) năm 2014, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có 58


Trang 2

CTCNTTNT cung cấp nước sạch cho khoảng 41,18 % dân số nông thôn toàn tỉnh.
Trong đó, có khoảng gần 30% CTCN trên địa bàn miền núi, vùng cao, hải đảo. Tuy
nhiên, số công trình hoạt động hiệu quả chiếm tỉ lệ 63,8 %, hoạt động bình thường
chiếm tỉ lệ 25,9 %, số công trình hoạt động kém hiệu quả chiếm tỉ lệ 10,3 %. Là
tỉnh cực Nam Trung Bộ, khí hậu khô hạn, thu nhập, đời sống của nhân dân trong
tỉnh còn thấp, nguồn thu ngân sách khó khăn; nhưng toàn bộ các CTCN, bao gồm
cả các công trình phục vụ cho các xã khu vực miền núi, vùng cao, khu vực đồng bào
dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) đều được duy trì hoạt động theo hướng bền vững và
không có công trình cấp nước bị hư hỏng phải ngưng hoạt động.
Do vậy, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các

việc đầu tư và quản lý các CTCN tuy đã mang lại nhiều kết quả đáng được ghi nhận
nhưng vấn đề về phương thức đầu tư và hiệu quả hoạt động công trình sau đầu tư
vẫn còn là bài toán khó đối với Bộ NN và PTNT (cơ quan được Chính phủ giao
nhiệm vụ trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình) và cả đối với các cấp
chính quyền các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Chủ đề này đã được đưa ra bàn thảo trong nhiều hội nghị, hội thảo trong gần
20 năm qua, nhưng đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nhằm tổng kết và
rút ra những bài học thực tế nên chưa xây dựng được các thể chế, chính sách và
phương thức tổ chức thực hiện phù hợp. Kết quả của các nghiên cứu thời gian qua
chỉ mới dừng lại ở mức đưa ra một số khuyết điểm, tồn tại và khuyến nghị đối với
các địa phương về công tác quản lý đầu tư xây dựng và quản lý khai thác công trình
nhưng chưa phân tích, làm rõ nguyên nhân cơ bản, sâu xa của những hạn chế, yếu
kém. Cho đến nay, công tác đầu tư và quản lý khai thác các CTCN sau đầu tư hầu
như chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương nên mỗi địa phương có quan
điểm, cách tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện khác nhau. Hậu quả là đến
cuối năm 2014, có đến 2.301 công trình, chiếm tỉ lệ 14,3 % trong tổng số CTCN
được đầu tư đã ngưng hoạt động và 2.956 công trình chiếm tỉ lệ 18,4 % đang hoạt
động kém hiệu quả (trong số đó, nhiều công trình có nguy cơ dẫn đến tình trạng bị
ngưng hoạt động hoàn toàn, vấn đề chỉ còn là thời gian). Các phương tiện truyền
thông đại chúng thỉnh thoảng đưa tin về những “nhà máy nước nông thôn” đầu tư
kém hiệu quả hoặc bị “đắp chiếu” (ngưng hoạt động) gây lãng phí nguồn lực quốc
gia và gây bức xúc trong cộng đồng dân cư địa phương hưởng lợi từ công trình. Có
nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, tuy nhiên nguồn gốc của vấn đề là do
chưa xác định rõ tính chất, đặc điểm về kinh tế, kỹ thuật và xã hội của loại hình
CTCN, là một trong số các công trình hạ tầng kỹ thuật chuyên ngành có tính lợi thế
kinh tế theo quy mô, sản xuất và cung cấp loại hàng hóa công đặc thù ảnh hưởng


Trang 4


Trang 5

1.5. Tính mới của Đề tài và phương pháp nghiên cứu:
Khác với các nghiên cứu trước, chỉ tập trung vào việc phân tích các nguyên
nhân gây nên tình trạng CTCN hoạt động kém hiệu quả và ngừng hoạt động dựa
trên các số liệu thống kê, sử dụng phương pháp định tính và chỉ tiếp cận ở một số
khía cạnh, chưa có tính chất toàn diện. Đến nay, tác giả chưa tiếp cận được các
nghiên cứu mang tính định lượng về chủ đề hiệu quả hoạt động của các CTCN trên
địa bàn các tỉnh, thành phố và chưa có nghiên cứu nào liên quan đến chủ đề này đối
với tỉnh Bình Thuận.
Đề tài nghiên cứu “Hiệu quả hoạt động của các công trình cấp nước tập trung
nông thôn tại tỉnh Bình Thuận” sử dụng phương pháp phân tích định lượng theo mô
hình hồi quy đa biến OLS bằng Chương trình SPSS 18.0 trên cơ sở nguồn dữ liệu
thứ cấp từ Bộ chỉ số tỉnh Bình Thuận năm 2014 và dữ liệu sơ cấp được điều tra từ
tình hình hoạt động của tất cả 58 CTCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận để trả lời cho
câu hỏi nghiên cứu về các yếu tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các
CTCN tỉnh Bình Thuận. Từ kết quả này, Đề tài sẽ đề xuất, khuyến nghị các giải
pháp cụ thể đối với các cơ quan thẩm quyền của tỉnh Bình Thuận nhằm cải thiện và
nâng cao hiệu quả hoạt động của các CTCN.
1.6. Phạm vi nghiên cứu:
Toàn bộ CTCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Luận văn này được thực hiện
trên cơ sở giả định rằng: chất lượng các thông tin, dữ liệu thu thập được từ các cơ
quan ở Trung ương, các đơn vị, cơ sở cấp nước thuộc tỉnh Bình Thuận là đạt yêu
cầu, đáng tin cậy; các chuyên gia tham gia góp ý cho các nội dung của Đề tài là
trung thực, khách quan, chính xác.
1.7. Ý nghĩa nghiên cứu của Đề tài:
Đề tài này nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các
CTCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nhằm đề xuất, khuyến nghị các giải pháp,
chính sách góp phần khắc phục, hạn chế tình trạng CTCN bị ngưng hoạt động và
hoạt động kém hiệu quả; đồng thời, cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của

quả hoạt động của các CTCN trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Nêu các hạn chế của Đề
tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.


Trang 7

Chương 2
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Các khái niệm:
Theo Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản
xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch; các thuật ngữ liên quan đến chuyên ngành cấp
nước được định nghĩa như sau:
Hoạt động cấp nước: các hoạt động có liên quan trong lĩnh vực sản xuất,
cung cấp và tiêu thụ nước sạch; bao gồm: quy hoạch, tư vấn thiết kế, đầu tư xây
dựng, quản lý vận hành, bán buôn nước sạch, bán lẻ nước sạch và sử dụng nước;
Dịch vụ cấp nước: các hoạt động có liên quan của tổ chức, cá nhân trong lĩnh
vực bán buôn nước sạch, bán lẻ nước sạch;
Đơn vị cấp nước: tổ chức, cá nhân thực hiện một phần hoặc tất cả các hoạt
động khai thác, sản xuất, truyền dẫn, bán buôn nước sạch và bán lẻ nước sạch;
Khách hàng sử dụng nước: tổ chức, cá nhân và hộ gia đình mua, sử dụng
nước sạch của đơn vị cấp nước;
Mạng lưới cấp nước: hệ thống đường ống truyền dẫn nước sạch từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu thụ;
Công trình phụ trợ: các công trình hỗ trợ cho việc quản lý, vận hành, bảo
dưỡng, sửa chữa đối với hệ thống cấp nước như sân, đường, nhà xưởng, tường rào,
trạm biến áp, các loại hố van, hộp đồng hồ, họng cứu hỏa, v.v;
Thủy kế/đấu nối: tuyến ống nhánh từ ống phân phối và đồng hồ đo lưu lượng
nước lắp đặt tại nơi sử dụng nước của khách hàng để làm cơ sở thanh toán tiền
nước;
Công trình cấp nước tập trung nông thôn (CTCN): một hệ thống bao gồm

trình cấp nước tập trung có công suất từ 1.000 m3/ngày trở lên;
QCVN 02:2009/BYT là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh
hoạt được Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17 tháng
6 năm 2009, gồm có 14 chỉ tiêu về hóa lý, vi sinh áp dụng cho các công trình cấp
nước tập trung có công suất dưới 1.000 m3/ngày;


Trang 9

Nguồn nước sạch được cung cấp từ các CTCN (nhà máy nước) hoặc các công
trình cấp nước phân tán (giếng khoan, giếng đào, bể chứa nước mưa,..). Tuy nhiên,
ở Việt Nam do đặc điểm tự nhiên, nhận thức, thói quen và hành vi vệ sinh nên
nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước phân tán chiếm tỉ lệ rất thấp. Do vậy,
hầu hết nguồn nước sạch đều được cung cấp từ các nhà máy nước nên còn được gọi
là “nước máy”
2.2.2. Đặc điểm của công trình nước sạch và dịch vụ cung cấp nước sạch:
Theo Nguyễn Thuấn (2004, 2014), hàng hóa công là loại hàng hóa có thể sử
dụng chung với nhau và việc sử dụng của người này sẽ không làm ảnh hưởng hoặc
ảnh hưởng không đáng kể đến việc sử dụng của người khác. Có hai loại hàng hóa
công là hàng hóa công thuần túy và hàng hóa công không thuần túy. Hàng hóa công
thuần túy có đặc điểm là không định suất để loại trừ được hoặc việc định suất là
không cần thiết và rất tốn kém. Hàng hóa công thuần túy thường do khu vực công,
chính phủ thực hiện việc cung cấp. Trong khi đó, hàng hóa công không thuần túy là
loại hàng hóa có thể định suất được, có thể loại trừ; tuy việc định suất này có trường
hợp đòi hỏi chi phí tốn kém. Chính phủ hoặc tư nhân đều có thể cung cấp hàng hóa
công không thuần túy. Loại hàng hóa do tư nhân cung cấp nhưng phải chịu sự chi
phối đặc biệt của Nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, quy định tiêu
chuẩn riêng biệt như: tư nhân đầu tư trường học, bệnh viện, công trình nước sạch,
v.v để kinh doanh nhưng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của nhà nước thuộc
loại hàng hóa công không thuần túy. Nhà nước cần có chính sách để khuyến khích

vận hành sản xuất, cung cấp nước đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ cho
người sử dụng. Mặt khác, thời gian tồn tại công trình khá dài, thông thường từ 20 –
30 năm hoặc nhiều hơn, nên nếu sai lầm trong việc chọn phương án đầu tư, bố trí
địa điểm, lựa chọn nguồn nước, áp dụng công nghệ, công tác quản lý sau đầu tư
không phù hợp sẽ trả giá rất đắt. Do vậy, khi đầu tư xây dựng, bên cạnh việc phải
tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ về khoa học, công nghệ, cần phải căn cứ vào quy
hoạch phát triển vùng, khu vực và dự báo được những biến động trong tương lai.
Với nguồn vốn đầu tư khá lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài nhiều năm, giá
nước do nhà nước quy định, tỉ suất lợi nhuận thấp; nhất là đối với khu vực nông
thôn có mật độ dân cư không tập trung, suất đầu tư cao, thu nhập thấp, nhận thức về
lợi ích của việc sử dụng nước sạch và khả năng chi trả tiền nước không cao; hiệu


Trang 11

quả đầu tư về tài chính thấp. Đồng thời, công tác đầu tư xây dựng và quản lý vận
hành công trình cấp nước sau đầu tư ở Việt Nam hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc do các quy định của pháp luật liên quan đến công tác thu hồi,
quản lý, sử dụng đất đai đối với khu vực bảo vệ vệ sinh nguồn nước thô, mạng
tuyến ống cấp nước và các hạng mục phụ trợ khác chưa rõ ràng, cụ thể. Đây là các
trở ngại chủ yếu khiến cho việc thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế vào
lĩnh vực cấp nước nông thôn chưa nhiều. Do vậy, trong các năm trước đây, hầu hết
các CTCN chủ yếu được đầu tư từ nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế
(UNICEF, WB, ADB, NGOs), tài trợ song phương của nước ngoài và một phần vốn
ngân sách. Tuy nhiên, trong các năm gần đây, nhiều CTCN khu vực nông thôn ở
các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và
trực tiếp quản lý để kinh doanh góp phần nâng cao tỉ lệ dân số nông thôn được sử
dụng nước sạch, tạo điều kiện hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc
gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt.

thị trường, kỹ thuật, môi trường, quản trị, tài chính và lợi ích kinh tế - xã hội. Đồng
thời, nó phải dựa trên cơ sở những số liệu điều tra cơ bản, các bản đồ và các bản vẽ
kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến việc đầu tư.
DAĐT phải đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học, tính khả thi hiệu quả trong
thực tiễn, tính pháp lý và tính đồng nhất. Tùy theo tính chất, mức độ quan trọng của
dự án, đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh và quy mô dự án, hiện nay ở Việt
Nam thường chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại dự án như sau: (i) Căn cứ
vào tầm quan trọng và quy mô xây dựng công trình: Dự án quan trọng quốc gia, dự
án nhóm A, nhóm B, nhóm C; (ii) Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư: dự án đầu tư về nông
nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải,v.v; (iii) Căn cứ vào
tính chất của ngành được đầu tư: dự án đầu tư ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng
cây, con, v.v và (iv) Căn cứ vào phương thức đầu tư: dự án đầu tư mới, dự án đầu tư
nâng cấp công suất sản xuất, mở rộng phạm vi hoạt động, hiện đại hóa công
nghệ,v.v;


Trang 13

Theo Nguyễn Thanh Nguyên (2014), dự án đầu tư có đặc điểm là độc nhất,
gắn với phạm vi, quy mô, tiến độ, chất lượng, nguồn lực thực hiện. Đồng thời mỗi
dự án có vòng đời và rủi ro riêng có. “Đây là một quá trình phức hợp nhằm thực
hiện các nhiệm vụ có liên quan với nhau với mục tiêu được xác định trước, phải
hoàn thành trong một khung thời gian, tài chính giới hạn và định trước”. Để lập và
thẩm định DAĐT nhằm đi đến quyết định đầu tư dự án, tùy theo tính chất của dự án
(lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận), người ta thường tiến hành phân tích thị trường, phân
tích kỹ thuật, phân tích nguồn lực, phân tích tài chính, phân tích rủi ro, phân tích
kinh tế, phân tích xã hội.
2.2.3.2. Tổng quan về dự án đầu tư có liên quan đến hoạt động xây dựng:
Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, dự án đầu tư xây dựng công trình
(DAĐTXDCT) là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng

lĩnh vực KT - XH, nhằm thu được lợi ích dưới nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư
xây dựng công trình có các đặc điểm sau: (i) Hoạt động đầu tư xây dựng đòi hỏi
một khối lượng lớn về vốn, lao động, vật tư. Nguồn vốn này nằm khê đọng trong
suốt quá trình đầu tư. Vì vậy, trong quá trình đầu tư cần phải có kế hoạch huy động
và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý; đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao
động, vật tư thiết bị phù hợp để đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian
ngắn, tránh lãng phí nguồn lực; (ii) Thời gian tiến hành một dự án đầu tư, cho đến
khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi thời gian dài với nhiều biến
động xảy ra. Cho nên phải có kế hoạch quản lý tốt các nguồn lực đầu tư và đưa ra
được những giải pháp cần thiết khắc phục được những bất trắc, rủi ro có thể xảy ra;
(iii) Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng có giá trị sử dụng lâu dài, có khi
hàng trăm, hàng nghìn năm thậm chí tồn tại rất lâu dài như các công trình nổi tiếng
thế giới (Kim tự tháp ở Ai cập, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, v.v); (iv) Các
thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng là các công trình sẽ hoạt động ở ngay nơi
mà nó được tạo dựng, cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình, dân cư, văn hóa, xã
hội,.. có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy tác
dụng của kết quả đầu tư. Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng, đảm bảo
các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phù hợp với kế hoạch, quy hoạch, bố trí tại nơi
có điều kiện thuận lợi để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời
phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ; (v) Hoạt động đầu tư


Trang 15

xây dựng rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không
những chỉ trong phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì
vậy khi tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các
ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, phải quy định rõ phạm vi, trách
nhiệm của các chủ thể tham gia quá trình đầu tư.
2.2.3.3. Hiệu quả của dự án đầu tư

2.2.3.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của công trình cấp nước
a) Theo các tác giả nước ngoài:
* Sara và Katz (1997), đưa ra cách tính hiệu quả và độ bền vững của CTCN.
Đó là một hàm số của một loạt các yếu tố: (i) các yếu tố có thể kiểm soát được như:
chi phí xây dựng, chất lượng xây dựng, công nghệ xử lý nước, đào tạo tập huấn cho
người vận hành; (ii) những yếu tố không kiểm soát được như: tỉ lệ nghèo của địa
phương, khả năng tiếp cận của đơn vị chủ đầu tư và quản lý, vận hành công trình
đối với các hỗ trợ kỹ thuật và phụ tùng thay thế, v.v.
* Phương pháp Quản lý tiện ích hiệu quả (Effective Utility Management –
EUM)
Năm 2007, 06 Hiệp hội nước và nước thải chính và Cơ quan Bảo vệ Môi
trường Hoa Kỳ (EPA) đã ký một thỏa thuận để hỗ trợ công tác quản lý tiện ích hiệu
quả của tổ chức, cá nhân trong ngành nước và xây dựng một chiến lược chung để
xác định, khuyến khích và công nhận các kết quả trong quản lý cấp nước và nước
thải. Phương pháp Quản lý tiện ích hiệu quả có thể giúp các đơn vị cấp nước và
nước thải tăng cường sự quản lý của cơ sở hạ tầng, cải thiện hiệu năng trong nhiều
lĩnh vực quan trọng và đối phó với những thách thức hiện tại và tương lai.
Bộ tiêu chí của EUM đối với công trình cấp nước gồm có 10 thuộc tính, gồm:
i. “Chất lượng sản phẩm”; ii. “Hài lòng khách hàng”; iii. “Nhân viên và phát
triển lãnh đạo”; iv. “Tối ưu hóa hoạt động”; v. “Khả năng tồn tại tài chính”; vi. “Ổn
định cơ sở hạ tầng”; vii. “Khả năng phục hồi hoạt động”; viii. “Phát triển bền vững
cộng đồng”; ix. “Mức độ đầy đủ tài nguyên nước”; x. “Các bên liên quan hiểu biết
và hỗ trợ”



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status