Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình van hai lá tại BV tim hà nội - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hở van hai lá là một bệnh hay gặp trong các bệnh lý tim mạch, với
thương tổn liên quan đến mô van, vòng van, bộ máy dưới van hay phối hợp.
Tỷ lệ khá phổ biến từ 5-24% trong tổng số các bệnh lý tim mạch [1]. Hở hai
lá thường nhanh chóng dẫn đến suy tim và nhiều biến chứng khác nếu không
được sửa chữa kịp thời, nếu điều trị đúng có thể chữa khỏi hoặc kéo dài thời
gian sống cho bệnh nhân.
Hình thái thương tổn của van hai lá trong bệnh van tim mắc phải hoàn
toàn tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, nhưng tựu chung lại gồm ba thể
bệnh chính là: Hẹp van đơn thuần, hở - hẹp van và hở đơn thuần [1]. Siêu âm
tim Doppler màu là biện pháp thăm dò hình ảnh quan trọng nhất giúp ích cho
lâm sàng trong việc chẩn đoán bệnh, thể bệnh và đưa ra chỉ định điều trị [2].
Có nhiều phương pháp đã được nghiên cứu điều trị hở van hai lá, tuy
nhiên ngoại khoa có ưu điểm nổi bật với những kỹ thuật tiên tiến từ thập kỷ
60 thế kỷ 20 trở lại đây [3].
Phẫu thuật tim hở điều trị hở van hai lá bao gồm hai loại là: Thay van
và tạo hình van. Phẫu thuật thay van hai lá bằng van nhân tạo tuy rất phổ biến
do kỹ thuật không quá phức tạp và có thể sử dụng cho mọi loại thương tổn
van nhưng cũng có một số hạn chế như: Tỷ lệ biến chứng huyết khối sau
mổ cao (3-5%) đối với van cơ học, chất lượng sống giảm (do dùng thuốc
chống đông máu, suy tim) chi phí phẫu thuật lớn. Phẫu thuật tạo hình van
do bảo tồn được bộ máy van hai lá, cho phép khắc phục được một phần các
hạn chế nêu trên, đem lại cho bệnh nhân một cuộc sống tương đối bình
thường, với kết quả tốt, hậu phẫu ngắn, ít biến chứng, nên là phương pháp
điều trị được ưu tiên lựa chọn cho những trường hợp cấu trúc van không bị
hỏng quá nặng [4],[5]. Tuy nhiên, do tạo hình van hai lá là một kỹ thuật


2


Đánh giá kết quả tạo hình van hai lá tại Bệnh viện tim Hà Nội.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về bệnh hở van hai lá
Hở hai lá (HoHL) là tình trạng van hai lá đóng không kín trong thì tâm
thu, làm cho một lượng máu phụt ngược trở lại từ thất trái lên nhĩ trái trong
thì tâm thu. Theo thống kê của Viện tim mạch năm 1996, trong các bệnh lý
tim mạch thì bệnh hẹp van hai lá đứng hàng đầu (21,4%), tiếp theo là hở van
hai lá (16%). Hở van hai lá gây biến đổi nhiều về giải phẫu và sinh lý tim.
HoHL gây những biến chứng nguy hiểm nếu không phẫu thuật kịp thời.
1.2. Nhắc lại giải phẫu và chức năng van hai lá
Van hai lá (VHL) hoàn chỉnh gồm: Vòng van, hai lá van, các dây chằng,
2 cột cơ.
1.2.1. Vòng van
Vòng VHL là 1 vùng xơ cơ, nối nhĩ với thất, là chỗ bám cho lá trước và
lá sau VHL. Vòng VHL có hình êlip, đường kính ngang lớn hơn đường kính
trước sau. Chu vi vòng van khoảng 9 - 10cm [2],[3], đường kính 3 ± 0,36 cm.
Diện tích mở VHL khoảng 4 - 6cm2 gồm nhiều sợi không liên tục xuất phát từ
tam giác sợi bên phải và bên trái của tim. Tam giác sợi bên phải nằm ở giữa
tim sát ngay vùng giữa diện bám lá van trước là điểm kết nối mô sợi của
VHL, van ba lá, vách liên thất phần màng và mặt sau gốc động mạch chủ
(ĐMC). Tam giác sợi bên trái là sự kết nối mô sợi của bờ trái các lá van ĐMC
và VHL.Vòng VHL thực chất không tồn tại ở vùng giữa hai tam giác sợi
(vùng tiếp giáp với van ĐMC). Vòng van ở vùng tam giác sợi dầy và chắc,
thuộc diện bám của lá trước. Vòng van ở phía sau mỏng, yếu, thuộc diện bám


Cơ nhú trước

[B]

Thì tâm thu

Thì tâm trương

Hình 1.1.Sơ đồ van hai lá.
A. Nhìn từ mặt nhĩ. B. Van và bộ máy dưới van [3].
ALPM: cơ nhú trước bên; PMPM cơ nhú sau giữa; AoL van ĐMC; Ant.Com.L.:mép trước;
Post.Com.L.: mép sau; Rt.Trigone: tam giác xơ bên phải; Lt.Trigone: tam giác xơ bên trái;
Ant. Scal – rãnh trước; mid. Scal – rãnh giữa; post scal – rãnh sau; 1 -10: dây chằng


5

1.2.2. Lá van
VHL gồm 2 lá van: Lá trước và lá sau, phân cách bởi 2 mép van: Trước
bên và sau giữa. Lá sau nhỏ hơn bám vào vùng tương ứng với thành sau thất
trái. Các lá van mềm mại, dày 1 - 3mm. Carpentier chia mỗi lá van thành 3
vùng: A1, A2, A3 và P1, P2, P3 [6].

Hình 1.2. Phân vùng van hai lá [6]
1.2.2.1. Đặc điểm chung của lá van
VHL bao gồm lá van trước và lá van sau (hình 1.2). Các lá van bám
vào vòng van và cơ tim ở sàn nhĩ trái ở đường ranh giới giữa nhĩ - thất trái.
Vùng ranh giới chuyển tiếp giữa mô lá van với cơ tim dễ thấy ở mặt thất (mặt
dưới van), nhưng lại không rõ ràng ở mặt nhĩ (mặt nhìn thấy trong mổ). Diện

1.2.2.2. Đặc điểm lá van trước
Lá van trước hay còn gọi là lá lớn của VHL, bám vào phần trước trong
của chu vi vòng van ở vị trí tương ứng với vách liên thất và vòng van động
mạch chủ. Ở thì mở van nó như một tấm rèm ngăn cách giữa vòng VHL và
vòng van ĐMC, giữa buồng nhận máu với đường ra của thất trái. Lá van
trước có hình tứ giác hoặc hình bán nguyệt, có độ rộng bờ bám vào vòng van
nhỏ hơn nhưng diện tích lại lớn hơn so với lá sau. Nếu tính ở thì đóng van thì
độ rộng bờ bám lá trước chỉ chiếm hơn 1/3 chu vi vòng van nhưng diện tích
chiếm tới 2/3 diện tích lỗ van, nên lá trước được đánh giá là lá chức năng
chính của VHL. Chính vì vậy tôn trọng và cải thiện diện tích lá van trước là
một trong những nguyên tắc cơ bản của phẫu thuật tạo hình van.


7

1.2.2.3. Đặc điểm lá van sau
Lá van sau còn gọi là lá van nhỏ của VHL, bám vào phần sau ngoài của
chu vi vòng van, tương ứng với thành sau thất trái. Lá sau có hình tứ giác, tuy
độ rộng của bờ bám vào vòng van lớn hơn lá trước nhưng chỉ chiếm 1/3 diện
tích lỗ van, chiều cao lá van cũng chỉ bằng 1/3 lá trước nên biên độ di động
cũng nhỏ hơn và có ít vai trò hơn trong chức năng của VHL. Do vậy trong khi
tạo hình van, người ta có thể cắt xén bớt mô van bệnh lý của lá sau [12].
1.2.3. Dây chằng
Dây chằng VHL là các sợi mảnh đi từ bờ tự do của lá van đến các cột
cơ chính hoặc từ mặt dưới của lá van đến các cột cơ nhỏ. Dây chằng có tác
dụng giữ cho các lá van không di chuyển quá mức và khi đóng không gây hở
van. Các phẫu thuật viên thường phân loại theo Ranganathan. Dây chằng
được chia thành các loại sau theo vị trí bám vào các lá van: Dây chằng mép,
dây chằng lá van trước, dây chằng lá van sau [2],[9],[11] (hình 1.3).
- Dây chằng mép: Thường có hai dây chằng cho hai vùng mép, xuất

phía mép sau của mỗi lá van. Cơ nhú có ba dạng hình thái, tùy theo cách bám
vào thành thất trái và chiều cao của cơ nhú [2],[3],[9],[11],[13] - cơ nhú kiểu
bám, cơ nhú kiểu ngón tay đi găng, cơ nhú kiểu trung gian. Nguồn cấp máu
nuôi các cơ nhú rất đa dạng, nhưng phân bố các mạch máu trong cơ nhú lại
tuỳ thuộc hình thái các cơ nhú. Cần lưu ý khi tiến hành thủ thuật xẻ cơ nhú để


9

tăng độ dài dây chằng hoặc để co ngắn dây chằng, nếu rạch quá sâu sẽ có
nguy cơ gây thiếu máu, hoại tử chỏm cơ nhú. Các thực nghiệm cho thấy cả
hai cơ nhú có động học gần giống với thất trái.
1.3. Tổn thương giải phẫu trong bệnh van hai lá
Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà bộ máy VHL bị các dạng tổn
thương khác nhau, từ đó gây ra hẹp van hoặc hở van. Dưới đây là tổn thương
giải phẫu trong một số nguyên nhân thường gặp.
1.3.1. Tổn thương do thấp tim [7]
1.3.1.1. Lá van
- Dầy lá van: Toàn bộ thân lá van bị dầy lên và cứng lại, nặng nhất ở
phía bờ tự do, làm hạn chế độ di động của các lá van khi mở, đóng van, gây
hẹp lỗ van. Chỗ dày nhất có thể lên tới 6 - 10mm.
- Co rút lá van: Lá van bị co ngắn lại làm giảm diện tích của lá van so
với diện tích vòng van gây ra hở van.
- Vôi hóa lá van: Thường xuất hiện ở các bệnh nhân lớn tuổi, bệnh đã
tiến triển nhiều năm. Vôi hóa thường không khu trú ở lá van mà lan tới cả các
dây chằng, có khi vào tận vòng van.
- Sa lá van: Ít gặp trong thấp tim, thường do một đợt viêm cấp tính gây
đứt một vài dây chằng, làm sa vùng lá van đó lên trên vùng tương ứng ở lá
van đối diện và lên trên mặt phẳng vòng van (dạng II), từ đó gây hở van. Cần
phân biệt sa lá va với thương tổn co rút dây chằng - làm một lá van bị kéo tụt

ngày và dây chằng bị dầy, dính, co rút nặng.
1.3.1.5. Cột cơ: Thường không biểu hiện rõ thương tổn về mặt đại thể, đôi khi
bị dính vào nhau hoặc co rút nhẹ hoặc vôi hóa.


11

1.3.2. Tổn thương do Osler: [7] [11],[12]
Lá van + mép van + dây chằng: Sùi lá van thường gặp trong giai đoạn
nhiễm khuẩn huyết, do bạch cầu + vi khuẩn + tổ chức van hoại tử kết hợp với
nhau tạo các cục sùi bám trên mặt lá van ở một hay nhiều chỗ.
- Rách - thủng lá van: Do cục sùi làm lá van hoại tử, nếu ở bờ tự do của
lá van thì làm rách, nếu ở thân lá van thì làm thủng, cả 2 đều dẫn đến hở van.
- Đứt dây chằng - sa lá van: Do cục sùi làm đứt 1 nhóm dây chằng + sa
vùng lá van tương ứng, gây hở van.
- Giãn dây chằng - sa lá van: Dây chằng bị viêm và giãn dài ra, thường
kết hợp với đứt dây chằng, gây sa lá van và hở van.
Vòng van: Chủ yếu là giãn vòng van, hậu quả của hở VHL do giãn thất
trái. Thương tổn giống như hở van trong thấp tim.
Cột cơ: Hiếm khi thương tổn, nặng nhất là hoại tử - đứt cột cơ.
1.3.3. Tổn thương do thoái hóa
Có nhiều dạng tổn thương khác nhau, nhưng chủ yếu làm thay đổi cấu
trúc lá van và dây chằng, làm giãn dây chằng và sa lá van gây hở van. Thường
gặp ở bệnh nhân lớn tuổi [14], người già có thể gặp vôi hóa van và tổn thương
do thiếu máu cơ tim [15].
1.3.4. Các tổn thương phối hợp trên tim
Bệnh VHL do thấp tim và Osler thường gây các tổn thương phối hợp
với VHL nhất. Dưới đây là một số tổn thương chính.
Thương tổn van động mạch chủ: Với các đặc điểm thương tổn tương tự
như VHL (ví dụ: Dầy, co rút, dính mép, vôi hóa/ thấp tim).

1.4. Nguyên nhân, phân loại, sinh lý bệnh hở hai lá
1.4.1. Nguyên nhân
Van hai lá đóng kín nhờ vào sự tương tác phù hợp của phức hợp gồm
vòng van và lá van, dây chằng, cơ nhú, nhĩ trái và thất trái. Rối loạn hoạt động
của bất cứ một thành phần của phức hợp này đều có thể dẫn đến HoHL [18].


13

- Bệnh lý lá van: Thấp tim, thoái hóa nhày, viêm nội tâm mạc nhiễm
khuẩn, phình lá van do dòng hở van ĐMC, bẩm sinh, bệnh cơ tim phì đại.
- Bệnh lý vòng van hai lá: Giãn vòng van, vôi hóa vòng van.
- Bệnh lý dây chằng: Thoái hóa nhầy, di chứng thấp tim, Osler.
- Bệnh lý cột cơ: Nhồi máu cơ tim, rối loạn hoạt động cơ nhú, bẩm sinh.
1.4.2. Phân loại và cơ chế hở van hai lá
Carpentier chia hở van hai lá thành 3 nhóm:
- Lá van vận động bình thường (type I): Gặp trong giãn vòng van thứ
phát do giãn thất trái, lá van thường đóng không kín tại bờ tự do của lá van,
gặp ở bệnh nhân có bệnh cơ tim giãn, bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc thủng
van hai lá thứ phát do viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
- Lá van bị sa hoặc vận động quá (type II): Thường do dây chằng dài hoặc
đứt dây chằng, cũng có thể gặp ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành, Osler.
- Lá van bị hạn chế vận động (type III): Type III chia thành 2 phân
nhóm: Type IIIa khi lá van hạn chế vận động thì tâm trương và IIIb khi lá van
hạn chế vận động thì tâm thu.

Hình 1.4. Phân loại hở van hai lá theo Carpentier
Nguồn: Understanding degenerative disease. (www.mitralvalverepair.org)




15

- Chẩn đoán:
+ Lâm sàng: Khó thở khi gắng sức, khó thở về đêm, sau đó khó thở
thường xuyên, phù chi, mệt mỏi. Nghe tim thấy tiếng thổi tâm thu ở ổ VHL.
+ Cận lâm sàng: Điện tim đồ thấy dầy nhĩ trái, dầy thất trái. X- quang
ngực có hình tim to toàn bộ, chỉ số tim/ ngực > 50%, tâm nhĩ trái giãn. Trên
siêu âm (SA) tim, nhất là SA doppler màu, giúp chẩn đoán xác định khi có
dòng phụt tâm thu bất thường, chẩn đoán mức độ hở và cơ chế hở, giúp đưa ra
chỉ định điều trị.
- Phân độ hở van: Chủ yếu dựa vào dòng phụt ngược từ thất trái lên nhĩ
trái thì tâm thu trên SA tim. Có nhiều cách phân độ, dựa vào chiều cao dòng
phụt ngược/ chiều cao nhĩ trái, diện tích dòng phụt ngược hoặc kết hợp cả 2
cách [18]. Có thể tóm tắt trong bảng 1.2 dưới đây:
Bảng 1.1: Phân độ hở van hai lá / siêu âm tim
Độ hở van

Chiều dài tối đa của dòng hở

Diện tích dòng hở/ diện

hai lá

(cm) phụt ngược vào nhĩ trái

tích nhĩ trái

Nhẹ


tiếng T1 đanh và rung tâm trương.
+ Cận lâm sàng: Điện tâm đồ biểu hiện tăng gánh nhĩ trái, trục điện tim
chuyển sang phải, có thể gặp rung nhĩ. X- quang ngực thẳng có 4 cung bên
trái (ĐMC, động mạch phổi (ĐMP), tiểu nhĩ trái, thất trái). Trên SA tim, đặc
biệt là SA doppler mầu, giúp chẩn đoán xác định hẹp VHL, mức độ hẹp van,
hình thái tổn thương van và tổ chức dưới van, giúp đưa ra chỉ định điều trị.
Bảng điểm Willkins (Bảng 1.2) thường được sử dụng để đánh giá mức độ tổn
thương VHL [7],[9].
- Phân độ hẹp VHL: Chủ yếu dựa vào diện tích VHL đo trên siêu âm.
Các nhà nội và ngoại khoa tim mạch đều thống nhất phân độ hẹp van như sau:
+ Hẹp rất khít:

Diện tích van < 1 cm2

+ Hẹp khít:

Diện tích van 1 - 1,5 cm2

+ Hẹp vừa:

1,5 cm2 < Diện tích van ≤ 2 cm2

+ Không hẹp:

Diện tích van > 2 cm2


17

Bảng 1.2: Bảng điểm Willkins trên siêu âm tim [9]

chiều dài dây

còn di động tốt

chằng

5mm

Có một điểm
vôi hóa

Dày ít phía bờ

Vôi hóa rải rác

van: 5 - 8mm

phía bờ van

Van vẫn còn di
động về phía trước
3

trong thì tâm
trương (chủ yếu là

Dày tới đoạn xa
dây chằng

Dày lan xuống

1.5.2. Điều trị nội khoa
- Thuốc giảm hậu tải: Thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin,
hydralazine (có thể có lợi).
- Thuốc giảm tiền tải: Lợi tiểu, nitrate.
- Thuốc tăng co sợi cơ: Digoxin.
- Dự phòng viêm nội tâm mạc.
- Đặt bóng đối xung trong động mạch chủ, như là cầu nối cho phẫu thuật.


18

1.5.3. Điều trị ngoại khoa
Chỉ định theo hội Tim mạch Hoa Kì ACC/AHA 2006.
1.5.3.1. Phẫu thuật sửa van: Được ưa thích hơn thay van [23],[24],[27]
* Chỉ định sửa van [20]
Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng:
 Hở van hai lá nặng
 Chức năng thất trái EF > 30%, đường kính thất trái cuối tâm thu
50mmHg lúc
nghỉ, > 60mmHg lúc gắng sức) hoặc chức năng thất trái bảo tồn (EF 50- 60%,
Ds > 40mm) hoặc chức năng thất trái giảm nhẹ (Ds > 50mm, ALĐMP tâm
thu 30 – 50mmHg), tại trung tâm phẫu thuật có nhiều kinh nghiệm (tỷ lệ
không có HoHL tồn lưu > 90%).
* Chống chỉ định
 Van vôi hóa, tổ chức dưới van dày, dính co rút nhiều, Willkins >
8điểm, thương tổn van động mạch chủ phối hợp có chỉ định thay van cơ học.
* Ưu điểm

 Không có triệu chứng cơ năng, chức năng thất trái bảo tồn và có rung nhĩ.
 Không có triệu chứng cơ năng, chức năng thất trái bảo tồn và có tăng
ALĐMP (ALĐMP tâm thu lúc nghỉ > 50mmHg, lúc gắng sức > 60mmHg).
 Không có triệu chứng cơ năng, chức năng thất trái > 50%, Ds < 55mm.
 Rối loạn chức năng thất trái nặng (EF < 30%, Ds > 55mm).


20

* Chống chỉ định
 Giảm nặng chức năng thất trái EF 15 – 20%.
* Ưu điểm
 Giải quyết triệt để mọi thương tổn của van hai lá.
 Thực hiện đồng thời một số thủ thuật: Lấy máu cục, khâu chân tiểu nhĩ,
thủ thuật Maze, tạo hình NT, sửa van ba lá, tạo hình hoặc thay van ĐMC...
* Nhược điểm
 Có một số nguy cơ liên quan đến gây mê, tuần hoàn ngoài cơ thể.
 Nguy cơ huyết khối tắc mạch cho dù bệnh nhân có dùng thuốc chống
đông (van sinh học có nguy cơ thấp hơn so với van cơ học).
 Nguy cơ viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
 Nếu thay van sinh học, bệnh nhân sẽ phải xác định khả năng mổ lại
do hiện tượng thoái hóa và rách van. Giá thành tương đối cao.
1.5.4. Các chỉ định phẫu thuật bệnh van hai lá
1.5.4.1. Chỉ định can thiệp phẫu thuật
Chỉ định phẫu thuật bệnh VHL dựa vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng
nhất là biểu hiện lâm sàng và mức độ tổn thương van trên SA tim [1],[28],[29].
- Lâm sàng: Xuất hiện các dấu hiệu ảnh hưởng đến chức năng sống của
bệnh nhân (mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, …). Thường dựa vào cách phân
mức độ suy tim theo NYHA (Hiệp hội tim mạch New York - Mỹ) (bảng 1.3)
[6],[22],[24]. Có chỉ định phẫu thuật khi NYHA ≥ 2.Thông thường, mức

dụng cụ [9],[21].
- Thay VHL: Đây là phẫu thuật tim hở, sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể,
các thao tác được tiến hành trên quả tim ngừng đập. Thường mở ngực theo
đường dọc giữa xương ức, mở vào nhĩ trái để thay VHL bằng van nhân tạo cơ
học hoặc sinh học [9].
- Tạo hình VHL: Cũng là phẫu thuật tim hở, trong đó sử dụng hàng loạt
kỹ thuật để tạo hình lại lá van bị bệnh như: Mở mép van, cắt chuyển, co ngắn
dây chằng, gọt mỏng van, lấy vôi, cắt mô van, mở rộng mô van. Như vậy, bộ
máy VHL vẫn được bảo tồn [9],[14].
Chỉ định cách thức phẫu thuật:
- Tách hẹp VHL tim kín: Khi hẹp khít van đơn thuần hoặc hẹp khít +
hở van mức độ nhẹ, không có huyết khối trong nhĩ trái. Hiện nay hầu như
không còn sử dụng phẫu thuật này nữa [21],[22],[28],[29],[33].


22

- Thay van: Chỉ định cho hầu hết các thể thương tổn van. Rất hạn chế
đối với trẻ em [28],[29].
- Tạo hình van: Khi mức độ thương tổn bộ máy VHL không quá nặng
(Willkins ≤ 8 điểm trong thấp tim), bệnh VHL ở trẻ em, ở phụ nữ trẻ …
[1],[21],[29],[34].
1.6. Lịch sử và kỹ thuật tạo hình van hai lá
1.6.1. Lịch sử
Trên thế giới: Phẫu thuật sửa VHL đã được nghiên cứu từ thập kỷ 60
của thế kỷ 20 trước khi ra đời các loại van nhân tạo [4],[9],[11]. Cùng với thời
gian và sự hiểu biết về giải phẫu, sinh lý bệnh của VHL và sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, người ta đã phát minh ra nhiều kỹ thuật tạo hình VHL khác
nhau như:
- Khâu gấp nếp mép van của Reed, Wooler năm 1968.

đã trở thành một phẫu thuật thường qui trong mổ tim. Trong thời gian sau
này, tại Huế và các trung tâm phẫu thuật tim khác, tạo hình VHL cũng đã phát
triển rất mạnh. Tại Bệnh viện tim Hà Nội phẫu thuật này đã được tiến hành từ
năm 2004 cho đến nay.
1.6.2. Kỹ thuật tạo hình van hai lá
1.6.2.1. Qui trình phẫu thuật
Tạo hình VHL là phẫu thuật tim hở, các thao tác kỹ thuật được thực
hiện trên quả tim ngừng đập với sự trợ giúp của hệ thống tuần hoàn ngoài cơ
thể, quả tim được bảo vệ bằng dung dịch làm liệt tim. Quy trình phẫu thuật
chung gồm các bước sau:
- Mở vào trung thất theo đường dọc giữa xương ức, bộc lộ tim.
- Chống đông bằng Heparin liều 3 mg/ Kg cân nặng.
- Lắp hệ thống tuần hoàn cơ thể: 2 đường rút máu ra khỏi tĩnh mạch
chủ, 1 đường bơm máu vào quai ĐMC.


24

- Cặp 2 tĩnh mạch chủ và ĐMC. Bơm dung dịch làm liệt tim và bảo vệ
cơ tim, lúc đó các buồng tim rỗng máu và tim ngừng đập.
- Mở buồng nhĩ trái để bộc VHL.
- Đánh giá mức độ tổn thương van và tiến hành sửa VHL.
- Xử lý các tổn thương phối hợp: Lấy huyết khối tiểu nhĩ, can thiệp trên
van ĐMC, tạo hình van ba lá...
- Khâu đóng đường mở nhĩ trái, các đường mở tim khác, thả cặp tĩnh mạch
chủ, phục hồi thông khí phổi. Đuổi khí khỏi các buồng tim, thả cặp ĐMC.
- Tim đập trở lại, tiếp tục duy trì tuần hoàn ngoài cơ thể để hỗ trợ tim.
Hạ dần lưu lượng rồi ngừng tuần hoàn ngoài cơ thể. Rút các ống khỏi tĩnh
mạch chủ và ĐMC. Trung hoà chống đông.
- Cầm máu, đặt điện cực, đặt dẫn lưu, đóng xương ức và vết mổ.

một vòng van nhân tạo để nắn chỉnh theo hình dáng và kích thước gần
như bình thường của vòng VHL. Kích thước vòng van được tính theo độ
lớn của lá van trước.

Hình 1.5. Minh họa phẫu thuật tạo hình van hai lá [14]
(a) Mở mép van - cắt tứ giác lá sau - (b) Cắt dây chằng dầy, co rút - mở cửa sổ dây
chằng dầy, dính - (c) Khâu co ngắn dây chằng dài - (d) Mở rộng mô lá van - (e) Đặt
vòng van.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status