Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh hà nội - Pdf 48

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

—oòo—

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÈ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
THANH TOÁN QUÓC TÉ TẠI NGÂN HÀNG THƯOỈNG
MẠI CỔ PHẦN ĐÀU Tư VÀ PHÁT TRIÉN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HÀ NỘI

SINH VIÊN THỤC HIỆN
MÃ SINH VIÊN CHUYÊN
NGÀNH

LÊ TUẤN LONG A15449
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG


Hà Nội-2013


Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

—oòo—

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


mình trong quá trình viết đề có thể kịp thời sửa chữa nhằm hoàn thiện khóa luận một cách
tốt nhất.
Em cũng xin gừi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Thăng Long, các thầy cô
giáo đang công tác tại bộ môn Kinh tế trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện cho
em hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Ngoài ra em cũng xin cám ơn các cán bộ nhân viên công tác tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam chi nhánh Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu và cung cấp tài
liệu thực tế để em có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất.
Sinh viên
Lê Tuấn Long
MỤC LỤC



Kí hiệu viết tắt

BIDV

L/C

NHNN

Tên đầy đủ
CIF (Customer Information File)

Diễn giải
Là số duy nhất để phân biệt giữa các khách

hàng trong hệ thống SIBS. Mồi khách hàng chi
Ngân hàng Đầu tư và Phát triến Việt Nam

các ngân hàng trên thế giới là thành viên của
SWIFT có thề chuyền tiền hoặc trao đổi thông
tin cho nhau. Mồi thành viên được cấp 1 mã
giao dịch gọi là SWIFT code. Các thành viên
trao đổi thông tin/chuyển tiền dưới dạng các
SWIFT message, là các bức diện được chuẩn
hóa dưới dạng các trường dừ liệu, ký hiệu để
máy tính có thể nhận biết và tự động xử lý
giao dịch.

TF (Trade Finance)

Là hạn mức tín dụng dành cho khách hàng sử
dụng dịch vụ thanh toán quốc tế. Các nghiệp
vụ cần phải có hạn mức TF gồm: phát hành
L/C; sửa đổi L/C tăng tiền; gia hạn L/C; thanh
toán bộ chứng từ trà ngay theo L/C; chấp nhận
bộ chứng từ trả chậm theo L/C; chiết khấu
xuất khẩu; xác nhận L/C; phát hành bào lãnh
trên cơ sở báo lãnh đối ứng.

TF+ (Trade Finance Plus)

Là chương trinh phần mềm máy tính về quản
lý việc gửi/nhận giao dịch tài trợ thương mại
giũa Trung tâm tác nghiệp tài trợ thương mại

TF - filer (Trade Finance filer)

và chi nhánh.

quốc tế giữa các bên tham gia. Thông qua vai trò là trung gian thanh toán giữa các bên, vị thế
của các ngân hàng thương mại được nâng cao không chỉ ở trong nước mà cả trên trường quốc
tế. Tuy nhiên hiện nay, hoạt động thanh toán quốc tế ở các ngân hàng vẫn còn nhiều tồn tại và
hạn chế cần khắc phục.
Cũng như các ngân hàng thương mại khác, hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam ra đời nhầm đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp
và khách hàng trong nước. Song trong quá trình thực hiện, hoạt động thanh toán quốc tế của
ngân hàng cũng bộc lộ một số mặt thiếu sót. Do đó việc tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quá
hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế là diều cần thiết. Bời vậy dề tài:“ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh
toán quốc tế tại Hội sở ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ” đã được chọn làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp.
2.

Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu những lý luận cơ bàn về hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương
mại.
- Phân tích thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế để tìm ra những kết quả và những hạn chế
còn tồn tại trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam chi nhánh Hà Nội từ năm 2010-2012.


- Đe xuất một số giải pháp để khắc phục hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh
toán quốc tế của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Nội, đặc biệt
trong điều kiện kinh tế khó khăn và lạm phát đang ngày càng tăng cao.
3.

Đối tưọiíg và phạm vi nghiên cún




1.1.1 Khái niệm và đặc điếm của hoạt động thanh toán quốc tế
1.1.1.1

Khái niệm thanh toán quốc tế

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, bất kì một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển phải
tăng cường họp tác với các nước trên thế giới. Sự họp tác giữa các nước diễn ra trong nhiều lĩnh
vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, y tế, giáo dục, .... Tuy nhiên trong các mối quan hệ đó thì
hợp tác kinh tế chiếm một vị trí chủ đạo, là cơ sở để mở rộng các mối quan hệ quốc tế khác.
Việc thực hiện các hoạt động quốc tế sẽ dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ờ
hai quốc gia, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) , trong đó các
ngân hàng thương mại (NHTM) cũng tham gia đóng vai trò cầu nối giữa hai bên.
Chính vì vậy, TTQT trở thành một bộ phận không thề thiếu trong hoạt động kinh tế của các
quốc gia. Với tầm quan trọng như vậy, TTQT cần phái được hiểu một cách chính xác và có thể
được định nghĩa như sau: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyển
hưởng lợi về tiến tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tô chức,
cá nhản nước này với tô chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tô chức quốc tế,
thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. (Nguyền Văn Tiến (2010) ,
Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tr. 294) .
Có hai loại thu và chi tiền tệ phát sinh trong thanh toán giữa các quốc gia. Một là, loại thu và
chi tiền tệ phát sinh từ dịch chuyển các dòng vốn giữa các nước trong các hoạt động vay nợ,
viện trợ, đầu tư, biếu tặng, kiều hối. . . Hai là, loại thu và chi tiền tệ giữa các nước nhằm mục
đích thu và trả nợ. Mồi loại thu và chi tiền tệ đó có ý nghĩa, vai trò và bản chất khác nhau trong
TTQT của mỗi quốc gia.
Cùng với xu hướng không ngừng mờ rộng quan hệ thương mại và các mối quan hệ khác giữa
các quốc gia trên thế giới dẫn đến nhu cầu đòi hỏi hoạt động thanh toán quốc tế cũng phải được
mở rộng, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phục vụ tốt hơn.


người cung ứng dịch vụ.

Ba là, hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu dùng
dịch vụ. Bàn thân dịch vụ TTQT là một loại hàng hóa vô
hình. Đối tượng của dịch vụ là tiền tệ tín dụng cũng là
một loại

1
3


hàng hóa vô hình. Cho nên sự hiện diện của cung ứng dịch vụ ờ nước người tiêu dùng dịch vụ
là rất quan trọng.
Hoạt động thanh toán quốc tế là một loại dịch vụ đặc trưng được cung cấp bởi ngân hàng. Hoạt
động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng, dẫn đến việc ngân
hàng tăng được quy mô hoạt động cùa mình, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó
tạo được niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác dược
nguồn vốn tài trợ của ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng phát triển được nghiệp vụ bào lãnh, kinh
doanh ngoại tệ và các dịch vụ khác. Neu hoạt động thanh toán quốc tế được đẩy mạnh thì sẽ
đấy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn
vốn huy động do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ
thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng tăng thu nhập và tăng cường khả năng cạnh
tranh cùa ngân hàng, đồng thời nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia
và hòa nhập với hệ thống ngân hàng thế giới.
c) Hoạt động thanh toán quốc tế chứa đụng nhiều rủi ro tiềm ân
Cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật phục vụ TTQT của các quốc gia không đồng đều. Môi
trường pháp lý của TTQT còn thiếu và chưa đồng bộ, thiếu nhiều luật quốc tế, các tập quán

động TTQT cũng ngày càng được khẳng định. TTQT là một mắt xích không thể thiếu trong
hoạt động kinh tế quốc dân. Đây là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa,
dịch vụ giữa các cá nhân hay tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Neu hoạt động thanh toán
diễn ra nhanh chóng, an toàn, chính xác thì sẽ giải quyết được mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ
giữa người mua và người bán một cách hiệu quả. Điều này góp phần thúc đấy quá trình sản
xuất, dẩy nhanh quá trinh lưu thông hàng hóa trên phạm vi toàn thế giới.
Ngoài ra, TTQT góp phần tìm kiếm và mở rộng các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc
gia, vùng lãnh thồ với nhau. Thêm vào đó hoạt động TTQT làm tăng khối lượng thanh toán
không dùng tiền mặt, thúc đẩy hoạt động đầu tư, thương mại phát triển.
1.1.2.2

Đối với các doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thi diều làm họ quan tâm nhất là làm thế nào đề việc
thanh toán diền ra một cách nhanh chóng, an toàn, chính xác và tiết kiệm tối da chi phí. Bời
vậy, hoạt động TTQT với nhiều phương thức thanh toán khác nhau giúp các doanh nghiệp có
sự lựa chọn phù họp với khả năng tài chính, phù hợp với đặc thù hàng hóa của minh đồng thời
thuận lợi cho đối tác.
NHTM đóng vai trò cung cấp các sản phẩm thuộc hoạt động TTQT cho nhà xuất khẩu (thông
báo L/C, sửa đổi L/C, nhờ thu xuất khẩu, chuyển tiền đến...) và nhà nhập khẩu (phát hành L/C,
nhờ thu nhập khẩu, chuyển tiền đi...)
Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp là nhà xuất khẩu có nhu cầu về vốn thì sẽ được ngân hàng xem
xét và cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu. Khách hàng là nhà nhập
khẩu cũng có thể được vay tiền tài trợ cho hàng nhập khẩu của mình nếu đáp ứng đầy đù điều
kiện cho vay của ngân hàng.

Ngoài ra, cũng thông qua việc thanh toán, ngân hàng có
thể giám sát tình hình kinh doanh của khách hàng, từ đó
có thể đưa ra tư vấn giúp khách hàng điều chinh hoạt
động kinh

như trên thị trường tài chính quốc tế. số lượng, chất lượng các dịch vụ TTQT hay sự chính xác
trong xử lý nghiệp vụ thanh toán,... góp phần củng cố niềm tin của khách hàng, cùa các ngân
hàng nước ngoài đối với ngân hàng. Từ đó, ngân hàng có khá năng nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình trên thị trường thế giới.
1.1.3

Một số phutmg thức thanh toán quốc tế pho hiến

5

Thanq Lonq University Library


Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ nội dung, điều kiện, cách thức để ngân hàng tiến
hành chuyển trả tiền giữa trong nước và nước ngoài. Trên thực tế, hoạt động TTQT phần lớn
xuất phát từ lĩnh vực ngoại thương nên khái niệm phương thức thanh toán quốc tế trong ngoại
thương được hiểu là toàn bộ quá trình, điều kiện quy định để người mua trả tiền và nhận hàng,
còn người bán giao hàng và thu tiền theo hợp đồng ngoại thương trong đó ngân hàng đóng vai
trò là trung gian thực hiện thanh toán giữa hai bên.
Trong các hợp đồng ngoại thương, việc sử dụng phương thức thanh toán nào sẽ được quy định
cụ thể trong hợp đồng sau khi các bên liên quan đã thỏa thuận với nhau.
Dưới đây là một số phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến:

1.1.3.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thúc thanh toán trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân
hàng phục vụ mình chuyến một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một
địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định. (Nguyễn Văn Tiến (2010) , Thanh toán
quốc tế và tài trợ ngoại thương, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tr.331)
Mỗi quốc gia đều có những văn bản pháp luật riêng về phương thức chuyển tiền. Như ờ Việt
Nam, hiện nay pháp luật quy định cho phép người nhận tiền chuyển từ nước ngoài không giới

báo Nợ cho nhà nhập khẩu.
Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán (bang M/T hay T/T) cho ngân hàng trá tiền
để chuyển trá cho người thụ hường.
Bước 5: Ngân hàng trả tiền ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng, đồng thời gừi giấy báo
Có cho người thụ hường.
Phương thức chuyền tiền có ưu điểm là: thủ tục chuyển tiền đơn giàn, tạo thuận lợi cho người
chuyển tiền; thời gian chuyển tiền ngắn nên người thụ hường có thề nhanh chóng nhận được
tiền.
Bên cạnh một số ưu điểm trên, phương thức này có nhược điểm sau:

Đối vói chuvến tiền trước: phương thức này chi có lợi cho người xuất khẩu, bất lợi cho
người nhập khẩu vỉ người nhập khẩu phái chuyển tiền trước hoặc đặt cọc một phần số tiền rồi
mới được nhận hàng. Như vậy rủi ro khi hàng đến sai với mô tá, giao hàng thiếu hoặc bên bán
lờ giao hàng có thể xảy ra.
7

Thanq Lonq University Library


Đối vói phưong thức chuvển tiền sau: Chi có lợi cho người nhập khẩu, bất lợi cho người xuất
khẩu vì người nhập khẩu nhận được hàng mới phái trả tiền. Vì thế người xuất khẩu cần tìm giải
pháp phòng ngừa rủi ro trong trường họp nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm trề trong
thanh toán.
Vì vậy, căn cứ vào ưu điếm và đặc điểm của phương thức chuyển tiền, doanh nghiệp có thể
chọn phương thức sao cho có lợi nhất.
Đối với phương thức trên, trong trường hợp hai bên làm ăn với nhau lâu dài, có sự tín nhiệm
cao, thường xuyên trao đổi các món hàng hóa với số lượng lớn thì việc chuyển tiền sẽ phái thực
hiện rất nhiều lần. Điều này sẽ gây mất thời gian cho cả đôi bên. Khi đó, các doanh nghiệp có
thể lựa chọn phương thức ghi sổ để tránh sự phiền hà này.
1.1.3.2Phương thức ghi so (Open Account)


Hai bên có quan hệ mua bán thường xuyên và có sự tin cậy lẫn nhau
Nhà xuất khẩu gửi hàng cho nhà nhập khẩu/đại lý phân phối ở nước ngoài bán.
Thanh toán phí dịch vụ như cước phí vận tải, bảo hiểm, bưu điện, tiền hoa hồng, phí ủy
thác, lãi cho vay hoặc lợi tức dầu tư.

Như vậy phương thức này rất tiện dụng trong trường họp các đối tác có sự tin cậy lẫn nhau
và mua bán thường xuyên, tuy nhiên nó không giải quyết được những nhược điểm

9

Thanq Lonq University Library


mà phương thức chuyền tiền mắc phải. Đe giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp phải tim đến
phương thức khác, đó là phương thức nhờ thu.

1.1.3.3 Phương thức nhờ thu (Collection of Payment)
Nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó bên bán sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiến cùa bên mua trên cơ sở hối phiếu do người bán lập
(Nguyễn Văn Tiến (2010), Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương, Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội, tr. 340).
Phương thức nhờ thu có liên quan đến chứng từ gửi đi nhờ thu nên theo quy định của URC 522 (Quy
tắc thống nhất về nhờ thu - Uniform Rules for Collection) chứng từ nhờ thu là các chứng từ tài chính
hoặc chứng từ thương mại. Chứng từ tài chính (financial documents) bao gồm hối phiếu, kì phiếu, séc
hoặc các chứng từ tương tự nhằm mục đích chi trá. Còn chứng từ thương mại (commercial
documents) gồm có hóa đơn thương mại, chứng từ bào hiểm, giấy chứng nhận xuất xứ, giấy kiểm
định, ...liên quan đến tính chất của hàng hóa.
Theo quy định 1346/2001/QĐ-NHNN ban hành, thủ tục nhờ thu thương phiếu không dược áp dụng
cho trường họp sau:

nhập khẩu.
Bước 3: Ngân hàng nhờ thu gửi thư ủy thác nhờ thu kèm chứng từ tài chính tới ngân hàng thu hộ để thu tiền từ nhà
nhập khẩu.
Bước 4: Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu đến nhà nhập khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu thực hiện nghĩa vụ
thanh toán của mình.
Bước 5: Nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho nhà xuất khấu thông qua ngân hàng.
Bước 6: Ngân hàng thu hộ chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kì hạn đã chấp nhận cho ngân hàng nhờ thu.
Bước 7: Ngân hàng nhờ thu chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kì hạn đã chấp nhận cho nhà xuất khẩu.
Với quy trình thanh toán nhờ thu trơn như trên, trong quá trình thực hiện, rủi ro chù yếu thuộc về phía nhà xuất
khẩu, tức là người được hưởng lợi:
Do việc trả tiền trong nhờ thu trơn không căn cứ vào chứng từ thương mại nên rủi ro chủ yếu thuộc về họ trong
trường hợp nhà nhập khấu không có khá năng thanh toán hay chậm trễ trong việc thanh toán do năng lực tài chính
kém.

II

Thanq Lonq University Library


Đe hạn chế rủi ro này, nhà xuất khẩu cần có điều khoản chế tài quy định trong các Họp đồng cơ
sở, Lệnh nhờ thu và Thư nhờ thu. Ví dụ: Trong họp đồng cơ sờ, hai bên cần thỏa thuận thời hạn
cụ thể phải trả tiền, nếu trá chậm thì phái bị phạt lãi trả chậm.
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): là phương thức thanh toán trong đó chứng
từ gửi di nhờ thu gồm: hoặc chứng từ tài chính và chứng từ thương mại; hoặc chi chứng từ
thương mại. Ngân hàng chi trao bộ chứng cho nhà nhập khẩu khi nhà nhập khẩu đã thực hiện
nghĩa vụ trả tiền hay chấp nhận trả tiền hay thực hiện các quy định khác trong Lệnh nhờ thu.
Nhờ thu kèm chứng từ gồm có 3 hình thức sau:
+ D/A (Documents against Acceptance): ngân hàng chi đưa bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu khi
nhà nhập khẩu kí chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu.
+ D/P (Documents against Payment): ngân hàng chi đưa bộ chứng từ nhận hàng cho nhà nhập

Nhờ thu kèm chứng từ có một số ưu điểm sau:
- Đối với nhà xuất khẩu: nhà xuất khẩu có thể chắc chắn rằng bộ chứng từ chi được trao cho
nhà nhập khẩu khi nhà nhập khẩu đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hoặc đã thực hiện
đầy đủ các điều khoản khác (D/OT). Trong trường họp nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc
không chấp nhận thanh toán, nhà xuất khẩu cần ủy thác ngay cho cơ quan nào đó hoặc ngân
hàng đại lý lưu kho lô hàng bị từ chối thanh toán.
- Đối với nhà nhập khẩu: nhà nhập khẩu có thể kiểm tra bộ chứng từ tại ngân hàng xuất trinh
trước khi thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Trong trường hợp trao chứng từ theo D/A, nhà
nhập khấu được sử dụng hay bán hàng hóa mà chưa phải thanh toán nếu như chưa đến hạn
thanh toán.
Bên cạnh những ưu điểm trên, nhờ thu kèm chứng từ có một số rủi ro là:
-

-

Đối với nhà xuất khẩu:
+ Khi nhà nhập khẩu không chấp nhận thanh toán, không nhận hàng, nhà xuất khẩu sẽ phái
chịu mọi chi phí liên quan tới việc chuyển hàng về.
+ Các ngân hàng chi đóng vai trò trung gian thu hộ, thu được bao nhiêu, có thu được hay
không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí nhà nhập khẩu. Do đó rất có khả năng nhà xuất
khẩu sẽ không được nhà nhập khẩu trả tiền
Đối với nhà nhập khẩu: rủi ro có thể xảy ra khi:

13
+ Nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ giả hay có hành vi gian lận thương mại, các ngân hàng
không chịu trách nhiệm nếu chứng tử là già mạo, có sai sót hay không khớp với hàng
hóa.


Phương thức nhờ thu đã có sự ràng buộc nhất định đối với hai bên khi tiến hành buôn bán trao

TTQT vì quyền lợi của nhà xuất khẩu được đảm báo khi sử dụng L/C này.
- L/C xác nhận (Confirm Letter of Credit): là một L/C không thể hủy bỏ, được một ngân hàng
khác xác nhận đàm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mờ L/C. Trách nhiệm trả tiền L/C



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status