ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THI ̣NGỌC HƢỜNG
TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THI ̣NGỌC HƢỜNG
TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM
TRỌNG
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐĂNG DOANH
HÀ NỘI - 2017
: Trách nhiệm hình sự;
VKSNDTC : Viê ̣n Kiể m sát nhân dân tố i cao;
TANDTC
: Tòa Án nhân dân tối cao;
BTP
: Bô ̣ Tư pháp;
BCA
: Bô ̣ Công an;
TTLT
: Thông tư liên tich;
̣
NXB
: Nhà xuất bản;
ĐHQGHN : Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i;
CP
: Chính phủ;
1.2.2. Từ năm 1986 đến trước khi sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự vào năm
1999 ................................................................................................................. 13
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 21
CHƢƠNG 2QUY ĐINH
CỦ A PHÁP LUẬT HÌNH SƢ̣ VỀ TỘI THIẾU
̣
TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG ............................ 23
2.1 Những dấu hiệu pháp lý của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng theo Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999. ............................................................. 23
2.1.1.Khách thể của tội pham .......................................................................... 24
2.1.2.Dấu hiệu về chủ thể của tội phạm .......................................................... 24
2.1.3. Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm ..................................... 25
2.1.5 Hình phạt áp dụng với người phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng ................................................................................................... 29
2.2. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với một số tội
phạm khác có liên quan ................................................................................... 36
2.2.1. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144
Bộ luật hình sự 1999 và Điều 179 Bô ̣ luâ ̣t hiǹ h sự năm 2015) ....................... 36
iv
2.2.2. Phân biệt tô ̣i thiế u trách nhiê ̣m gây hâ ̣u quả nghiêm tro ̣ng với tội thiếu
trách nhiệm để người bị giam giữ trốn (Điều 301 BLHS 1999 và Điều 376.
BLHS 2015) và Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm
giam, người đang chấp hành hình phạt tù trốn) .............................................. 38
2.2.3.Phân biệt tô ̣i thiế u trách nhiê ̣m gây hâ ̣u quả nghiêm tro ̣ng với T ội thiếu
trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả
nghiêm trọng (Điề u 235BLHS 1999, Điề u 308 BLHS2015) ......................... 40
4.3.2 Cần xử lý nghiêm khắc hơn đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng ................................................................................................... 73
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương,
biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống
của một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên, nhằm nâng cao đạo đức công
vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức, viên chức. Nhưng
do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình trạng một bộ phận không nhỏ cán
bộ Đảng viên vẫn còn vụ lợi và thiếu trách nhiệm với cơ quan, tổ chức với
công việc được giao, thậm chícó hành vi phạm tội. Tình hình nêu trên vẫn
diễn ra rất nghiêm trọng ở nhiều cấp nhiều ngành, nhiều địa phương, vẫn đang
là một trong những nguy cơ làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa, trực tiếp
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau, tình hình tội phạm về
chức vụ nói chung vàtội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói
riêng diễn ra tương đối phức tạp, trên nhiều lĩnh vực và gây hậu quả rất
nghiêm trọng.
Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì tình hình tội phạm về
chức vụ ngày càng tăng và mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng, các vụ
án ngày càng khó khăn phức tạp hơn, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý kinh tế.
Điều này xuất phát từ tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm về chức vụ
chưa đạt hiệu quả cao. Tội phạm về chức vụ ngày càng tinh vi hơn,nhiều hành
vi phạm tội là cố ý nhưng sử dụng nhiều thủ đoạn để lẩn tránh và cho là vô ý,
tỉnh Hà Tĩnh qua đó giúp chúng ta có thể đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện
pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đối với các
cơ quan tiến hành tố tụng.
2
Là một cán bộ công tác trong ngành bảo vệ pháp luật, tác giả lựa
chọn đề tài: “tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” để làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình. Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của
thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói chung và các biểu hiện cụ thể
của nó tại Hà Tĩnh nói riêng để từ đó nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng, đồng thời, góp phần nâng cao trách nhiệm thi hành công vụ
trong các cơ quan tổ chức của các cán bộ công chức, viên chức của tỉnh Hà
Tĩnh nói riêng và của cả nước nói chung. Vì lý do đó tác giả đã chọn đề tài "
Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Luật hình sự Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh “làm luận văn thạc sĩ
luật học của mình”.
2. Tình hình nghiên cứu
Hànhvi thiếu trách nhiệm đã được đề cập trong một số công
trình nghiên cứu khoa học về luật hình sự, trong các tập bình luận khoa học
về luật hình sự, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của nhiều tác giả nổi tiếng về các
dấu hiệu pháp lý của các tội phạm chức vụ nói chung và tội thiếu trách nhiệm
gây hậu quảnghiêm trọng trong Bộ luật hình sự nói riêng.Việc nghiên cứu tội
thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đã được đề cập đến trong một số
công trình nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo luật học như Trường
Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nhà nước
và Pháp luật thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo
khác. Trong đó phải kể đến một số giáo trình, sách chuyên khảo hay những
bài viết như: GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) - Các tội phạm về chức vụ,
đất đai, quản lý xây dựng cơ bản, công tác giải phóng mặt bằng quản lý còn
lỏng lẻo, các quy định của các văn bản luật chuyên ngành chưa rõ ràng còn
nhiều bất cập, bên cạnh đó một số bộ phận cán bộ, công chức bị tha hóa, biến
4
chất hoặc trình độ năng lực còn hạn chế….thì việc nghiên cứu tội phạm này
áp dụng trên địa bàn Hà Tĩnh càng có ý nghĩa sâu sắc, góp phần nâng cao tinh
thần trách nhiệm của đội ngũ công chức, viên chức khi thực thi nhiệm vụ.
Trên thực tế Hà Tĩnh tuy là một tỉnh thuộc khu vực miền trung, song
cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế,
những năm gần đây, một số vụ án thiếu trách nhiệm gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng, thiệt hại về tài sản đặc biệt lớn, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín,
của Đảng bộ và chính quyền của tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và của cả nước nói
chung. Bởi vậy, luận văn nghiên cứu về dấu hiệu pháp lý của tội thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; so sánh sự khác biệt của tội phạm này và
các tội phạm khác có cùng tính chất cũng như thực tiễn xét tội phạm này trên
thực tế tại địa phương có ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trên địa bàn Hà Tĩnh.
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt
ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:
a) Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam từ khi Cách
mạng tháng 8 thành công đến nay, qua đó để có một cách nhìn khái quát về
quá trình phát triển của quy định này, phục vụ cho các đề xuất sửa đổi, bổ
sung tội phạm này và các tội phạm khác có liên quan.
b) Phân tích và làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội " Thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" theo Điều 285 Bộ luật hình sự năm
1999 đồng thời phân tích và so sánh với tội phạm này được sửa đổi trong
Điều 360 Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích các
dấu hiệu pháp lý của tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan.
̀ h sự 1999 và Bô ̣ luâ ̣t hiǹ h sự 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân
tích và so sánh, phương pháp tổng hợp. Ngoài ra, còn một số phương pháp
6
khác cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp
định lượng định tính để phân tích tổng hợp các tri thức khoa học Luật hình sự
và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của đề tài
Trong phạm vi của đề tài là một công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa
về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm đối với thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung.
Về mặt lý luận: Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống
và toàn diện những vấn đề về lý luận về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiệm trọng theo luận văn thạc sĩ Luật học, đề tài góp phần hoàn thiện nội
dung quy định của Bộ luật hình sự năm 1999và triển khai áp dụng Bộ luật
hình sự năm 2015, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệutham khảo cần thiết
cho các công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự, cũng như
góp phần phục vụ công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật
hình sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn: những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam về tội phạm nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng nói riêng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử. Phân tích thực tiễn xét
xử tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Tòa án nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh từ năm 2010 đến 2015, qua đó phân tích đúng tình hình xét xử tội
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, các nhà làm luật nước ta đã ghi
nhận khái niệm tội phạm như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ
quốc, xâm phạm chế độ chính trị,chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi
íchhợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa [9, Điều 8].
Khái niệm tội phạm về chức vụ được quy định tại Điều 277 Bộ luật
hình sự năm 1999 “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt
động đúng đắn của cơ quan tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi
thực hiện công vụ, nhiệm vụ. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu
cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không
hưởng lương, được giao nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong
khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ” [30, Điề u 277.tr 216].
Tội phạm về chức vụ có những đặc điểm sau đây:
Khách thể của tội phạm: Đây là quan hệ xã hội đảm bảo cho hoạt động
đứng đắn và uy tín của cơ quan tổ chức trong và ngoài Nhà nước, cụ thể là
9
các quan hệ bảo đảm tính liêm chính, tính vô tư và công minh trong hoạt động
thực thi nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đồng thời quan hệ sở hữu tài sản
của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cũng có thể trở
thành khách thể của tội phạm về chức vụ. Đối tượng quan trọng nhất của tội
phạm về chức vụ chính là hoạt động công vụ, nhiệm vụ của người có chức vụ,
quyền hạn.
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội phạm về
“Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự , do người có năng lực trách
nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do bổ nhiệm, bầu cử, do hợp
đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương
được giao một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thi
hành công vụ đã không thực hiện hay thực hiện không đúng nhiệm vụ được
giao xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức gây hậu quả
nghiêm trọng”
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có một số đặc điểm cơ
bản sau:
Một là, tội thiếu trách nhiệm gây hâu quả nghiêm trọng là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bô ̣ luâ ̣t hiǹ h sự , xâm phạm đến hoạt
động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Hai là, Tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn, được giao trách
nhiệm nhất định thực hiện, tất nhiên phải là người có năng lực trách nhiệm
hình sự.
Ba là, Tội phạm gây ra hậu quả nghiêm trọng do hành vi không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ được giao của người
có chức vụ, quyền hạn, lỗi của người phạm tội là vô ý - là thiếu trách nhiệm.
Việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây hâ ̣u qu ả nghiêm trọng có ý
nghĩa trên nhiều phương diện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Quy định của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
là sự ghi nhận và bảo đảm sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, là
một biểu hiện của bản chất của nhà nước do dân vì dân, cán bộ vì nhân dân
mà phục vụ, vì lợi ích của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
11
Thứ hai, Việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức khi
nghiêm trọng thì loại tội phạm này chưa được quy định cụ thểrõ ràng. Pháp
luật hình sự chỉ mới xây dựng những quy phạm về các loại tội phạm nguy
hiểm cao và mang tính phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ tài sản, bảo vệ
bí mật của cơ quan Nhà nước trong thời kỳđầu của nhà nước dân chủ nhân
dân. Ví dụ một số lĩnh vực cụ thể mà luật hình sự đã được quy định dưới dạng
vô ý như Nghị định số 69/ CP ngày 11/6/1962 có quy định hành vi làm mất
tài liệu bí mật sẽ tùy theo từng trường hợp mà bị thi hành kỷ luật hành chính
hoặc bị truy tố trước pháp luật Điề u 8 nêu “ Người nào sơ suấ t mà để lộ bí
mật Nhà nước hoặc để mấ t tài liê ̣u bí mật sẽ tùy theo từng trường hợp mà bi ̣
thi hành kỷ luật hành chính hoặc bi ̣ truy tố ” [31.Điề u 8.tr 201]
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước vì Miền Nam ruột
thịt, Miền Bắc là hậu phương lớn cung cấp vật chất cho chiến trường Miền
Nam, vì vậy tài sản xã hội chủ nghĩa có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn
tại và phát triển của đất nước cũng như công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước. Chính trong hoàn cảnh đó Nhà nước ta đã quan tâm bảo vệ tài sản Nhà
nước, tài sảnXHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN
ngày 21/10/1970 ra đời, trong đó đã quy định tội thiếu tinh thần trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản XHCN. Thời kỳ này chưa có quy định
tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
1.2.2. Từ năm 1986 đến trước khi sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự
vào năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội khóa VII thông qua ngày
27/6/1985 có hiệu lực thi hành thống nhất trong cả nước ngày 01/1/1986 đã
đánh dấu một bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp của nước ta. Lần đầu
tiên Pháp luật hình sự được thể hiện dưới hình thức bộ luật, một hình thức lập
pháp cao nhất, tập hợp các quy phạm pháp luật hình sự, thể hiện thống nhất,
13
tổng thể và có tính hệ thống, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
14
thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng chosức khỏe của người khác do vi
phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc vi phạm quy tắc hành chính (Điều 110 khoản
2)…Bô ̣ luâ ̣t hin
̀ h sự năm 1985.
1.2.3. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọngtừ năm 1999,
sữa đổi năm 2009 đến nay.
Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời trong hoàn cảnh bao cấp với nhiều quy
phạm pháp luật đến thời điểm chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN không còn phù hợp, vì vậy Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời thay thế
Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1985.
Điề u 285 bô ̣ luâ ̣t hin
̣
̀ h sự năm 1999 quy đinh:
“1.Người nào vì thiế u trách nhiê ̣m mà không thực hiê ̣n hoặc thực hiê ̣n
không đúng nhiê ̣m vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng , nế u không thuộc
trường hợp quy đi ̣nh điề u 144, 235 và 301 của Bộ luật này thì phạt cải tạo
không giam giữ đế n ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đế n năm năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng ,
thì bị phạt tù từ ba năm đế n mười hai năm.
3.Người phạm tội còn cấ m đảm nhiê ̣m chức vụ , hành nghề hoặc làm
một công viê ̣c nhấ t đi ̣nh từ một đế n năm năm” [9.Điề u 285].
Tội phạm này, nếu chỉ xét về hành vi khách quan và ý thức chủ quan thì
giống với tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của
Nhà nước” (Điều 144), tội “ thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng” (Điều 235) và tội “thiếu trách
nhiệm để người bị giam, giữ trốn” (Điều 301) chỉ khác với các tội phạm này ở
hậu quả, ở đối tượng tác động. Cũng chính vì vậy, nội dung của điều luật quy
308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
16
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
năm đến 07 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07
năm đến 12 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 360 Bộ luật hình sự 2015 khác với Điều 285 Bộ luật hình sự năm
1999 đã cụ thể hóa được mức độ thiệt hại vào trong điều luật, tạo thuận lợi
cho việc xác định mức độ thiệt hại để đưa ra khung hình phạt cụ thể, mức
hình phạt phù hợp. Tuy nhiên, do cụ thể hóa các loại hậu quả nên có thể hiểu
so với Điều 285 Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999 thì Điều 360 Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm