Đánh giá kết quả ứng dụng kỹ thuật vy phẫu mạch máu trong phẫu thuật nối ngón tay đứt rời - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vết thương bàn tay là một thương tổn thường gặp, với di chứng để lại theo
nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng. Trước tình hình công nghiệp hóa hiện đại hóa nền
kinh tế nước ta, xu hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tai nạn lao
động có liên quan đến vết thương bàn tay khó tránh khỏi và ngày càng gia tăng nhất
là khi ý thức bảo hộ lao động còn kém. Trong các thương tổn bàn tay thì vết thương
đứt rời ngón tay cũng thường gặp, gia tăng trong những năm gần đây và việc các
thương tổn này được phục hồi bằng kỹ thuật vi phẫu đã giúp giảm thiểu được nhiều
di chứng nặng nề cho bệnh nhân, trả họ lại với cuộc sống và lao động.
Với phát minh kính hiển vi phẫu thuật cùng chỉ khâu vi phẫu, việc ứng dụng
kỹ thuật vi phẫu trong nối chi nói chung và nối ngón tay nói riêng trên thế giới đã
được áp dụng và mở rộng sau báo cáo lần đầu tiên của Tamai (nối thành công ngón
tay cái đứt rời năm 1965) [1]. Tại Việt Nam năm 1987 Nguyễn Huy Phan và
Nguyễn Bắc Hùng đã thành công trong việc nối lại ngón tay bị đứt rời tại bệnh viện
Trung ương Quân đội 108 [2]. Kể từ đó nhiều báo cáo thành công trong kỹ thuật vi
phẫu nối lại ngón tay đứt rời tại các bệnh viện, trung tâm lớn như bệnh viện Trung
ương Quân đội 108 Viện Chấn thương chỉnh hình TP.HCM, Bệnh viện Xanh pôn,
Bệnh viện Việt đức đã được công bố [3] [4] [5] [6] [7] [8].
Tuy nhiên thương tổn ngón tay đứt rời vẫn là thách thức với nhiều bệnh viện,
phẫu thuật viên phẫu thuật tạo hình cũng như chấn thương chỉnh hình cả về kỹ thuật
cũng như về chỉ định. Kết quả nối ngón tay đứt rời bằng kỹ thuật vi phẫu mạch máu
ở Việt Nam cũng như trên thế giới được đã được thông báo với tỷ lệ thành công từ
gần 60% đến trên 90% [9] [10] [11] [12].
Từ khi được thành lập đến nay khoa phẫu thuật tạo hình Bệnh viện Xanh Pôn
đã triển khai thực hiện nhiều loại phẫu thuật sử dụng kỹ thuật vi phẫu, trong đó có
phẫu thuật nối lại ngón tay đứt rời có sử dụng kỹ thuật vi phẫu mạch máu.


2

giúp cho búp ngón có khả năng xúc giác tế nhị[13].
Mặt mu tay có da mỏng đàn hồi, lớp mỡ dưới da mỏng.
1.1.2. Hệ thống gân.
Trong một ngón tay (trừ ngón tay cái), luôn có hai gân gấp và một gân duỗi.
Gân gấp có vai trò rất quan trọng trong chức năng ngón tay [13].
Hai gân gấp nông và sâu nằm trong bao hoạt dịch chui qua ống gân chật hẹp
tạo bởi các dây chằng, do đó dễ bị dính gân sau nối gân [14]. Trong khâu nối ngón
tay, nếu còn một gân thì chức năng sẽ không thiệt hại đáng kể, nhưng nếu đứt cả hai
gân thì việc nối lại gân gấp là quan trọng, khi đó chỉ cần nối một gân là đủ đồng
thời tránh được nguy cơ dính gân về sau [15]. Gân được chọn ưu tiên nối trong
trường hợp này là gân gấp sâu. Đối với ngón cái (ngón I), do chỉ có một gân gấp dài
là có lực vận động mạnh và kháng lực chính cho đối ngón, do đó ngón cái cần chú
trọng nối lại gân gấp dài.
Gân duỗi là gân dẹt, không có bao hoạt dịch.


4

Hình 1.1. Hệ thống gân gấp nông và sâu [16].
1.1.3. Hệ thống động mạch (ĐM) ngón tay.
Ngón tay có hệ thống mạch máu nuôi phong phú nhờ nhánh nối rất dồi dào.
Thông thường mỗi ngón tay có 2 ĐM chính ở gan ngón tay. Ngón I, II, III còn có 2
ĐM phụ ở mặt mu ngón tay (có nguồn gốc từ cung ĐM mu cổ tay)[13] [14]. Trong 2
ĐM chính nói trên luôn có một bên là ĐM ưu thế: cụ thể, ngón I, II có ĐM ưu thế ở
bên trụ, ngón IV, V có ĐM ưu thế bên quay, ngón III cả 2 ĐM tương đương nhau [17].
ĐM chính ngón I, II chiếm ưu thế có nguồn gốc từ cung ĐM gan tay sâu (cấp
máu chính từ ĐM quay). ĐM chính ngón III, IV, V đều nhận nguồn máu chính từ
cung ĐM gan tay nông (cấp máu chính từ ĐM trụ). Tuy nhiên trước khi tách ra các
ĐM gan ngón tay riêng các ĐM gan ngón chung đều nhận 1 nhánh nối từ cung ĐM
gan tay sâu [17].

ngón rưỡi ở phía trong kể từ ngón út.


6

Hình 1.4. Chi phối cảm giác vùng bàn tay [20].
1.1.6. Các xương bàn tay, ngón tay.
Với 27 xương và hệ thống dây chằng bao khớp đảm bảo cho mọi hoạt động
tinh vi phức tạp của bàn tay và được chia thành 3 nhóm. Cổ tay (8 xương), bàn tay
(5 xương), ngón tay hay đốt ngón tay (14 xương). Trong đó ngón I có 2 đốt: đốt
gần (đốt 1), đốt xa (đốt 2), ngón II, III, IV, V (ngón dài) có 3 đốt: đốt gần (đốt 1),
đốt giữa (đốt 2), đốt xa (đốt 3).
Các xương ngón tay tiếp nối với bàn tay qua khớp bàn – ngón tay, giữa các
đốt trong mỗi ngón là khớp liên đốt: khớp liên đốt gần (khớp giữa đốt 1-2) khớp
liên đốt xa (khớp giữa đốt 2-3). Ngón I chỉ có một khớp liên đốt [13].

Hình 1.5. Xương bàn tay [16]


7

1.2. Khái niệm về ngón tay đứt rời.
1.2.1. Một số khái niệm.
 Đứt rời (Amputation).
Theo Biemer [21] định nghĩa như sau: Đứt rời là loại thương tổn đứt lìa các
cơ cấu giải phẫu của một bộ phận cơ thể, trong đó phần đứt không còn tuần hoàn
máu, nếu không được phục hồi lưu thông máu thì phần đứt lìa sẽ bị hoại tử.
 Nối lại (Replantation).
Là khái niệm được sử dụng để chỉ sự giáp nối bằng phẫu thuật những cấu trúc
giải phẫu cần thiết để phục hồi chức năng của một bộ phận cơ thể đã bị đứt rời.

Dạng III

Gân gấp

trong khi một số phần mềm khác vẫn

Dạng IV

Các dây TK chính

còn lành. Biemer phân ra làm các các

Dạng V

Cầu da

dạng tổn thương cụ thể cho chi thể đứt
rời như bảng bên [21].

Tổ chức còn lại

Bảng 1.1: Các thành phần còn lại của ngón
tay ĐR gần hoàn toàn


8

1.2.3. Phân loại theo vị trí thương tổn.
Trong tổn thương ở bàn tay Biemer phân loại thương tổn đứt rời theo vị trí
đứt thành 5 vùng [21].

dính vào ống ngón tay nên ảnh hưởng đến chức năng vận động của ngón. Vì lý do
trên chỉ cần nối một gân gấp sâu là đủ đảm bảo chức năng ngón tay tương đối.
Nhiều tác giả chủ trương không nối lại ngón tay khi chỉ có một ngón dài bị đứt tại
vùng này.
- Vùng IV: Từ khớp bàn ngón đến cung động mạch gan tay ở giữa bàn tay.
Tại vùng này, kích thước mạch máu khá lớn, thuận lợi cho khâu nối, phục hồi
chức phận thuận lợi hơn so với nối tại vùng III.
- Vùng V: Đây là đứt bàn tay tại cổ tay. Phẫu thuật nối lại bàn tay bị đứt rời
tại vị trí này là tuyệt đối và thuận lợi cả về kỹ thuật cũng như khả năng phục hồi
chức phận.
Như vậy với thương tổn đứt rời ngón tay theo phân loại trên là thuộc vùng I,
II và III. Riêng ngón tay cái (ngón I) thì tính thêm cả vùng IV.


10

Ngoài phân loại của Biemer còn có các phân loại khác như của Taima,
Daniel v.v...

Hình 1.8. Phân mức độ cắt cụt ngón tay theo Taima [24].
1.2.4. Phân lại theo đặc điểm thương tổn.
Hiện nay hầu hết các tác giả thống nhất chia tổn thương đứt rời ngón tay
thành 3 nhóm chính [15] [25] [26].
Thương tổn sắc gọn: khi thương tổn chỉ giới hạn trên bề mặt vết thương,
không có bầm dập phần mềm lan rộng xung quanh vết thương. Xương bị cắt gọn,
không bể nát nơi mặt gẫy, không dòi hỏi cắt lọc nhiều. Nguyên nhân thường là
do dao chém hoặc các máy cắt sắc gọn. Loại chấn thương này không làm dập nát
mô nhiều.
Thương tổn bầm dập: khi thương tổn do các máy cưa, cánh quạt cắt, da rách
nham nhở, xương có thể bể nát ít hoặc gọn, nhưng mô mềm có thể dập nát nhiều,

Một số dạng thương tổn khác ít gặp hơn như: đứt dưới da, đứt rời kiểu vòng
nhẫn [28].
1.2.5. Phân loại theo thời gian thiếu máu.
Thời gian thiếu máu: được định nghĩa là thời gian kể từ lúc xảy ra tai nạn,
máu không còn đến nuôi các mô cho đến khi tái lập tuần hoàn, tức là cho đến khi
khâu nối xong ĐM để cho máu đem oxy và các chất dinh dưỡng đến nuôi tế bào


12

[29] [15]. Thời gian thiếu máu phải nhỏ hơn thời gian mà các mô của phần chi thể
đứt rời có thể chịu đựng được, nếu không tế bào sẽ chết.
Khi phần chi thể đứt rời được giữ ở nhiệt độ bình thường thì gọi thời gian này
là thời gian thiếu máu nóng, khi chi thể bị đứt rời được giữ ở nhiệt độ lạnh thì gọi là
thời gian thiếu máu lạnh. Phần chi thể đứt rời một thời gian lâu sau tai nạn mới được
giữ ở nhiệt độ lạnh thì gọi là thời gian thiếu máu hỗn hợp.
Vùng ngón tay là vùng chỉ có cấu trúc da gân xương và có rất ít cơ do đó khả
năng chịu đựng thiếu máu cao hơn các dạng đứt rời khác, trung bình trong điều kiện
bảo quản lạnh đúng các có thể để được 24 giờ, trong điều kiện không được bảo
quản có thể để 8 đến 12 giờ [26], đã có nhiều báo cáo nối lại ngón tay đứt rời đến
muộn trên 24 giờ [30] thậm chí có trường hợp báo cáo thời gian thiếu máu lên đến
42 giờ [31] thậm chí là 96 giờ [32]. Điều này có ý nghĩa lớn với các trường hợp
bệnh nhân từ xa đến hay vì lý do nào đó mà phải trì hoàn phẫu thuật nối lại ngón tay
đứt rời như: có bệnh lý toàn thân, có tổn thương phối hợp nặng. Tuy nhiên do điều
kiện khí hậu Việt Nam mang đặc điểm nóng ẩm nên khả năng chịu thiếu máu của
phần chi thể đứt rời không được lâu như các báo cáo trên. Kéo dài thời gian thiếu
máu ngoài làm giảm tỷ lệ sống khi nối ngón còn gây hạn chế phục hồi chức năng
sau phẫu thuật [30].
Do đó cần bảo quản ngón tay đứt rời đúng cách ở nhiệt độ từ 2° - 8°C


- Đứt rời ngón tay ở trẻ em: là ưu tiên hàng đầu và nên thực hiện cho bất kỳ
vị trí, thương tổn nào [34]. Nối ngón tay không những giúp phục hồi chức năng còn
tránh các di chứng của mỏm cụt như chồi xương, các di chứng về tâm lý của trẻ
trong quá trình phát triển sau này. Tuy nhiên việc khâu nối ngón tay tay cho trẻ em
có nhiều khó khăn do mạch máu nhỏ, trẻ lo lắng sợ hãi, thiếu hợp tác trong phẫu
thuật cũng như hậu phẫu. Vì thế thành công trong nối ngón tay cho trẻ em thường
không cao [38].
- Tổn thương đứt rời mà diện vết thương sắc gọn: loại thương tổn này có tỷ
lệ nối thành công cao phục hồi chức năng tốt.
 Chỉ định không ưu tiên.
- Có tổn thương phối hợp khác quan trọng cần ưu tiên điều trị.
- Bệnh nhân tâm thần, có bệnh toàn thân nặng không chịu đựng được phẫu
thuật lớn kéo dài.


14

- Đứt rời nhiều tầng trên một ngón tay.
- Ngón tay dập nát nhiều, vết thương nguy cơ nhiễm trùng cao.
- Ngón tay bị nhổ đứt.
- Thời gian thiếu máu nóng trên 12 giờ [26].
 Chỉ định cần cân nhắc.
- Đứt rời một ngón từ ngón II đến ngón V: chỉ định nối lại ngón tay theo nhu
cầu của bệnh nhân.
- Bệnh nhân lớn tuổi.
- Có bệnh lý nội khoa như: tiểu đường, xơ vữa mạch máu [26].
- Tổn thương vùng đầu ngón (vùng 1) là vị trí khó thực hiện vi phẫu thuật
thông thường vì mạch máu quá nhỏ, chức năng ngón tay bị khiếm khuyết ít. Nhóm
bệnh nhân này thường được thực hiện kỹ thuật ghép búp cho kết quả khá khả quan
vể thẩm mỹ cũng như chức năng [39].

 Khâu da
o Thương tổn dạng bầm dập giằng giật, kéo đứt: tiến hành khâu nối
ngón tay theo các bước sau
 Kết hợp xương
 Nối gân duỗi
 Nối ĐM
 Nối TK
 Tiêm heparin
 Nối TM
 Nối gân gấp
 Khâu da
 Wright cũng như O’Brien có thứ tự khâu nối tương tự, nhưng Wright
nhấn mạnh thì kết xương cần cắt ngắn xương nhằm làm giảm sức
căng miệng nối mạch. O’Brien có thêm 1 thì đánh dấu chuẩn bị 2 đầu
diện đứt rời trước khi tiến hành nối ngón tay, và tiến hành nối TM
trước khi nối ĐM.


16

Việc khâu nối ĐM hay TM trước tùy thuộc vào từng phẫu thuật viên [15] [29],
một số phẫu thuật viên thích nối TM trước để hạn chế mất máu và dễ thao tác vì máu
chảy ít không che khuất phẫu trường (O’Brien) [9] một số khác thì thích nối ĐM
trước để có thể dễ dàng tìm kiếm TM (Wright). Tuy nhiên thứ tự khâu nối ĐM trước
hay TM trước còn tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân [29].
- Nếu TM mặt mu ngón tay tìm thấy dễ dàng và đủ lớn hoặc trường hợp đứt
nhiều ngón tay thì nên nối TM trước để tránh nguy cơ mất máu sau nối ĐM.
- Trong trường hợp thời gian thiếu máu đã lâu thì nên tiến hành khâu nối ĐM
trước nhằm phục hồi tái tưới máu nuôi sống phần chi thể đứt rời. Nếu nối ĐM sau
làm kéo dài thời gian thiếu máu sẽ làm tăng nguy cơ hoại tử phần chi đứt rời.

tay cái đứt rời được thực hiên vào năm 1965 [1].
Năm 1974, Katsumi và cộng sự đã tổng kết kết quả nối lại 57 ngón tay đứt
rời qua 41 bệnh nhân.
Nhiều thông báo khác cũng được các tác giả trên thế giới công bố: O’Brien
năm 1973, Owen 1973, tính tới năm 1977 tác giả Tamai đã gặp 142 trường hợp,
Urbaniak công bố 121 trường hợp và Comtet 45 trường hợp tới năm 1978. Đặc biệt
năm 1975, Chen đã đưa ra một bản thống kê của bệnh viện nhân dân số VI Thượng
Hải đã thực hiện 373 trường hợp nối lại các ngón tay trên 217 bệnh nhân [40].
Trong những năm gần đây các thống kê và nghiên cứu về kỹ thuật vi phẫu
nối lại ngón tay đứt rời tiếp tục được công bố áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới năm
2010 [41], 2011 [10], 2012 [42]. Năm 2011 một thống kê tổng hợp nghiên 30 ngiên
cứu nhỏ lẻ trên toàn thế giới đã được công bố với 2273 ngón tay được nối lại đạt tỷ
lên sống đến 86% là một tỷ lệ thành công cao với chức năng ngón tay tốt, đã khẳng
định những bước tiến lớn của y học trong kỹ thuật vi phẫu nối lại ngón tay đứt rời
trên toàn thế giới [43].
1.4.2 Tại Việt Nam.
Những thập niên đầu tiên phát triển của kỹ thuật vi phẫu thuật mạch máu
thần kinh đã được thực hiện bởi sự nỗ lực liên tục của các nhà phẫu thuật trên thê
giới như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Trung quốc, v.v... do ảnh hưởng của chiến tranh mà
những tiến bộ ấy đến với Việt Nam chậm hơn.
Kỹ thuật vi phẫu mạch máu thần kinh lần đầu tiên được nghiên cứu ứng dụng
tại nước ta từ năm 1978 trong thực nghiệm tại bệnh viện 108. Sau đó được nghiên


18

cứu ứng dụng và triển khai ở nhiều trung tâm lớn ở cả miền Bắc cũng như miền
Nam [29] [15].
Nhiều nghiên cứu về vi phẫu thuật áp dụng trong nối ngón tay đứt rời đã
được công bố tại Việt Nam như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Huy Phan

ngón tay phía đầu trung tâm, giải pháp này giúp giảm ứ máu sau khi máu đã đi qua
nuôi dưỡng phần ngón tay đứt rời. Cầu nối này được mở ra và kẹp lại sau mỗi 3 đến
6 giờ. Sau 6 – 8 ngày khi các TM tân tạo đã hình thành, cầu nối này có thể được cắt
bỏ [25] [46].

Hình 1.12. Hình thức dẫn lưu máu đầu ngón tay bằng cầu nối ĐM-TM
khi không thể nối được TM đầu ngón [47].
Năm 2011 các tác giả Trung Quốc đưa ra giải pháp sử dụng một vạt da mu
ngón tay kế cận làm đường dẫn lưu máu về tự phần ngón tay đứt rời cho kết quả
khá khả quan, hiện ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào áp dụng [48]
1.5.2 Khâu nối động mạch.
+ Nên khâu nối ĐM lớn nhất mà phẫu thuật viên có thể tìm được. Trong các
nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài có thể nhận thấy mỗi ngón tay có 1
ĐM ưu thế hơn. Ngón I, II có ĐM ưu thế bên phía trụ, ngón IV, V có ĐM ưu thế


20

bên quay, ngón III cả 2 ĐM tương đương nhau [17] [18] [33]. Việc khâu nối được
ĐM ưu thế thường đủ để đảm bảo cấp máu cho cả ngón tay thông qua vòng nối giữa
các ĐM trong mỗi ngón tay [15].
+ Trong trường hợp thời gian thiếu máu đã quá lâu, nên khâu nối ngay ĐM
nào thuận tiện, dễ dàng tìm thấy nhất giúp việc tái tưới máu sớm cho ngón tay, sau
đó ĐM thứ hai cần khâu nối tiếp hay không tùy theo đánh giá lâm sàng cụ thể.
Nhưng tốt nhất nên khâu nối cả 2 ĐM nhằm đảm bảo chức năng về sau [15].
+ Cần kiểm tra xem dòng máu từ đầu trung tâm có chảy hay không là điều
cần kiểm tra trước khi khâu nối ĐM, nếu máu chảy yếu cần kiểm tra để khắc phục,
thường nguyên nhân do huyết khối hoặc do mạch bị co thắt phía trên chỗ đứt. Sau
khâu nối cũng cần kiểm tra xem sự tưới máu phía ngoại vi có đạt hay không [26].
+ Ghép mạch thường được sử dụng cho tình huống không thể khâu nối hai

mạch máu sẽ phủ kín miệng nối. Tuy nhiên thực hiện kỹ thuật này cần có đoạn
mạch dài hơn, và thường gây teo hẹp miệng nối.

Hình 1.13. Các bước
khâu nối mạch máu
tận – tận với 3 mũi
khâu chuẩn [49].

Một vài điểm cần chú ý
+ Ngoài các kỹ thuật trên còn có nhiều phương pháp khác như dùng keo
dán, laser.
+ Về kỹ thuật nối ĐM hay TM không có sự khác biệt nhiều, tuy nhiên cần chú
ý: dòng chảy trong TM yếu hơn nên số mũi khâu nối TM ít hơn so với ĐM có cùng


22

khẩu kính. ĐM hay bị co thắt nên trước khi nối cần nong mạch (dùng que nong mạch
hoặc kìm mang kim hoặc kẹp phẫu tích).
- Sau khi nối mạch xong cần cầm máu chân chỉ và kiểm tra sự thông mạch.
+ Cầm máu chân chỉ: sử dụng một ít bông thấm nước quấn xung quanh vị trí
nối trước khi tháo kẹp mạch, có thể khâu thêm một số mũi khâu bổ sung hoặc sử
dụng một miếng tổ chức phần mềm khâu bịt vị trí rỉ máu.
+ Sau tháo kẹp mạch, quan sát đầu xa của chi nối, nếu ngón căng lên, màu sắc
chuyển hồng hơn thì chứng tỏ có thông mạch, ngón tay không thay đổi kích thước,
màu sắc thì có thể do miệng nối không thông hoặc bị tắc mạch, hoặc mạch bị co thắt
làm máu không đến được phần ngón tay bị đứt rời.
+ Có thể sử dụng test thông mạch để kiểm tra sự thông của miệng nối mạch:
test nâng mạch, test vuốt mạch, kiểm tra 1 nhánh bên của đầu ngoại vi.
- Trong quá trình khâu nối cần bơm rửa mạch máu liên tục với nước pha

Ngoài tác dụng hút máu ứ ngay tức thì, chất chống đông lưu giữ lại nơi vết cắn của
đỉa còn có tác dụng gây chảy máu kéo dài từ 6-8 giờ. Sau thời gian này cần tiếp tục
dùng đỉa hút máu. Việc dùng đỉa hút máu cần cân nhắc vì có nguy cơ nhiễm
Aeromonas hydrophilia, một chủng vi khuẩn tìm thấy trong nước bọt của đỉa, tỷ lệ
thành công của phương pháp này cũng không cao [10] [50] [51]. Hiện giải pháp này
không còn được khuyến cáo.

Hình 1.14. Đỉa được sử dụng hút máu ứ tại ngón tay đứt rời sau nối vi phẫu [50].
Trong 2 tuần đầu có thể vận động vùng khớp vai, khuỷu, cũng như các ngón
lân cận (ngón tay được nối lại cần bất động).
Sang tuần thứ 3,4 có thể tập thụ động các ngón tay bị thương tổn [25] [26].
 Các vấn đề toàn thân.
Nhiệt độ phòng được khuyến cáo nên giữ ấm, duy trì từ 24°C đến 27°C.


24

Hạn chế ăn trong 24 đến 48 giờ, đây là giai đoạn cao có khả năng bị huyết
khối miệng nối. Chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân cũng cần tránh caffein,
chocolate, nicotin, vì các chất này gây co mạch.
Kháng sinh được duy trì từ 5 đến 7 ngày.
Thuốc giảm đau, an thần được sử dụng để tránh căng thẳng stress cho bệnh
nhân gây, stress là một yếu tố gây co thắt mạch [25] [26].
Vấn đề sử dụng thuốc chống đông: các thuốc chống đông máu khá đa dạng
và việc sử dụng các chất này khác nhau tùy từng tác giả cũng như tùy từng cơ sở
điều trị. Trong đó Heparin và aspirin là 2 dược chất thường được sử dụng nhiều
nhất. Tuy có sự khác nhau nhưng nhiều tác giả công bố sử dụng heparin trong quá
trình phẫu thuật. Heparine được pha trong dung dịch bơm rửa mạch máu khi thao
tác nối mạch và dùng liều 5000 đơn vị tiêm TM ngay trước khi thả kẹp mạch máu
sau khâu nối. Aspirin được sử dụng với mục đích chống ngưng tập tiểu cầu sau

nguyên nhân bên ngoài gây chèn ép mạch như khâu da, khối máu tụ chèn ép, tư thế
ngón tay, băng ép quá chặt.
Xử trí: thay băng, phát hiện sớm để mổ lại kịp thời làm thông miệng nối
mạch máu đặc biệt là với ĐM trước khoảng 6 – 8 giờ là phương án duy nhất khả thi
để có thể giữ lại được ngón tay [26]. Dự phòng biến chứng này ngoài vấn đề kĩ
thuật nối mạch tốt còn có các phương pháp như giữ ấm, giữ ẩm, dùng các thuốc
chống đông, giảm đau tốt cho bệnh nhân [25] Các phương pháp khắc phục hiện
tượng ứ trệ máu TM hồi lưu như thay băng, rạch búp ngón, bóc móng, dùng đỉa hút
máu đã nêu trước đó
 Chảy máu [54]
Quá trình phẫu thuật kéo dài, sư dụng thuốc chống đông có thể làm mất 1
lượng máu lớn, cần truyền máu bù cho bệnh nhân sau mổ, tuy nhiên nếu lượng Hct
của bệnh nhân duy trì trong khoảng 30% thì cũng không nên truyền bù máu, ở mức
Hct 30% là mức đủ để duy trì chức năng của các tế bào hồng cầu với cơ thể lại đảm
bảo độ nhớt của máu thấp giúp hạn chế hiện tượng tắc mạch [26].
Hiện tượng chảy máu sau mổ thường ít gặp hơn và mức độ cũng nhẹ hơn,
thường do chảy máu từ các TM hồi lưu máu về không được nối hay thắt trong mổ,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status