MỤC LỤC
1
2
LỜI CẢM ƠN
Với mỗi sinh viên đại học, khóa luận tốt nghiệp là một mốc cuối cùng đánh dấu việc
kết thúc 4,5 năm học tập trên giảng đường và cũng là bước khởi đầu làm quen với công
việc nghiên cứu và công tác sau này.
Được sự đồng ý của nhà trường, Viện Môi Trường, bộ môn Kỹ thuật Môi trường,
được sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Như Ngọc em đã thực hiện khóa luận tốt
nghiệp với đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa
thành phố Thái Bình và đánh giá một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý ”
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Thị Như Ngọc đã dành rất nhiều thời
gian và tâm huyết hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến trưởng phòng hành chính thành phố Thái Bình và
trưởng khoa chống nhiễm khuẩn ở bệnh viện đã nhiệt tình hướng dẫn em, cũng như
những ý kiến giúp em hoàn thiện đề tài này.
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn tập thể cán bộ phòng Nội Vụ tại bệnh viện Đa khoa
thành phố Thái Bình đã tạo điều kiện cho em điều tra khảo sát để có dữ liệu viết đồ án.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khóa luận bằng tất cả sự nhiệt tình và
năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải phòng, ngày
tháng năm 2015
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
1.1
1.2
1.3
2.1
2.2
3.1
3.2
Tên bảng
Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế
Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
Thống kê hoạt động y tế bệnh viện năm 2014 và 6 tháng đầu năm
2015
Phân loại và xác định nguồn phát sinh chất thải
Lượng phát sinh CTRYT tại các khoa trong bệnh viện ĐKTPTB
năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015
So sánh các yêu cầu của quy định từ Bộ Y tế và bệnh viện
5
Trang
2
3
10
19
20
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, kinh tế nước ta ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh hiện đại.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thì các vấn đề khác trong xã hội như y tế, văn hóa, giáo
dục ngày càng được quan tâm và đầu tư nâng cao, chất lượng cuộc sống của mọi người
ngày càng được cải thiện. Chính vì vậy, nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống
của người dân hơn nữa, đã có nhiều chính sách y tế, và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ra
đời, cùng với các bệnh viện, trạm xá đã được xây dựng mới.
Bên cạnh những lợi ích đem tới cho người dân thì các bệnh viện, trạm xá cũng đồng
thời thải ra một khối lượng chất thải y tế rất lớn, nhất là chất thải rắn y tế. Xu thế sử dụng
các sản phẩm chỉ dùng một lần trong y tế càng khiến lượng chất thải rắn y tế phát sinh
ngày càng nhiều hơn, trong đó có nhiều nhóm chất thải thuộc loại nguy hiểm đối với môi
trường và con người. Việc xử lí chất thải rắn y tế nguy hại hiện nay chưa đáp ứng được
yêu cầu, theo số liệu của Bộ Y tế năm 2013 mới có khoảng 73% bệnh viện xử lí bằng lò
đốt, trong số đó chỉ có một số nơi áp dụng công nghệ hiện đại, còn lại gần 27% bệnh viện
đang sử dụng biện pháp đốt ngoài trời hoặc chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện hoặc bãi
rác chung của địa phương.
Do đó, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở
nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung
quanh, gây dư luận trong cộng đồng.
Bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình (BVĐKTPTB) là bệnh viện đa khoa hạng hai
chuyên đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân thành phố
Thái Bình nói riêng và người dân cả nước nói chung. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không
ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa
bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân. Bên cạnh những thành tựu đạt
được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng Chất Thải Rắn Y Tế
(CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản
lý CTRYT còn nhiều thiếu sót.
Xuất phát từ mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của CTRYT gây ra đối với môi
trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng
đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ
nhằm tìm ra các vấn đề còn bất cập.
− Đề xuất biện pháp quản lý CTRYT đối với bệnh viện dựa trên các vấn đề bất cập đã
phân tích ở trên.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Phương pháp chủ yếu được áp dụng để thực hiện đề tài này là:
• Phương pháp tổng hợp số liệu: Phương pháp này nhằm thu thập và xử lý số liệu một
cách tổng quan về tình hình quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKTPTB. So sánh, xác định
độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổng hợp số liệu.
• Khảo sát thực địa: Khảo sát, thu thập các hình ảnh, số liệu ở bệnh viện ĐKTPTB.
• Khảo cứu tài liệu
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
8
− Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bệnh viện ĐKTPTB, Tỉnh Thái Bình
− Về phạm vi:
− Phạm vi: khu vực đường Trần Thánh Tông, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thái
Bình Tỉnh Thái Bình
− Thời gian:
− Lĩnh vực đề cập: thông tin về CTRYT
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
6.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài.
Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tại bệnh
viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện. Trên cơ sở đó phân
tích những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời đề xuất các
giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn
thầy thuốc,nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng. Là hoạt động quản lý việc phân loại,
xử lý, thu gom, vận chuyển, lưu trữ, tái chế, tái sử dụng...
1.1.2. Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu khắp các địa phương, xuất phát
từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh, tăng
cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày
càng được tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế.
10
Bảng1.1. Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế
STT
Loại CTR
Nguồn tạo thành
Chất thải sinh hoạt
Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các
loại bao gói,...
2
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của
Bảng 1.2.Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Tổng lượng chất thải phát sinh
(kg/giường/ngày)
Tổng lượng chất thải nguy hại
(kg/giường/ngày)
BV
TW
BV
Tỉnh
BV
Huyện
BV
TW
BV
Tỉnh
BV
Huyện
Bệnh viện
0.97
0,47
0,45
0,04
0,03
0,02
Khoa nhi
0,50
0,41
0,45
0,04
0,05
0,02
Khoa ngoại
1,01
0,87
0,12
0,10
0,08
Khoa cận lâm sàng
0,11
0,10
0,08
0,03
0,03
0,03
Trung bình
0,72
0,7
0,56
0,14
Phân loại chất thải rắn y tế
12
Căn cứ vào đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong
các bệnh viện được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lý chất thải y tế chung
trên toàn quốc:
a. Chất thải lây nhiễm
Theo quy định của Bộ Y tế, chất thải lây nhiễm được chia thành các nhóm sau:
Nhóm A: chất thải bị nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây bệnh, bị
nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virut, kí sinh trùng, nấm...bao gồm các vật liệu bị thấm máu,
thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây
truyền máu.
Nhóm B: là các vật liệu sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ và mọi
vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được sử dụng hay không
sử dụng.
Nhóm C: chất thải có nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: găng tay, lam
kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu...
Nhóm D: là các mô cơ quan người-động vật, mô cơ thể ( nhiễm khuẩn hay không nhiễm
khuẩn), chân tay, bào thai, nhau thai...
b. Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit
béo, axit amin, một số loại muối...và hóa chất nguy hại như formaldehit, hóa chất quang
học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn,
các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng...
Chất thải hóa học nguy hại gồm:
• Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
• Formaldehit: đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được sử dụng
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO 2, bình
gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần...Đa số các bình chứa khí nén này
thường dễ nổ, dễ cháy, nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách.
e. Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học, nguy hại,
phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
• Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
• Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai
huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải
này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
• Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói,
thùng cat-tong, túi nilon, túi đựng phim.
• Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh trong bệnh viện.
1.1.3. Thành phần của chất thải rắn y tế
a. Thành phần vật lý
Thành phần vật lý của CTRYT bao gồm các loại sau:
• Bông vải sợi: gồm băng bông, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải...
• Giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh...
14
• Nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đụng hàng.
• Thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm.
• Kim loại: dao kéo mổ, kim tiêm.
b. Thành phần hóa học
cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị
15
phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải. Dưới đây
là những nhóm chính có nguy cơ cao:
•
•
•
•
Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện.
Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân.
Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám chữa
bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân...
• Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt
rác thải) và những người bới rác, thu gom rác...
1.2.2.2.
Tác động từ CTRYT
a. Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ
tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào. Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là
virut gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virut lây qua đường máu như
viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế. Những virut
này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người
bệnh. Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách
thức sau:
•
trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hóa trị liệu. Những phương thức tiếp xúc chính là
hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ qua da; qua đường
tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hóa chất hoặc chất bẩn có tính độc. Việc
nhiễm độc qua đường tiêu hóa là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng
miệng để hút pipet trong khi định lượng dung dịch. Mối nguy hiểm có thể xảy ra khi tiếp
xúc với các loại dịch thể và các chất bài tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng
hóa trị liệu.
d. Từ các chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và phạm vi
tiếp xúc. Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác.
Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại chất thải độc hại
cho gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền. Tiếp xúc với các nguồn
phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán
(máy Xquang, máy chụp cắt lớp...), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như
phá hủy các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ
thể).
1.3.
Quản lý CTRYT
Quản lý chất thải rắn y tế bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá trình xử
lý, và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải. Khi phát sinh chất thải, chúng ta nghĩ đến các
biện pháp để giảm lượng phát thải chất thải nguy hại nhất. Sau xử lý, lượng chất thải thực
sự phải thải bỏ cuối cùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ sinh và an toàn.
1.3.1.
Giảm thiểu tại nguồn
Phương pháp làm giảm thiểu chất thải hiện đang được áp dụng là các hoạt động tái
sinh, tái chế cũng như giảm thiểu tại nguồn. Giảm thiểu tại nguồn là giảm về số lượng
chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp theo như quá trình vận chuyển và
lưu giữ tại bệnh viện hay quá trình vận chuyển tới nơi tiêu hủy và quá trình tiêu hủy.
Việc tách và phân loại CTRYT đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót trong thùng chứa
được buộc chặt chẽ, hộp đựng vật sắc nhọn. Yêu cầu màu sắc phải thống nhất theo quy
định để dễ quản lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá trình lưu thông
Bảng 1.3. Phân loại và thu gom chất thải bệnh viện
18
Thùng
kháng
thủng
Loại chất thải
19
Túi
màu
vàng
Túi
màu
đen
Túi
màu
xanh
15.Găng y tế
X
16.Catheter tĩnh mạch bàng nhựa
X
17.Ống hút đờm, ống thông tiểu, ống thông dạ dày
X
18.Các ống dẫn lưu
X
19.Lọ, ống thuốc và các vật dụng khác sử dụng
X
trong liệu pháp hóa học
20.Các bệnh phẩm thừa hoặc chất thải động vật
X
thí nghiệm
21.Các vật dụng nuôi cấy, lưu giữ các tác nhân lây
nhiễm và những thiết bị sử dụng trong việc cấy
X
chuyển, tiêm chủng hoặc các môi trường nuôi cấy
22.Bất kỳ loại nào trong số những loại trên phát
X
sinh từ khoa phóng xạ
23.Bông băng không thấm máu
X
24.Giẻ lau
X
25.Mũ, mạng dùng một lần
X
26.Phần dây truyền dịch, túi dịch truyền không
dính máu
X
Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải. Tránh vận
chuyển qua cá khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vực sạch khác.
Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng, không
được làm rơi, vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển.
• Lưu chứa:
Khu lưu giữ chất thải y tế xây dựng riêng, tách biệt với khu vực khám chữa bệnh của
bệnh viện.
Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng
biệt.
• Thời gian lưu chứa như sau:
Tốt nhất là vận chuyển CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày. Thời gian lưu giữ
chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ.
Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ có thể
đến 72 giờ.
21
• Vận chuyển ngoài cơ sở y tế
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáy kín,
dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô.
1.3.3.
Các phương pháp xử lý CTRYT[1]
Phương pháp chôn lấp:
Phương pháp này đẽ làm ít tốn kém tuy nhiên chiếm nhiều diện tích xây dựng. Bãi
loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn. Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và
chưa có quy trình xử lý triệt để.
Mặt khác, số lượng bệnh viện và các cơ cở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu vốn, nên
số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít. Bảo vệ môi trường tại các bệnh
viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm của Chính phủ
và toàn xã hội.
Quản lý chất thải rắn
Hầu hết chất thải rắn ở bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặc đốt. Một
số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường.
Phân loại rác thải y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại
còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo. Việc phân loại chất thải,
tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành theo
quyết định số 43/2007/QĐ-BYT.
Thu gom chất thải y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chât thải sinh hoạt đều được các hộ lý và y công thu
gom hàng ngày tại các khoa phòng. Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá còn chưa được
huấn luyện để tham gia vào hoat động quản lý chất thải y tế. Tình trạng chung là các bệnh
viện không có đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham
gia vào thu gom, vân chuyển và tiêu hủy chất thải.
Lưu giữ chất thải
Hầu hết các điểm tập trung rác đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh không
đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập
ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện. Một số nhà lưu giữ rác không có mái che, không có
rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập.
• Mô hình xử lý tại chỗ
Chủ yếu các cơ sở y tế nhỏ như trạm xá xã, phường hay một số bệnh viện tuyến
huyện nhỏ xử lý bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp tại chỗ. Với lò đốt thủ công, gây ô
nhiễm môi trường không khí ảnh hưởng đến sức khỏe của các Y bác sĩ, bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân. Thiết bị lò đốt rác thải y tế, nếu vận hành đúng quy trình thì khí thải
có thể đạt tiêu chuẩn, khi lượng rác cho vào nhiều sẽ sinh ra nhiều khói đen, mùi khó chịu
hiệu quả xử lý không cao gây ảnh hưởng cho khu dân cư và môi trường không khí xung
quanh.
• Mô hình xử lý tập trung
Ngoài các cơ sở đã xử lý tại chỗ trên thì tất cả cơ sở y tế khác đều hợp đồng thuê
vận chuyển và xử lý với một số công ty môi trường như: Công ty cổ phần Môi trường
công nghiệp An Huy, công ty Cổ phần công nghệ môi trường An Sinh, công ty cổ phần
môi trường và công trình đô thị tỉnh Thái Bình, Công ty Cổ phần Môi Trường Xanh Thái
Bình để xử lý chất thải nguy hại và tiêu hủy chất thải thông thường. Hiện tại, Công ty Cổ
phần Môi Trường Xanh Thái Bình hoạt động trong lĩnh vực xử lý môi trường, chuyển
24
giao công nghệ xử lý môi trường và xây dựng. Hiện nay, Công ty đang triển khai dự án
đầu tư xây dựng nhà máy đốt rác phát điện công suất 300 tấn/ngày đầu tiên ở Việt Nam tại
Thành phố Thái Bình theo công nghệ hiện đại Martin của Cộng hòa Liên bang Đức và
đầu tư lĩnh vực xây dựng khu đô thị.
Vận chuyển chất thải y tế ra ngoài cơ sở y tế
Chất thải thông thường : Trên địa bàn thành phố Thái Bình công ty cổ phần môi trường và
công trình đô thị tỉnh Thái Bình chịu trách nhiệm vận chuyển chất thải thông thường từ
các cơ sở y tế đi xử lý tại bãi rác tập trung của thành phố, Công ty có đăng ký giấy phép
hành nghề, có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, đúng quy cách.
Chất thải nguy hại: Các cơ sở y tế hợp đồng với các công ty môi trường Công ty cổ phần