Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
LỜI MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của
nền kinh tế thị trường. Có thể nói rằng không có cạnh tranh thì cũng không thể
có nền kinh tế thị trường. Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh
tranh trở thành một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường. Trong thời gian
qua, cùng với chính sách đổi mới, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích và
tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia kinh doanh trong thị trường. Từ đó,
cạnh tranh ngày càng trở nên mạnh mẽ trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền
kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng
mức độ cạnh tranh, đã xuất hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, Quốc hội đã giao
nhiệm vụ cho Chính phủ xây dựng Luật Cạnh tranh nhằm điều tiết các hành vi cạnh
tranh, hạn chế và ngăn ngừa những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, duy trì môi
trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo các cơ hội cạnh tranh cho các doanh nghiệp,
sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Với mục đích muốn tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về lĩnh
vực pháp luật này, trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp đại học, em đã chọn đề
tài: “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn.”
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh.
Chương 2: Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật chống cạnh tranh không lành
tranh trong các mối quan hệ giữa họ với người tiêu dùng...”[9].
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức (1909), một trong
những đạo luật ra đời sớm nhất điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, tại Điều 1 đã khẳng định: “Người nào trong các giao dịch kinh doanh mà
thực hiện các hành vi trái với thuần phong mỹ tục, thì có thể bị yêu cầu chấm
dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại”. Luật cũng đã liệt kê những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh như: Quảng cáo so sánh, quảng cáo trái với thuần
phong mỹ tục, hành vi làm hàng nhái...[10].
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa quy định: “Cạnh tranh không lành mạnh là hoạt động của doanh nghiệp
trái với quy định của luật này, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của
doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tự kinh tế - xã hội...”[11].
Như vậy, mặc dù chưa có khái niệm nào đầy đủ và bao quát nhất nhưng
qua tìm hiểu hệ thống pháp luật của một số quốc gia, chúng ta bước đầu đã hình
dung được “diện mạo” của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
Bên cạnh hệ thống pháp luật của các quốc gia, những Điều ước quốc tế có
liên quan cũng đưa ra những cách hiểu về hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
trong đó phải kể đến Công ước Paris 1883 về Quyền sở hữu công nghiệp, một
trong những điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, tại Điều 10 Bis Công ước đã đưa ra khái niệm về
các hành vi này, theo đó: “Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh
tranh không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh
doanh, được tiến hành trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhằm hưởng
lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của người khác hoặc gièm pha đối
tượng áp dụng, có thể thấy đối tượng áp dụng của Luật này là các tổ chức, cá nhân
kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) và các hiệp hội ngành nghề hoạt động tại
Việt Nam, do đó chủ thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ có thể là các
doanh nghiệp, hiệp hội, còn các cá nhân khác cho dù có thực hiện những hành vi có
dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng không được coi là chủ thể
của hành vi này, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh.
Mặt khác, các chủ thể này phải thực hiện hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, còn các
hành vi nằm ngoài chức năng kinh doanh của chủ thể thì không được coi là hành
vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải nhằm mục đích cạnh tranh.
Có thể thấy cạnh tranh là một vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường. Quy luật cạnh tranh cũng giống như những quy luật tồn
tại và đào thải của tự nhiên, nó luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh.
Do đó để thu được nhiều lợi nhuận, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh với
nhau và đôi khi họ sử dụng cả những cách thức, phương pháp mà pháp luật
không cho phép, xâm phạm đến lợi ích của các đối thủ khác. Mục đích cạnh
tranh là yếu tố bắt buộc để xác định một hành vi là cạnh tranh lành mạnh hay
không lành mạnh. Nếu hành vi của Doanh nghiệp, hiệp hội không nhằm mục
đích cạnh tranh thì đó không phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
không thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này.
Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với các chuẩn
mực thông thường về đạo đức kinh doanh.
Chuẩn mực về đạo đức kinh doanh là một khái niệm mang tính chất trừu
tượng và rất khó xác định, nó phụ thuộc vào quan niệm, truyền thống kinh
doanh của từng quốc gia, từng vùng miền. Một hành vi ở nơi này có thể bị coi là
vi phạm đạo đức kinh doanh nhưng ở nơi khác lại không. Tuy nhiên hành vi
cạnh tranh không lành mạnh thường được hiểu là đi ngược lại với pháp luật,
thông lệ, tập quán kinh doanh.
tranh lành mạnh
a. Phân biệt cạnh tranh không lành mạnh với hạn chế cạnh tranh
Hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đều là các hành vi gây
tổn hại đến hoạt động cạnh tranh trên thị trường, cần phải loại bỏ và được quy
định trong pháp luật cạnh tranh của hầu hết các nước trên thế giới.
Tại Việt nam, theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004:
“Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch,
cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập
trung kinh tế”.
Xét về mức độ phức tạp và nguy hại cho thị trường thì hành vi hạn chế
cạnh tranh ở mức độ cao hơn và nguy hiểm hơn so với hành vi cạnh tranh không
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
lành mạnh đơn thuần. Có thể thấy chế định về hạn chế cạnh tranh bao gồm tổng
thể các quy định của pháp luật thể hiện sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước
nhằm kiểm soát, giới hạn hoặc cấm đoán tất cả các thỏa thuận, liên kết dẫn đến
sự hạn chế hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh, giảm sút các chủ thể đang nắm giữ vị trí
có quyền lực thị trường, hạn chế sự cạnh tranh trong một tương quan hợp lý với
lợi ích chung của toàn xã hội. Do việc triệt tiêu quy luật cạnh tranh, thao túng
một ngành, một lĩnh vực của hoạt động sản xuất, kinh doanh, những hành vi này
phá vỡ tương quan và cơ cấu thị trường, gây suy giảm sản xuất, đơn điệu trong
kinh doanh dịch vụ, tác động tiêu cực đến thị trường và xã hội. Do đó các biện
pháp chế tài được áp dụng đối với loại hành vi này thường nghiêm khắc và
cương quyết hơn. Nhà nước chủ động can thiệp nhằm loại bỏ các hành vi hạn
chế cạnh tranh mà không cần phải có chủ thể khiếu kiện.
loại khác nhau phụ thuộc vào tiêu chí cũng như mục đích phân loại. Căn cứ vào
lợi ích của chủ thể bị xâm hại, người ta có thể phân loại thành hành vi xâm hại
lợi ích của đối thủ cạnh tranh và hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng.
a. Những hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh.
Theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004 thì những hành vi thuộc nhóm
này có thể được biểu hiện dưới những hình thức như: Xâm phạm bí mật kinh
doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp khác, đưa ra các chỉ dẫn gây nhầm lẫn, ép buộc trong kinh doanh...Mục
đích của các chủ thể khi thực hiện hành vi này thường là hạ thấp uy tín, làm thiệt
hại đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp khác. Đây là hành vi rất đáng lo ngại vì
nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp trong quá trình
cạnh tranh mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng và về lâu dài nó sẽ gây
ra những xáo trộn trong trật tự quản lý kinh tế - xã hội. Vì vậy, cần thiết phải có
những biện pháp phù hợp để điều chỉnh những hành vi thuộc nhóm này.
b. Những hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng
Có thể thấy khách hàng là chủ thể không thể thiếu trong nền kinh tế thị
trường và việc lôi kéo khách hàng về phía mình là công việc quan trọng nhất của
mỗi doanh nghiệp, bởi lẽ mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp chính là lợi nhuận.
Trong quá trình cạnh tranh, bên cạnh những cách thức hợp pháp, lành mạnh, để
đạt được lợi nhuận, các doanh nghiệp sẵn sàng bỏ qua lợi ích của khách hàng
bằng hành vi gây cho họ những thiệt hại nhất định về quyền tự do lựa chọn, về
sức khỏe, thậm chí là tính mạng nhằm mục đích cạnh tranh. Ở Việt Nam hiện nay,
tuy đã thành lập hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng (VINATAS) nhưng tổ chức này
chưa được quản lý chặt chẽ nên chưa phát huy được vai trò của nó, chưa thực sự
trở thành địa chỉ tin cậy của khách hàng và vì vậy, người tiêu dùng vẫn là “nạn
nhân”, là mục tiêu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng, Luật Cạnh tranh 2004 cũng quy định
một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến người tiêu dùng như:
chỉ dẫn gây nhầm lẫn, khuyến mại gian dối, quảng cáo gian dối...Tất cả những
hành vi này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng, làm cho
nền kinh tế. Cùng với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên tục
sửa đổi để phù hợp với thực tiễn. Luật Cạnh tranh có thể được gọi theo nhiều
cách khác nhau như Luật cạnh tranh – Competition Law của Anh, Luật chống
độc quyền – Anti monopoly Act của Nhật Bản, Luật Thương mại lành mạnh –
Fair Trade Law của Đài Loan... nhưng tất cả đều có một mục đích chung là duy
trì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho phép các thực thể kinh
doanh có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thị trường. Bảo vệ
người tiêu dùng thông qua việc khuyến khích hạ giá và cải thiện chất lượng sản
phẩm được xem như một hệ quả của cạnh tranh tự do và lành mạnh trên thị trường.
Trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau về luật cạnh tranh. Hoa Kỳ
được coi là quốc gia khởi xướng ngành luật này đã định nghĩa: “Luật cạnh tranh
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
là công cụ tự vệ của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường, xuất
phát từ học thuyết chủ đạo coi cạnh tranh là mục đích”[14].
Ở Châu Âu, cạnh tranh chỉ được nhìn nhận là phương tiện, Luật Cạnh
tranh được hiểu là “tổng hợp các quy phạm pháp luật áp dụng với các tác nhân
kinh tế trong hoạt động cạnh tranh nhằm đảm bảo cho cạnh tranh diễn ra trên
thị trường một cách hợp lý, tức là không thái quá”[14].
Như vậy, các khái niệm trên về Luật Cạnh tranh đều thể hiện một điểm
chung: pháp luật cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều tiết và
kiểm soát cạnh tranh nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, hợp pháp, bảo
vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của doanh nghiệp và của người tiêu dùng, góp phần
thúc đẩy kinh tế xã hội. Pháp luật cạnh tranh là công cụ của Nhà nước để đảm
bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
b. Cơ cấu của pháp luật cạnh tranh
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh hay kiểm soát độc quyền thường bao
gồm những nội dung chủ yếu sau: cấm cartel, kiểm soát sáp nhập, kiểm soát việc
lạm dụng quyền lực thống lĩnh thị trường... với mục đích lớn nhất là bảo vệ cơ
cấu và tổng quan thị trường, bảo vệ cơ chế cạnh tranh và môi trường cạnh tranh
lành mạnh.
Do tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi hạn chế cạnh tranh hay
độc quyền mà pháp luật các nước thường quy định việc kiểm soát chặt chẽ cùng
các chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi này.
Thứ hai, Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ra đời sớm hơn pháp luật
chống hạn chế cạnh tranh. Khi mới ra đời, khái niệm pháp luật cạnh tranh được
hiểu đồng nghĩa với pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh theo cách hiểu
ngày nay.
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được bắt đầu từ nước Pháp.
Mặc dù không có đạo luật riêng về lĩnh vực này nhưng trong các quy định tại
Điều 1382 và 1383 của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (1840) đã có các quy
định về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh.
Ở Italia, liên quan đến chống cạnh tranh không lành mạnh có quy định tại
các điều 1151, 1152 của Bộ luật Dân sự 1865, sau đó được bổ sung thành những
nguyên tắc chung ở các điều 2598, 2601 của Bộ luật Dân sự 1942. Đến năm
1990, ở Italia đã ban hành Luật Cạnh tranh và kinh doanh lành mạnh (có hiệu
lực từ ngày 10/10/1990) [15. tr73].
Tại Đức, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh được ban hành vào năm
1909. Luật này ngăn cấm tất cả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
kinh doanh nhằm mục đích trấn áp các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo
hộ nhà sản xuất, người tiêu dùng và công chúng. [16]
Đến nay, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đã có được vị trí
quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia ở khắp các khu vực trên
thế giới, tiêu biểu là Luật Cạnh tranh của Nhật Bản 1938, của Trung Quốc 1993,
soát sự độc quyền trong kinh doanh là việc làm cần thiết.
Có thể thấy, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh - một bộ phận
của pháp luật cạnh tranh, có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc
đẩy quá trình cạnh tranh tự do hay bảo vệ hoặc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
Luật cạnh tranh bảo vệ và khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh,
hợp tác bình đẳng trong một khuôn khổ pháp luật chung, điều tiết mặt trái của
cạnh tranh bằng cách kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường,
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
độc quyền của doanh nghiệp, chống các hành vi gây cản trở cạnh tranh, cũng
như thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường. Vì vậy, thách
thức đặt ra đối với doanh nghiệp đó là buộc doanh nghiệp phải chấp nhận
cạnh tranh một cách văn minh hơn, bài bản hơn, và sẽ không có đất dung thân
cho các doanh nghiệp làm ăn chụp giật. Các doanh nghiệp lớn sẽ phải cẩn
thận hơn trước khi đưa ra những quyết định quan trọng trong kinh doanh, bởi
lẽ những quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đáng kể tới thị trường và sẽ được
giám sát chặt chẽ.
Thứ hai, điều tiết quá trình cạnh tranh, tôn trọng và đảm bảo quyền lợi
hợp pháp của người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của chủ thể kinh doanh, Nhà
nước và xã hội.
Thị trường hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa người mua và
người bán, hay rộng hơn là người sản xuất và người tiêu dùng dưới quy luật
cung - cầu và quy luật giá trị. Trong mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn
ở vị trí trung tâm. Họ có quyền lựa chọn hàng hóa cũng như người cung ứng
hàng hóa và trả tiền cho sự lựa chọn đó. Tuy nhiên, quyền lựa chọn của họ
không lành mạnh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước năm 1986, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, toàn bộ hoạt động của nền kinh tế cũng như của từng doanh
nghiệp đều tuân thủ theo một kế hoạch đã định trước, các chỉ tiêu pháp lệnh
được phân bổ để thực hiện kế hoạch đều bắt buộc phải thực hiện. Nền kinh tế
chỉ bao gồm hai thành phần cơ bản là thành phần kinh tế thuộc sở hữu nhà nước
(doanh nghiệp nhà nước) và thành phần kinh tế thuộc sở hữu tập thể (hợp tác
xã). Thành phần kinh tế tư nhân luôn bị cải tạo, thu hẹp và bị xóa bỏ. Thời kỳ
này không có môi trường cho cạnh tranh tồn tại và phát triển.
Sau năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế theo hướng phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường,
dưới sự quản lý của Nhà nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng khởi xướng, các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau cùng tồn tại bình đẳng. Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận tại
Hiến pháp 1992 với sự đa dạng về các thành phần kinh tế được thừa nhận và
được tạo điều kiện để phát triển đã tạo ra và thúc đẩy môi trường cạnh tranh phát
triển. Cạnh tranh không còn là hiện tượng mới mẻ trong nền kinh tế. Thực tiễn
đó buộc Nhà nước ta phải ban hành các văn bản pháp luật để điều tiết nó.
Bên cạnh những nguyên tắc chung về cạnh tranh được quy định tại Hiến
pháp 1992 và Bộ luật Dân sự 1995 thì cạnh tranh trong kinh doanh còn phải tuân
thủ các nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, tôn trọng lợi ích công cộng,
tôn trọng quyền và lợi ích của người khác, tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt
đẹp, tôn trọng quyền nhân thân. Vi phạm quyền nhân thân, lợi dụng uy tín, gièm
pha, ép buộc trong kinh doanh,.. gây thiệt hại cho người khác là những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm các nguyên tắc cơ bản tại Điều 2, Điều 4
và Điều 5 Bộ luật Dân sự 1995.
Luật Thương mại năm 1997 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy
định trực tiếp về quyền cạnh tranh của thương nhân trong hoạt động thương mại.
nghiệp vừa và nhỏ.
Đứng trước đòi hỏi của thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội trong nước và
đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sau nhiều năm khởi
xướng xây dựng cơ chế kinh tế thị trường và thực thi chính sách cạnh tranh,
ngày 03/12/2004, tại kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Cạnh
tranh. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/07/2005.
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Ở VIỆT NAM
2.1. Các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh 2004, hành vi cạnh tranh
không lành mạnh bao gồm:
2.1.1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Sử dụng những chỉ dẫn gây nhầm lẫn có thể coi là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh phổ biến nhất hiện nay. Hành vi này thường là sự cố ý của
doanh nghiệp nhằm làm cho khách hàng bị nhầm lẫn giữa những nhà sản xuất,
hàng hóa, dịch vụ với nhau. Nhằm ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh giữa
các doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quyền kinh doanh hợp pháp của các chủ
về phần chữ: Cấu tạo, cách phát âm và tương tự cả về cách trình bày, bố cục,
màu sắc. Trông bề ngoài, nếu không để ý sẽ khó phát hiện hai gói trà chanh này
là do hai công ty khác nhau sản xuất. Một số người tiêu dùng được hỏi thì cho
rằng, cả Freshtea và Nestea cùng là sản phẩm của công ty Nestle vì trông chúng
rất giống nhau. [26]
Tình trạng sao chép kiểu dáng, mẫu mã còn phổ biến ở rất nhiều mặt hàng
trên thị trường như các sản phẩm bánh kẹo, bia rượu, thuốc lá, đặc biệt là các
sản phẩm trong lĩnh vực thời trang và rượu ngoại.
Có thể thấy đây là hành vi mang tính phổ biến nhất hiện nay, nó làm rối
loạn thị trường trong nước, làm cho các doanh nghiệp phải mất thời gian, tiền
bạc trong việc khiếu nại giành giật lại thương hiệu của mình, đồng thời quyền
lợi của khách hàng cũng bị xâm hại một cách nghiêm trọng. Do đó, cần phải có
những biện pháp cụ thể, kịp thời để nhanh chóng ngăn ngừa và xử lý các hành vi
này, nhất là trong điều kiện nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập quốc tế
hiện nay thì yêu cầu này càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
2.1.2. Xâm phạm bí mật kinh doanh
Theo khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004, bí mật kinh doanh là thông
tin có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, không phải là hiểu biết thông thường, nghĩa là các hiểu biết này
phải mang tính chất nghiệp vụ, kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh cụ thể.
Thứ hai, có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ
tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi hơn so với người không nắm giữ hoặc
không sử dụng thông tin đó.
Thứ ba, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông
tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
Như vậy, muốn xác định một thông tin là bí mật kinh doanh thì phải
chứng minh được thông tin đó có đủ ba thuộc tính trên.
Điều 41 Luật Cạnh tranh 2004 cấm các doanh nghiệp thực hiện các hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh dưới các hình thức sau:
lợi dụng quan hệ sẵn có để lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có trách nhiệm bảo
mật nhằm lấy được thông tin bảo mật về bí mật kinh doanh và sau đó tiết lộ thông
tin đó cho người thứ ba thì cũng bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh.
Thứ tư, tiếp cận, thu thập các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người
khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh
doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp
bảo mật của các cơ quan nhà nước, hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục
đích kinh doanh, mục đích xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu
hành sản phẩm.
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
Trong quá trình kinh doanh, từ sản xuất, lưu thông đến tiêu thụ sản phẩm,
nhiều lúc doanh nghiệp phải thực hiện những thủ tục tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật và trong nhiều trường hợp, doanh
nghiệp phải tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của mình để thực
hiện thủ tục đó. Đây là cơ hội thuận lợi để những đối thủ cạnh tranh của doanh
nghiệp tiếp cận thông tin bằng nhiều cách như mua chuộc nhân viên của cơ quan
nhà nước hoặc thâm nhập vào mạng máy tính của cơ quan đó, sau đó sử dụng
những thông tin này để kinh doanh hoặc lập hồ sơ xin phép thành lập liên quan
đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm. Việc pháp luật quy định chế định này
là điều rất cần thiết, một mặt nó nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện những thủ tục liên quan đến bí
mật kinh doanh, mặt khác nó đảm bảo cho doanh nghiệp yên tâm khi thực hiện
những thủ tục đăng kí theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, pháp luật nói chung và pháp luật cạnh tranh nói riêng đều có
những chế định nghiêm khắc để cấm việc thực hiện những hành vi này. Tuy
thể cụ thể, xác định.
Thứ hai, cưỡng ép đối tác kinh doanh và khách hàng của doanh nghiệp là
đối thủ cạnh tranh. Biểu hiện của hành vi này là việc sử dụng những lợi ích vật
chất, đưa ra điều kiện liên quan đến công việc, đưa ra những lời hứa hẹn hấp
dẫn... để đặt doanh nghiệp, khách hàng vào tình thế bị động, làm cho họ không
có sự lựa chọn nào khác trong cách xử sự của mình, do đó không thể biểu hiện ý
chí một cách đúng đắn được.
Như vậy, điều luật này quy định nghiêm cấm việc ép buộc trong kinh
doanh nhằm ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp
đối với đối thủ cạnh tranh, đồng thời bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các
chủ thể kinh doanh trên thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng.
2.1.4. Gièm pha doanh nghiệp khác
Điều 43 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gièm pha
doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không
trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đó”.
Gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
tương đối phổ biến trong hoạt động kinh doanh, nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
hoặc kìm hãm sự phát triển kinh doanh của đối thủ cạnh tranh thông qua việc
giảm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp đó. Hành vi này
được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể từ đơn giản đến phức tạp,
trực tiếp hoặc gián tiếp. Trên thực tế đã có rất nhiều vụ gièm pha doanh nghiệp
khác dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọng. Vào giữa tháng 10/2003, sau khi có
tin đồn ông Phạm Văn Thiệt – Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Á
Châu (ACB) thụt két một khoản tiền lớn rồi bỏ trốn, các khách hàng của Ngân
hàng này đổ xô đến rút tiền với gần 100 tỷ VND trong vòng một tuần lễ, chính
điều này đã đẩy ACB vào tình trạng bị áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt của
Ngân hàng Nhà nước, mặc dù sau đó ông Mai Đức Thúy – Thống đốc Ngân
doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Qua đó cho thấy, hành vi gây rối hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp khác được biểu hiện dưới hai hình thức:
Thứ nhất, hành vi nhằm cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác. Hành vi này thường được biểu hiện dưới hình thức tác động trực tiếp đến
nguồn cung cấp nguyên vật liệu, cản trở việc tiêu thụ hàng hóa, ép giá, gây
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
nhiễu hệ thống thông tin liên lạc...làm cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăn
trong kinh doanh.
Thứ hai, những hành vi làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Hành vi này có thể được biểu hiện bằng việc thực hiện những cách thức
như phá hoại máy móc công nghệ làm cho quá trình kinh doanh bị gián đoạn và
doanh nghiệp phải mất một thời gian dài mới hoạt động trở lại được; hành vi
mua chuộc, dụ dỗ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ cao làm cho doanh
nghiệp rơi vào tình trạng không thể tiến hành hoạt động kinh doanh được; hoặc
cũng có thể là hành vi kích động, xúi giục công nhân bãi công đình công làm
cho hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ. Một ví dụ điển hình đã xảy ra trên thực
tế có thể kể đến là sự việc công ty taxi Tân Hoàng Minh (V20) bị các doanh
nghiệp khác cấu kết và gây rối hoạt động kinh doanh bằng cách sử dụng thiết bị
thu phát sóng cùng tần số làm nhiễu tín hiệu liên lạc tổng đài trong giờ cao
điểm, do đó các nhân viên điều hành không thể liên lạc được với lái xe, làm cho
các giao dịch bị gián đoạn trong một thời gian, lượng khách hàng ngày cũng vì
thế mà giảm đi khoảng 40-60%, gây thiệt hại trên 20 triệu đồng/ngày.[28]
Như vậy, Luật Cạnh tranh 2004 đã bước đầu ghi nhận gây rối hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnh cần
gây ra sự phản ứng của đối thủ cạnh tranh.
Hai là, quảng cáo so sánh có tính chất phủ định, tự cho rằng sản phẩm của
mình có chất lượng vượt xa các sản phẩm cùng loại khác. Hình thức quảng cáo
này hiện nay diễn ra một cách tràn lan, chúng ta dễ dàng bắt gặp như: “Comfort
tinh chất mới đậm đặc hơn, thơm lâu hơn gấp 4 lần nước xả vải thông thường”;
“Bột giặt Ômô tẩy sạch vết bẩn ngay trong lần giặt đầu tiên, cả những chỗ mà
bột giặt thường không thể lui tới được”... Với những khẩu hiệu đầy ấn tượng
như vậy, các doanh nghiệp đã tự cho mình là số 1 và phủ định chất lượng của
những sản phẩm cùng loại khác của các đối thủ cạnh tranh mà không hề có một
căn cứ nào.
Thứ hai, bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho
khách hàng.
Việc bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác có thể thông qua hình ảnh
quảng cáo, nội dung quảng cáo... tương tự làm cho người tiêu dùng nhầm tưởng
sản phẩm đang quảng cáo là sản phẩm đã được quảng cáo trước đó. Hoạt động
bắt chước một sản phẩm quảng cáo rất dễ gây nhầm lẫn với sản phẩm bị bắt
chước, dẫn đến định hướng sai hành vi mua bán của khách hàng nên bị coi là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, hành vi bắt chước một sản
phẩm quảng cáo khác phải đi kèm với mục đích của hành vi là gây nhầm lẫn cho
khách hàng hoặc hành vi gây ra hậu quả là gây nhầm lẫn cho khách hàng thì mới
có thể kết luận đó là hành vi bị cấm trong Luật Cạnh tranh.
Thứ ba, đưa những thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về
một trong các nội dung như: Giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng,
chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
mại và cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khuyến mại sau:
Thứ nhất, tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng.
Khóa luận tốt nghiệp
– KT30D
Đây là hình thức phổ biến và đa dạng trên thực tế. Các doanh nghiệp
thường tổ chức các đợt khuyến mại rầm rộ, đặc biệt là vào các dịp lễ tết nhưng
rất ít khi những giải thưởng lớn như giải nhất, giải đặc biệt đến được tay người
tiêu dùng. Điển hình là đầu năm 2001, trong chương trình khuyến mại của công
ty sữa Foremost tổ chức từ 15/01/2001 cũng có những vấn đề đáng bàn: Giải
thưởng lớn nhất mà Công ty đưa ra là 100 triệu đồng khi hộp sữa của khách
hàng có ba ngôi sao bên trong. Thế nhưng, hai khách hàng tại Kontum và Thành
phố Hồ Chí Minh đều có hộp sữa có ba ngôi sao lại chỉ được “khuyến khích”
bằng một máy ảnh trị giá 1,5 triệu đồng với lý do là ba ngôi sao của họ không
nằm liền nhau mặc dù trước đó Hãng không hề đưa ra tiêu chí này[29].
Thứ hai, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa,
dịch vụ để lừa dối khách hàng.
Khuyến mại không trung thực là việc đưa ra các thông tin khuyến mại
hàng hóa, dịch vụ gian dối nhằm “đánh lừa” khách hàng để khách hàng tiếp cận
hàng hóa, dịch vụ đó. Ví dụ: hành vi đặt giá hàng hóa, dịch vụ ở mức quá cao
sau đó đưa ra chính sách khuyến mại giảm giá mạnh để khách hàng nhầm tưởng
hàng hóa giá rẻ.
Khuyến mại gây nhầm lẫn cho khách hàng về hàng hóa, dịch vụ có thể là
việc đưa ra những thông tin khuyến mại không chính xác về chất lượng hàng
hóa, dịch vụ bằng cách đưa ra những thông tin mập mờ hoặc những cách khác
“che mắt” người tiêu dùng. Ví dụ như hàng tồn kho, hàng kém chất lượng nhưng
thông tin khuyến mại đã làm cho khách hàng, người tiêu dùng nhầm tưởng hàng