ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU TRANG
QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG NGHIÊN CỨU NHÂN
CÁCH CON NGƢỜI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU TRANG
QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG NGHIÊN CỨU NHÂN
CÁCH CON NGƢỜI VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: CNDVBC & CNDVLS
: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Xác nhận của chủ tịch Hội đồng
1.3. Nghiên cứu nhân cách con ngƣời Việt Nam ............................................................ 18
1.3.1. Nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học ........................................................................... 18
1.3.2. Nghiên cứu dưới góc độ đạo đức học ........................................................................ 21
1.3.3. Nghiên cứu từ góc độ văn học và văn hóa học ......................................................... 23
1.3.4. Nghiên cứu từ góc độ liên ngành khoa học xã hội.................................................... 25
1.3.5. Nghiên cứu dưới góc độ triết học............................................................................... 29
1.3.6. Những nghiên cứu về ý nghĩa quan điểm Mác-xit về nhân cách đối với nghiên
cứu con người Việt Nam......................................................................................... . ...30
1.4. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu ....................................................... 31
CHƢƠNG 2. QUAN ĐIỂM MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƢỜI - NỀN TẢNG LÝ
LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN CHO NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH ............. 34
2.1. Quan điểm Mác - Lênin về con ngƣời – nền tảng lý luận cho nghiên cứu nhân
cách ........................................................................................................................................ 34
2.1.1. Nguồn gốc, bản chất của con người theo quan điểm Mác - Lênin .......................... 35
2.1.2. Quan điểm Mác - Lênin về giải phóng con người, phát huy tính chủ động của
con người, xây dựng con người phát triển hài hòa, toàn diện ........................................... 43
2.2. Những định hƣớng phƣơng pháp luận trong nghiên cứu nhân cách từ quan
điểm Mác - Lênin về con ngƣời ......................................................................................... 48
2.2.1. Nguyên tắc hoạt động theo quan điểm Mác - Lênin - cơ sở phương pháp luận
quan trọng đối với nghiên cứu nhân cách ........................................................................... 48
2.2.2. Những định hướng phương pháp luận khác trong nghiên cứu nhân cách từ quan
điểm Mác - Lênin về con người ............................................................................................ 54
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ................................................................................................... 61
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÂN CÁCH
THEO QUAN ĐIỂM MÁC-XÍT ...................................................................................... 63
3.1. Khái niệm nhân cách ................................................................................................... 63
3.1.1. Phân biệt nhân cách với các khái niệm liên quan khác............................................ 63
3.1.2. Khái niệm nhân cách theo cách tiếp cận của triết học Mác-xít ............................... 67
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu về con ngƣời và nhân cách vốn là những đề tài tƣởng chừng nhƣ
đã cũ nhƣng thực tế cho thấy rằng “ngay cả khi tất cả các vấn đề khoa học đã đƣợc
giải đáp thì bí ẩn con ngƣời vẫn chƣa đƣợc đụng đến” (V. E. Davidovich) [Dẫn theo
101, tr. 155], nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà xã hội xuất hiện nhiều biến đổi
sâu sắc với những cái cũ và mới đan xen, với những hệ giá trị chuẩn mực và chƣa
chuẩn mực biến thiên phức tạp, với những trật tự xã hội diễn ra nhiều thay đổi khó
lƣờng. Với tƣ cách là vấn đề đụng chạm đến những nền tảng sâu xa của cuộc sống
con ngƣời, việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến nhân cách con ngƣời có ý nghĩa
rất quan trọng.
Trong nghiên cứu lý luận, nhân cách vốn là lĩnh vực nghiên cứu phức tạp,
không chỉ bởi nó là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau mà
còn bởi có quá nhiều biến số tham dự vào việc hình thành nhân cách. Việc lý giải
quá trình hình thành này bắt nguồn từ những yếu tố nào, từ cơ chế sinh học, tâm lý
hay từ “không gian xã hội” đang biến đổi không ngừng mà ở đó cá nhân vừa là chủ
thể vừa là khách thể, đã hình thành nhiều khuynh hƣớng lý luận khác nhau trong
việc giải quyết vấn đề nhân cách.
Nếu nhƣ quan điểm Mác-xít khẳng định rằng, sự hình thành nhân cách con
ngƣời đƣợc quyết định bởi yếu tố xã hội dựa trên yếu tố sinh học làm tiền đề thì
cách tiếp cận của các quan điểm ngoài Mác-xít lại ngƣợc lại. Tuyệt đối hóa những
đặc điểm sinh học bên trong hay xem nhẹ môi trƣờng xã hội là cách mà các nhà
nghiên cứu theo quan điểm ngoài Mác-xít sử dụng để tìm hiểu bản chất cũng nhƣ sự
hình thành nhân cách.
Chúng tôi lựa chọn và khẳng định ƣu thế của quan điểm Mác-xit trong giải
quyết các vấn đề về nhân cách - một mặt, vì nghiên cứu sinh (NCS) muốn làm rõ
thêm và phát triển nghiên cứu theo hƣớng này và cũng vì NCS cho rằng, muốn lý
giải đƣợc bản chất và sự hình thành nhân cách thì phải đặt nó trong sự phát triển
lịch sử của xã hội và trong hệ thống các quan hệ xã hội vốn tồn tại trên cơ sở những
tiền đề sinh học sẵn có; mặt khác, NCS muốn góp phần trả lại những giá trị nhân
nào cần thiết phải vƣợt qua, cần đƣợc bổ sung và hoàn thiện hơn nữa?... Giải đáp
những vấn đề này là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận mà các khoa học xã hội và
nhân văn ở nƣớc ta hiện nay, nhất là triết học, không thể lảng tránh.
2
Ở nƣớc ta, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng con
ngƣời mới đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, đòi
hỏi chúng ta phải nhanh chóng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu những vấn đề liên
quan đến con ngƣời và nhân cách. Đặc biệt, tại Đại hội XII, Đảng ta cũng đã xác
định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục
tiêu của chiến lƣợc phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị
chuẩn mực của con ngƣời Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế; tạo môi trƣờng và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí
tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý
thức tuân thủ pháp luật” [13, tr. 126].
Bởi một quốc gia, một dân tộc, một đất nƣớc sẽ không thể nào tiến lên,
không thể nào phát triển nếu không xuất phát từ chính con ngƣời của quốc gia đó.
Trong điều kiện hiện nay của nƣớc ta, do nhiều nguyên nhân mà hàng loạt những
vấn đề bức xúc, nóng hổi, có ảnh hƣởng lớn nhƣ: sự xuống cấp đạo đức, vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trƣờng, tham nhũng,… đang xuất hiện ngày
một nhiều và gây bức xúc dƣ luận xã hội mạnh mẽ. Những vấn đề nhƣ thế không
chỉ trực tiếp đụng chạm đến con ngƣời, đến sự phát triển con ngƣời, đến nhân cách
của họ mà còn ảnh hƣởng sâu sắc tới sự tồn vong và phát triển của đất nƣớc ta trong
hiện tại và tƣơng lai.
Trong bối cảnh đó, vấn đề nhân cách con ngƣời nổi lên nhƣ là một vấn đề
“nóng” của xã hội và đƣợc chú ý từ nhiều góc độ khác nhau, không chỉ trên bình diện
nghiên cứu mà cả trên bình diện thực tiễn, không chỉ từ góc độ tâm lý mà cả từ góc
độ đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội. Tuy nhiên, vấn đề này chƣa đƣợc luận giải
cho nghiên cứu về nhân cách.
- Phân tích một số nội dung chủ yếu trên phƣơng diện lý luận về nhân cách
theo lập trƣờng Mác-xit: Khái niệm, đặc trƣng, cấu trúc, quá trình hình thành và
phát triển của nhân cách.
- Vận dụng và phân tích ý nghĩa của quan điểm Mác-xít về nhân cách đối với
việc nghiên cứu nhân cách con ngƣời Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nhân cách theo quan điểm Mác-xít và ý nghĩa của nó
trong nghiên cứu nhân cách con ngƣời Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
4
- Quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về nhân cách
- Một số quan điểm theo lập trƣờng Mác-xít về nhân cách của một số tác giả
trong và ngoài nƣớc nhƣ: A.N. Leonchiep, L. Sevơ, L.X. Vugotxki, Rubinstein,
Phạm Minh Hạc,…
- Mặc dù nói tới nhân cách trƣớc hết là nói về nhân cách cá nhân, song trong
luận án này, chúng tôi luận giải một số nội dung lý luận cơ bản về nhân cách từ đó
vận dụng vào nghiên cứu nhân cách con ngƣời Việt Nam nói chung (theo nghĩa là
nhân cách của cộng đồng (dân tộc Việt Nam)), chứ không phải nhân cách cá nhân
hay nhân cách cụ thể của một tầng lớp/giới tính/lứa tuổi... nào ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận án đƣợc thực hiện dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử về con ngƣời, xã hội và sự phát triển con ngƣời.
- Phƣơng pháp chủ yếu đƣợc sử dụng là: Thống nhất lịch sử - lôgic, phân tích
- tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, hệ thống hóa, so sánh…
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích và làm rõ thêm quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
nhân văn, nhân cách từ lâu đã là đề tài đƣợc các nhà tƣ tƣởng cả ở phƣơng Đông và
phƣơng Tây khảo sát ở nhiều bình diện khác nhau. Đề tài về nhân cách, do vậy,
không thể gọi là đề tài mới. Tuy nhiên, do sự biến động của đời sống xã hội nên
trong đề tài không mới này, hầu nhƣ lúc nào cũng xuất hiện những khía cạnh nội
dung mới, những vấn đề mới, hoặc những cách kiến giải mới...
Nghiên cứu về nhân cách đã đƣợc phân tích với các mức độ, phạm vi, mục
đích khác nhau và từ nhiều góc độ nhƣ: tâm lý học, xã hội học, đạo đức học, luật
học, v.v... Trên thế giới vào những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, nhiều trào lƣu
nghiên cứu về nhân cách trong tâm lý học đã đƣợc hình thành và phát triển mạnh
mẽ ở nhiều quốc gia. Việc nghiên cứu về nhân cách theo xu hƣớng nào, thực
nghiệm hay lý luận, nếu là xu hƣớng lý luận thì lựa chọn lý luận Mác-xít hay ngoài
Mác-xít để làm nền tảng lý thuyết cơ bản…, đã đƣợc các nhà nghiên cứu thảo luận
rất sôi nổi trên các diễn đàn học thuật.
Các quan điểm Mác-xít (chủ yếu ở Liên Xô cũ) nhìn chung đều cho rằng yếu
tố hình thành và quyết định nhân cách xuất phát từ văn hóa, lịch sử, môi trƣờng xã
hội trên cơ sở tiền đề, điều kiện của yếu tố sinh học. Trong khi đó, các quan điểm
ngoài Mác-xít (nhƣ phân tâm học, phân tâm học mới, chủ nghĩa hành vi, lý thuyết
phân tích yếu tố, ...) (chủ yếu ở châu Âu và Mỹ) lại tuyệt đối hóa một trong số các
yếu tố đó, chỉ có yếu tố sinh học hoặc yếu tố xã hội có ý nghĩa quyết định đến sự
hình thành và phát triển nhân cách.
Ở Việt Nam, vào thời điểm đó, thuật ngữ “nhân cách” chƣa đƣợc sử dụng
rộng rãi trong đời sống hàng ngày nhƣng nghiên cứu về nhân cách đã đƣợc các tác
giả nhƣ Phạm Hoàng Gia, Hoàng Xuân Hinh, Đỗ Long... đƣa ra trao đổi, luận bàn
trực tiếp, chuyên sâu trên tạp chí triết học thời kỳ những năm 1970 của thế kỷ XX.
Các tác giả đã tập trung bàn thảo, tranh luận về những nội dung căn bản của vấn đề
nhân cách nhƣ: bản chất của nhân cách là gì, nhân cách hình thành từ đâu và quá
trình đó diễn ra nhƣ thế nào, cấu trúc nhân cách gồm những bộ phận nào... Dù còn
7
thuyết nhân văn (C.R. Rogers, A. Maslow) và thuyết Big Five - một lý thuyết hiện
8
đại về nhân cách. Theo tác giả, mỗi loại lý thuyết lại nhấn mạnh những biến số độc
lập và phụ thuộc khác nhau nhƣ những yếu tố quyết định chủ yếu đến quá trình hoạt
động của nhân cách. Tác giả cho rằng, những mô tả lý luận về nhân cách đã tiến
triển từ những lý thuyết ban đầu về nét nhân cách cho đến phân tâm học và thuyết
hành vi rồi đến những lý thuyết “tự phát triển” về nhân cách. Sự phát triển này của
các lý thuyết thể hiện sự biến đổi từ việc quan tâm đến yếu tố di truyền (thể hiện ở
lý thuyết phân tâm học và lý thuyết về nét nhân cách) nhƣ là yếu tố tác động vào
nhân cách, đến việc nhấn mạnh những ảnh hƣởng của môi trƣờng và sự nuôi dƣỡng
nhân cách (thể hiện ở lý thuyết học tập xã hội, lý thuyết hành vi, lý thuyết nhân
văn…) [Xem 142](*).
Còn theo George Boeree, Tiến sĩ, Khoa tâm lý học trƣờng Đại học tổng hợp
Shippensburg, các quan điểm về nhân cách đƣợc khái quát trong các học thuyết gắn
liền với các tác giả có tên tuổi trong tâm lý học. Ông đã giới thiệu trong cuốn sách
Personality Theory (năm 2006) của mình các quan điểm của các tác giả sau: S.
Freud, Anna Freud, Erik Erickson, C. Jung, Otto Rank, Alfred Adler, Karen
Horney, Albert Ellis, Erick Fromm, B.F. Skinner, Hans Eysenck, Albert Bandura,
Gordon Allport, George Kelly; Snygg và Combs; Abram Maslow; Carl Rogers;
Ludwig Binswager; Viktor Frankl, Rollo May, Jean Piaget. Các tác giả này đƣợc
phân nhóm thành ba xu hướng trong tâm lý học: thứ nhất - tâm lý học phân tích
(gồm S. Freud, A. Freud, Erickson, C. Jung, Adler, Horney, Fromm); thứ hai - tâm
lý học hành vi (gồm Eysenck, Skinner, Bandura); thứ ba - tâm lý học nhân văn, bao
gồm cả tâm lý học hiện sinh: Maslow, Rogers, Kelly, Frankl [Xem 133] .
Trong khi đó Barry D. Smith và Harold J. Vetter (năm 2005) giới thiệu các
quan điểm về nhân cách có ảnh hƣởng đáng kể và quan trọng nhất hiện nay gồm có:
Thuyết phân tâm học (S. Freud), Tâm lý học bản ngã (Erick H. Erkson và Heinz
móng cho lý luận về nhân cách, các tác giả Calvin S. Hall, Gardner Lindzey trong lần
xuất bản thứ ba cuốn sách Theories of personality (Các học thuyết về nhân cách (năm
1978), cũng theo đƣờng hƣớng đó, đã giới thiệu các quan điểm về nhân cách trong tâm
lý học cổ điển của Freud, trong tâm lý học đƣơng đại, trong thuyết phân tích của Jung,
trong tâm lý học xã hội của Adler, Fromm, Horney, Sullivan, học thuyết của Murray,
học thuyết con ngƣời là trung tâm của Roger, các học thuyết tâm lý học hiện sinh, tâm
lý học cá nhân của Allport, học thuyết yếu tố của Cattell, v.v.. [xem 141].
Jefferey Magnavita, một trong những học giả hàng đầu trong lĩnh vực nghiên
cứu nhân cách, với tác phẩm Theories of personality, contemporary approaches to
the Science of Personality (Học thuyết về nhân cách, các cách tiếp cận đƣơng đại
đối với khoa học về nhân cách (năm 2002)), đã mang đến một cái nhìn toàn diện về
lịch sử phát triển các quan điểm về nhân cách, bắt đầu từ nền móng lịch sử với các
10
mô hình học thuyết Hy Lạp cổ đại, sau đó đến những nỗ lực xây dựng khoa học tâm
lý nửa sau thế kỷ 19. Magnavita cho rằng, sự hình thành các quan điểm khoa học
nhân cách hiện đại bắt đầu từ Freud, sau đó là qua các công trình của học trò Freud
và các cuộc tranh luận mà họ khơi ra. Ông đã phân tích 7 mô thức (model) nhân
cách đƣơng đại chủ yếu sau [xem 145]:
- Mô thức sinh tâm thần học về nhân cách;
- Mô thức phân tâm học đƣơng đại về nhân cách;
- Mô thức hành vi về nhân cách;
- Mô thức nhận thức và nhận thức - hành vi về nhân cách;
- Mô thức liên nhân cách và nhân tố về nhân cách;
- Mô thức quan hệ về nhân cách;
- Mô thức thống nhất về nhân cách;
Đồng quan điểm với Magnavita, tác giả Funder David trong tác phẩm The
personality puzzle (Vấn đề nhân cách (năm 1997)) cũng đã đƣa ra các quan điểm về
tác giả, tâm lý học tư biện và tâm lý học sai biệt vốn nghiên cứu nhân cách theo
cách thức của thực nghiệm khoa học tự nhiên, đã gặp phải nhiều hạn chế. Tác giả
cũng điểm lại xu hướng sinh vật hóa trong nghiên cứu nhân cách với các đại diện
tiêu biểu nhƣ Ernst Kretschmer, W.H. Scheldon, C. Lombroo... Bên cạnh đó, tác giả
cũng phân tích về chủ nghĩa hành vi theo xu hƣớng này và chịu ảnh hƣởng của
thuyết phản xạ có điều kiện, chủ nghĩa này nổi lên nhƣ một trƣờng phái tâm lý có
ảnh hƣởng nhất vào đầu thế kỷ XX với Watson, ngƣời sáng lập và các đại diện nhƣ
G.M. Mead, E.L. Thorndiker, E.C. Tolman, C. L. Hull, K.S. Lashley, E.R. Guthrie.
Tác giả cũng nhắc tới Chủ nghĩa nhân cách (Personalism) và Nhân học văn hóa
nhƣ là những lý luận nhân cách chủ yếu. Theo tác giả, căn cứ vào những cuộc thảo
luận và một số công trình xuất bản trong những năm 1960 và 1970, ở đây có hai xu
hướng đối lập cơ bản là xu hƣớng mô tả cái riêng biệt, độc đáo, độc nhất vô nhị
trong nhân cách và xu hƣớng đi tìm cái quy luật. Tác giả đã phân tích các đại diện
tiêu biểu cho từng xu hƣớng và đã đƣa ra kết luận rằng: “mặc dù còn những hạn chế
trong quan niệm về nhân cách trong những mối quan hệ với xã hội, với ý thức hệ,
niềm tin... ngƣời ta đã chú ý nhiều hơn tới khía cạnh nhân văn, tới việc phải xem xét
lại bản chất của nhiều khái niệm có liên quan đến nhân cách, đi sâu nghiên cứu
nhân cách ở cấp độ hành động thƣờng ngày” [22, tr. 68].
12
Nhìn chung, những học giả trên đây tùy theo mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu của mình, đã giới thiệu khá đầy đủ những học thuyết chủ yếu ngoài Mác-xít,
các quan điểm tiêu biểu khác nhau về nhân cách, đại diện tiêu biểu cho từng khuynh
hƣớng. Đặc điểm chung của họ là đều tập trung phân tích các quan điểm về nhân
cách điển hình, xứng đáng là đại diện cho các xu hƣớng nghiên cứu nhân cách ngoài
Mác-xít hiện nay. Qua các công trình có thể nhận thấy hiện có 3 loại quan điểm
ngoài Mác-xít trong nghiên cứu về nhân cách [Xem thêm 22, tr.129-142]:
Quan điểm sinh vật hóa nhân cách nhấn mạnh khía cạnh sinh học trong
hình thành và phát triển của nhân cách, phân tích các yếu tố và xác lập mối quan hệ
giữa động cơ, cảm xúc và nhân cách, phần cuối cùng nêu lên quá trình hình thành
nhân cách [58] .
Cuốn Chủ nghĩa xã hội và nhân cách, (năm 1983,1984) gồm 2 tập, là công
trình chuyên khảo về đề tài nhân cách đã đƣợc xuất bản bằng tiếng Việt. Đây là
công trình của tập thể các nhà khoa học khối xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ chủ
trƣơng đề cao và bảo vệ học thuyết Mác-xít về nhân cách, các tác giả đã cố giải đáp
những vấn đề liên quan tới sự phát triển nhân cách trong xã hội xã hội chủ nghĩa và
đó cũng là nội dung cơ bản đƣợc nghiên cứu và trình bày trong tác phẩm này. Cuốn
sách không chỉ nhấn mạnh đến mối liên hệ lẫn nhau giữa các quan hệ kinh tế, chính
trị, pháp luật, tinh thần, kể cả đạo đức, mỹ học... nhƣ là cơ sở xã hội của sự phát
triển những đặc trƣng của con ngƣời mới, tạo thành một tổng hòa các mặt phát triển
toàn diện của nhân cách, mà còn là cơ sở của sự tác động lẫn nhau giữa nhân cách
với các nhân tố quyết định bộ mặt hiện tại của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhƣ cách
mạng khoa học - kỹ thuật, nền văn hóa tinh thần, chủ nghĩa tập thể xã hội chủ nghĩa,
thời gian nhàn rỗi. Mặt khác, cuốn sách đã tập trung chú ý đến những vấn đề có tính
chất xuất phát điểm của học thuyết Mác-xít về nhân cách nhƣ: bản chất của nhân
cách, cơ chế quyết định thế giới tinh thần và hoạt động của nhân cách [103, 116].
Trong số các học giả phƣơng Tây nghiên cứu triết học và tâm lý học khá
công phu theo khuynh hƣớng Mác-xít, không thể không nhắc tới học giả ngƣời
Pháp Luyxiêng Sevơ (Lucien Seve) với tác phẩm nổi tiếng Chủ nghĩa Mác và lý
luận về nhân cách (năm 1989). Ông đã dành nhiều thời gian nghiên cứu chủ nghĩa
Mác, đặc biệt là bộ Tư bản, từ đó rút ra những khái niệm cơ bản làm phƣơng pháp
luận cho nghiên cứu tâm lý học. Cuốn sách có tên nêu trên ra đời là kết quả nhiều
năm dày công nghiên cứu của ông. Nó đã thu hút đƣợc sự chú ý lớn trong giới triết
14
học Mác-xít thời bấy giờ. Với 4 chƣơng, “lý luận về nhân cách” đã đƣợc hình thành
15
Luận văn đầy đủ ở file: Luận văn full