quan diểm của nho giáo về đạo đức của người cầm quyền và ý nghĩa của nó trong công tác giáo dục đạo đức cán bộ công chức ở nước ta hiện nay - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VŨ VĂN LONG

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC
CỦA NGƯỜI CẦM QUYỀN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VŨ VĂN LONG

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI
CẦM QUYỀN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG
TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGA

HÀ NỘI - 2010

14

1.2.2 Người cầm quyền phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức (tu thân).

24

1.2.3. Người cầm quyền phải biết coi trọng dân, dưỡng dân, giáo hoá
dân.

27

Chương 2: NHO GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
QUAN NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CẦM QUYỀN TRONG
NHO GIÁO ĐỐI VỚI TẦNG LỚP QUAN LẠI VÀ NHO SĨ
TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM.

36

2.1. Khái lược sự du nhập và phát triển Nho giáo ỏ Việt Nam .

36

2.1.1. Nho giáo thời kỳ Bắc thuộc.

36

2.1.2.Nho giáo thời kỳ độc lập..

38


59

3.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức, Đạo đức cán bộ, công chức

59

3.1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, công
chức trong giai đoạn hiện nay.

63

3.2. Một số nguyên tắc và giải pháp cơ bản để kế thừa, phát huy
các giá trị tích cực trong quan niệm của Nho giáo về đạo đức người
cầm quyền trong công tác giáo dục đạo đức cán bộ, công chức hiện
nay.

69

3.2.1. Nguyên tắc kế thừa và phát huy các giá trị tích cực trong quan
niệm của Nho giáo về đạo đức người cầm quyền trong công tác giáo
dục đạo đức cán bộ, công chức hiện nay.

69

3.2.2 Một số giải pháp cơ bản để kế thừa, phát huy các giá trị trong
quan niệm của Nho giáo về đạo đức người cầm quyền trong công tác
giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay.

83




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, là phương thức đặc biệt
để nhận thức cuộc sống và điều chỉnh hành vi của con người. Đạo đức đã sớm
xuất hiện trong lịch sử xã hội, khẳng định vai trò to lớn trong việc đảm bảo sự
ổn định, phát triển của xã hội. Chính vì vậy việc xây dựng và giáo dục đạo
đức cho con người nói chung, của người cầm quyền nói riêng là vấn đề mà
mọi chế độ xã hội đều quan tâm.
Thực tế cho thấy, sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới dưới sự lãnh đạo
của Đảng, đất nước đang chuyển mình và đạt nhiều thành tựu to lớn. Góp
phần vào những thắng lợi ấy, phải kể đến ý nghĩa của việc xây dựng, rèn
luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, công chức. Bởi lẽ
đây là những người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện
những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên,
bên cạnh mặt tích cực thì với mặt trái của cơ chế thị trường, cùng với sự
chống phá của các thế lực thù địch và sự yếu kém trong công tác giáo dục tư
tưởng, lý luận, rèn luỵên đạo đức cách mạng, việc coi nhẹ tu dưỡng bản thân,
trong những năm vừa qua ở nước ta đã dẫn đến “tình trạng tham nhũng, suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ
đảng viên là rất nghiêm trọng”. Đáng chú ý là sự suy thoái về phẩm chất này
trong đội ngũ cán bộ, công chức vẫn đang có chiều hướng gia tăng làm xói
mòn lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, của nhà
nước, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc, tạo thành
nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Vì vậy, việc tăng cường giáo
dục, rèn luyện đạo đức lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức càng trở nên
đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

1


2


Trước hết phải kể đế cuốn “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu và
“Nho giáo” của Trần Trọng Kim. Trong hai tác phẩm này, thông qua việc
trình bầy, phân tích một số phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong
quá trình hình thành và phát triển của chúng. Hai ông đều nhìn nhận Nho giáo
không chỉ là học thuyết triết học mà còn là học thuyết chính trị - xã hội; học
thuyết đạo đức. Các ông đặc biệt đề cao những yếu tố, nhân tố tích cực của
Nho giáo, coi đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn
thiện đạo đức con người và ổn định trật tự kỷ cương xã hội.
Các tác phẩm sau này như cuốn “Nho giáo xưa và nay” do giáo sư Vũ
Khiêu (chủ biên); cuốn“Nho giáo xưa và nay” của nhà nghiên cứu Quang
Đạm; cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống” của cố giáo sư Trần Đình Hượu;
cuốn “Nho học và Nho học ở Việt Nam” của giáo sư Nguyễn Tài Thư; cuốn
“Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện; cuốn “Nho giáo và phát triển ở
Việt Nam” do giáo sư Vũ Khiêu viết xuất bản năm 1997; PGS.TS. Nguyễn
Thị Nga và PGS.TS. Hồ Trọng Hoài với tác phẩm “Quan niệm của Nho giáo
về giáo dục con người”; Tác phẩm “Học thuyết chính trị - xã hội của Nho
giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Thanh Bình... Ở các
tác phẩm này các tác giả đã đứng trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử để phân tích các vấn đề của Nho giáo và chỉ ra những ảnh hưởng của
nó đối với xã hội Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại ở những góc độ
khác nhau.
Ngoài ra liên quan đến đề tài luận văn còn có nhiều luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ triết học, các bài viết trên các tạp chí gần đây bàn về Nho giáo và
ảnh hưởng của nó ở Việt Nam: “Phải chăng Nho học là động lực phát triển
kinh tế” của Phó giáo sư Hà Thúc Minh; bài “truyền thống Nho giáo và việc
xây dựng con người trong giai đoạn mới” của giáo sư Nguyễn Tài Thư; bài

giá trị trong quan niệm của Nho giáo về đạo đức người cầm quyền trong công
tác giáo dục đạo đức cán bộ, công chức hiện nay.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các quan niệm cơ bản của Nho giáo về đạo đức
của bậc quân tử cầm quyền, tác động của nó đối với tầng lớp quan lại trong xã
hội phong kiến Việt Nam.
Ý nghĩa của quan niệm của Nho giáo về đạo đức người cầm quyền
trong công tác giáo dục đạo đức cán bộ, công chức hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Có thể nói Nho giáo là một học thuyết về đạo đức, đây là một vấn đề
lớn gồm nhiều giá trị trong các lĩnh vực khác nhau. Luận văn này chỉ đề cập
đến những quan niệm cơ bản về đạo đức người cầm quyền trong Nho giáo,
chủ yếu ở các nhà nho thời Tiên Tần và Hán nho.
Đội ngũ cán bộ, công chức được đề cập trong luận văn là những người
được xác định trong luật cán bộ - công chức đã được nhà nước ban hành.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những
quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam làm cơ sở lý luận.
Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch để
nghiên cứu học thuyết Nho giáo; tìm ra cái cốt lõi của nó trong quan niệm về
đạo đức người cầm quyền; tìm hiểu những vấn đề đang đặt ra trong nền kinh
tế thị trường, những tác động tích cực, tiêu cực của nó đối với đạo đức cán bộ,
công chức ở nước ta hiện nay.
Sử dụng phương pháp biện chứng duy vật; phương pháp lịch sử và
lôgic để tìm hiểu vai trò, ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam và

đức người cầm quyền trong Nho giáo đối với tầng lớp quan lại và Nho sĩ
trong xã hội phong kiến Việt Nam.
Chương 3: Kế thừa và phát huy các giá trị tích cực trong quan niệm
của Nho giáo về đạo đức người cầm quyền trong công tác giáo dục đạo đức
cán bộ công chức hiện nay.
6


Chương 1
QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CẦM QUYỀN

1.1. Người cầm quyền phải lấy “Đạo đức” làm gốc
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức. Nho giáo ra đời chủ
yếu từ thực trạng hết sức rối loạn của xã hội Trung Quốc thời cổ đại. Mục
đích của những người sáng lập và phát triển Nho giáo là nhằm giải đáp vấn đề
và nhiệm vụ thực tiễn của xã hội Trung Quốc đặt ra lúc bấy giờ là sự cần thiết
phải khắc phục cái “thực trạng” đó, phải ổn định trật tự, kỷ cương xã hội, đưa
xã hội từ “loạn” tới “trị”. Với tư cách là một học thuyết chính trị - đạo đức,
Nho giáo đã đưa ra những quan niệm về thiện, ác, đạo làm người cùng những
chuẩn mực, những quy tắc ,quy phạm đạo đức để điều chỉnh, đánh giá hành vi
của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá
nhân với gia đình, nước, thiên hạ. Hệ thống các phạm trù, nguyên lý, chuẩn
mực, nguyên tắc, quy phạm đạo đức ấy trong học thuyết Nho giáo không chỉ
phản ánh các quan hệ đạo đức mà còn phản ánh các quan hệ chính trị của xã
hội và con người. Do vậy, những phạm trù, nguyên lý, chuẩn mực, quy phạm
đạo đức còn là những phạm trù, nguyên lý, chuẩn mực chính trị, nhằm mục
đích chính trị.
Theo quan niệm của Khổng Tử “Đạo” chính là năm mối quan hệ xã
hội cơ bản của con người, được gọi là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân:

nhằm bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền, cho nên Nho giáo quan tâm đặc
biệt đến đạo đức của người cầm quyền (vua và tầng lớp quý tộc, quan lại). Để
ổn định xã hội, Nho giáo khuyên các bậc cầm quyền theo đường lối đức trị.
Đó là đường lối trị nước, quản lý xã hội dựa trên những chuẩn mực đạo đức.
Đó là hệ thống những chuẩn mực, những nguyên tắc, quy phạm đạo đạo đức
để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội, nhằm đảm
bảo sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Đức trị phản ánh
nhu cầu lợi ích của giai cấp thống trị, được biểu hiện dưới hình thức những

8


quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân lý, được mọi
người thừa nhận một cách tự giác. Nó được củng cố bằng những tấm gương
đạo đức, đặc biệt là đạo đức của những người cầm quyền.
Các nhà Nho từ Khổng Tử đều đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức, coi
đạo đức là công cụ, là phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất để đạt được
những mục đích chính trị. Trong công việc chính trị, người cầm quyền phải
đặt đạo đức lên hàng đầu, lấy đạo đức làm gốc. Nho giáo khẳng định đạo đức
là gốc của con người, đặc biệt là các bậc quân tử cầm quyền.
Nói đến con người là nói đến đạo đức. Thiên “Học phi” - sách Luận
ngữ viết “Làm người có nết hiếu đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không
xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm
chú vào việc gốc. Gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu đễ là gốc của đức
nhân… [29, tr.26]. Khi quan niệm về chính trị Khổng tử khẳng định phải lấy
đạo Nhân làm gốc: lấy hiếu đễ, lễ nhạc làm cơ bản cho sự giáo hóa để gây
thành đạo nhân; lấy chính trị làm công dụng của đạo nhân mà thi thố ở đời.
Ông nói rằng: “Nhân đạo mẫn chính, địa đạo mẫn thụ. Phù chính giả giã, bồ
lư giã. Cố vi chính tại nhân, thủ nhân dĩ thân, tu thân dĩ đạo, tu đạo dĩ nhân”
(cái nhanh thành hiệu của của đạo người là việc chính trị, cái nhanh thành

thì mọi người đều phục tùng theo. Tỷ như ngôi sao bắc đẩu ở một chỗ mà các
ngôi sao khác chầu quanh mình” [26, tr.133]. Hay trong thiên Nhan uyên,
sách Luận ngữ có ghi chép: khi Quý Khang tử một quyền thần nước Lỗ hỏi
ông về chính trị: có nên giết kẻ vô đạo để cho người khác trở thành lương
thiện không, thì ông trả lời: “Trị dân cần gì phải giết người... Đức hạnh của
người quân tử “người trị dân tốt” như gió, mà đức của dân như cỏ, gió thổi thì
cỏ tất rạp xuống” (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo. Thảo
thương chi phong tất yển) [26, tr.133]. Như vậy, nếu người trên mà có đức thì
cảm hóa dân rất dễ, vì dân có sẵn lòng phục, trọng, noi gương người trên mà
có đức. Khổng tử tin rằng: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt
để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn.

10


Dùng đạo đức để dẫn dắt dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân
biết hổ thẹn mà lại theo con đường chính” [26, tr.134].
Trong sách Mạnh tử, Mạnh tử cũng cho rằng người quân tử bao giờ
cũng phải lấy đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí làm tông chỉ của mình. Ông nói:
“Đất rộng, dân nhiều, đó là sự muốn của người quân tử, nhưng chưa phải là
cái vui của người quân tử. Đứng đầu trong thiên hạ, định được hòa bình cho
dân bốn bể, đó là cái vui của người quân tử, nhưng chưa phải là cái mà người
quân tử cho là bản tính của mình…Cái mà người quân tử cho là bản tính của
mình là nhân, nghĩa, lễ, trí, căn bản ở trong tâm người ta” [26, tr.199]. Người
quân tử lấy nhân nghĩa làm bản tính của mình, thì trong việc chính trị cũng
phải lấy nhân nghĩa làm gốc. Cho nên khi ông sang nước Lương, vua Huệ
vương hỏi ông: “Ông có điều gì làm lợi cho nước Lương không”. Ông gạt đi
và nói: “Vương hà tất viết lợi. Diệc hữu nhân nghĩa nhi dỹ hỹ” (Vua hà tất
phải nói lợi. Chỉ có nhân nghĩa mà thôi) [26, tr.202]. Nếu ông vua nói rằng
làm thế nào có lợi cho nước ta, quan đại phu nói rằng: làm thế nào có lợi cho

Nhân trị, Vương đạo) coi việc cai trị bằng đạo đức là vô địch: “Đối với người
nhân dẫu kẻ địch có đông cũng chẳng làm gì được mình. Này nếu một vị quốc
quân thích làm nhân chính, trong thiên hạ chẳng ai địch nổi” [8, tr.17]. Quan
niệm của ông thật rõ ràng: “Người ưa điều thiện thì dư sức cai trị thiên hạ …
nếu nhà cầm quyền ưa điều thiện, ắt người trong bốn biển sẽ khinh thường
đường xa muôn dặm mà đến với mình, để mách bảo điều thiện với mình” [8,
tr.209]. Người nhân là người vô địch trong thiên hạ bởi vì: điều nhân thắng
điều bất nhân, cũng như nước thắng lửa.
Ngoài ra Nho giáo còn khẳng định đạo đức và việc thi hành đạo đức
còn là biện pháp tốt nhất để loại trừ tình trạng phi nhân, phi đạo đức trong xã
hội, là phương tiện để duy trì trật tự kỷ cương và sự ổn định xã hội. Theo các
nhà Nho, để thiết lập và duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của gia đình
cũng như của xã hội thì cần phải thực hành các biện pháp mang nội dung đạo
đức. Tức là người cầm quyền phải lấy các chuần mực đạo đức nhân, lễ, nghĩa,
trí, tín mà bổ hoá ra toàn xã hội, phải làm cho những chuẩn mực đạo đức ấy

12


trở thành những nguyên tắc, những quy phạm chi phối mọi hành vi của con
người, mọi mối quan hệ từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Có như vậy, theo
Nho giáo, mỗi người mới có đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; mới bảo tồn
được tính thiện, trừ bỏ được tính ác và “gia mới tề; quốc mới trị; thiên hạ mới
bình”. Nhưng để đạt được mục đích cuối cùng này, các nhà Nho đều khẳng
định rằng điều quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định là mọi người trong thiên
hạ, đặc biệt là người cầm quyền đều phải tận tâm tu dưỡng đạo đức (tu thân):
“Từ bậc thiên tử cho đến kẻ thứ dân, tất cả đều lấy việc sửa mình làm gốc”
[53, tr.36]. Người cầm quyền còn phải là tấm gương đạo đức cho dân, để dân
noi theo. Khổng Tử đã khuyên rằng: người cai trị phải dùng đức để trị dân
chứ không nên dùng chính hình. Mạnh Tử cũng cho rằng: nhà vua cần phải

loạn của xã hội lúc bấy giờ; tuy nhiên nó cũng tạo ra sự phiến diện trong cách
nhìn nhận, đánh giá con người và cũng chính vì vậy mà Nho giáo cũng chỉ tạo
ra những con người phiến diện chứ không phải là con người toàn diện, đủ
năng lực để thực hiện vai trò của mình trong xã hội, loại trừ tình trạng rối loạn
của xã hội, đưa xã hội đến thái bình thịnh trị như mong muốn của các nhà
Nho. Người cầm quyền có đạo đức, con người lý tưởng trong quan niệm của
Nho giáo thực chất cũng chỉ là những con người cần có của chế độ phong
kiến, nhằm phục vụ những lợi ích của giai cấp thống trị mà thôi.
1.2. Những chuẩn mực và yêu cầu đạo đức cơ bản của người cầm quyền
1.2.1. Người cầm quyền trước hết phải là người có “Nhân,lễ, chính danh”
Nhân, Lễ và Chính danh là những phạm trù trung tâm và cơ bản nhất
trong quan niệm về đạo đức của người cầm quyền, trong tư tưởng đức trị nói
riêng, trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung. Chúng
thống nhất với nhau. Trong đó Nhân là nội dung, là hạt nhân của Lễ; Lễ là
hình thức thể hiện của Nhân và trên bình diện chính trị sự thống nhất của
Nhân và Lễ là Chính danh.
Nhân là phạm trù đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong đạo “cương
thường”. Tất cả các phạm trù đạo đức khác đều xoay quanh phạm trù trung
tâm này. Từ “đức nhân” mà phát ra các đức khác, và các đức khác lại quy tụ

14


về với “đức nhân”, là biểu hiện của “đức nhân”. Trong tác phẩm luận ngữ,
Khổng tử đã nhiều lần nhắc đến chứ Nhân. Ông luôn mong ước các bậc cai trị
cầm quyền nói riêng và con người sống trong xã hội nói chung rèn luyện, tu
dưỡng để đạt được đức nhân và ứng dụng đức này trên thực tế. Nội dung của
“đức nhân” đã được Khổng tử thể hiện trong những lần tiếp xúc với học trò và
nó mang nhiều nội dung khác nhau. Song nhìn chung “đức nhân” có những
nội dung cơ bản sau:

ư nhân) [21, tr.473]. Như vậy, cũng tương tự như “trung”, “thứ” có nghĩa là
từ lòng mình mà suy ra lòng người, bởi lẽ mình muốn cái gì thì người khác
cũng muốn cái đó và ngược lại. Cho nên, Khổng tử mới khuyên rằng, nên làm
cho người những cái mình muốn và đừng làm cho người những cái mà mà
mình không muốn. “Trung”, “thứ” chính là đạo làm người. Không phải ngẫu
nhiên mà học trò của Khổng tử là Tăng tử đã khẳng định: “Đạo của thầy chỉ
tóm tắt ỏ một điều trung thứ mà thôi” (Tăng tử viết: “phu tử chi đạo, trung
thứ dĩ hĩ”) [21, tr.277]. Những nội dung cơ bản về chữ “Nhân” như trên chứa
đựng những ý nghĩa sâu sắc về đạo làm người, là cơ sở của đạo làm người,
đồng thời còn là mục đích mà con người cần đạt được, là biểu hiện nhân cách
của con người.
Nhưng đối với Khổng tử, điều quan trọng nhất trong tư tưởng về
“nhân” là biểu hiện về mặt chính trị của nó. Đạo của người quân tử - bậc cai
trị, cầm quyền chính là “nhân”. “Nhân’ là chuẩn mực đạo đức cao quý nhất
nên người quân tử luôn lo lắng, bực tức đến nỗi quên ăn khi chưa hiểu được,
vui mà quên cả lo buồn, quên cả tuổi tác khi đã hiểu thấu đạt được nó. Khi đó,
họ dốc lòng tin theo đạo, và nếu có phải chết mà làm cho đạo Nhân được hay
thì cũng là việc nên làm.
Theo các nhà Nho, nhân cách lý tưởng - bậc quân tử cầm quyền phải là
sự thống nhất và bổ sung lẫn nhau của “ngũ đức”: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Như thế “Nhân” đồng nghĩa với người có mọi đức tính tốt, “Nhân” có thể
hiểu là “toàn đức”.

16


Nhân gắn liền với “Nghĩa”. “Nghĩa” vừa là một biểu hiện của đức
Nhân, vừa là một trong năm chuẩn mực của ngũ thường. Khổng tử ít bàn đến
“đức nghĩa” nhưng hành động của ông luôn theo nghĩa. “Đức nghĩa” đến
Mạnh tử mới được nhấn mạnh, ông đã xếp “nghĩa” ở vị trí thứ hai sau đức

giáo, nó là hệ quả của bốn đức trên, có nhân, lễ, nghĩa, trí mới gây được lòng
tin, mới thực hiện được chữ Tín. Người không có chữ tín là người mất hết đức
nhân, lễ, nghĩa, trí, là người bỏ đi.
Nội dung của chữ Tín là phải có lòng tin tuyệt đối vào chính đạo, vào
đạo lý của thánh hiền, vào mối quan hệ của ngũ luân. Khổng tử khi nói về chữ
tín, thì cho rằng: “Nhân vô tín tắc phản” (Người không có chữ tín tất dễ phản)
(Luận ngữ - Nhân hoá 4) hay “Nhân vô tín bất lập” (Người không có tín
nhiệm thì đừng đề cử) (Luận ngữ - Vi chính 7). Muốn thực hiện chữ tín, phải
giữ đúng lễ, chính danh, đủ lợi. Đúng lễ là đủ hiểu biết để thực hiện điều nhân
nghĩa. Chính danh là quan hệ đối sử đúng phận vị. Đủ lợi là lợi phải hợp nhân
nghĩa, lợi phải chia sẻ, cùng hưởng...
Chữ tín đối với bậc cai trị cầm quyền thì càng đặc biệt quan trọng bởi
họ là những người có nghĩa vụ: cai trị dân, giáo hoá dân, cảm hoá dân để cho
dân tin phục. “Dân vô tín bất lập” - dân không có lòng tin thì không có chính
quyền nào có thể đứng vững được lâu dài. Theo Khổng tử phép giữ nước có
ba yếu tố: thực túc, binh cường, dân tín. Nếu cần thiếu thực túc, chưa đủ hoặc
tạm hoãn binh cường, còn dân tín thì tuyệt đối phải giữ lấy. Bởi vì lòng tin là
sức mạnh, lòng tin bắt nguồn từ chính đạo. Chiến lược, sách lược giữ nước
hợp khả năng thực tế, hợp lòng dân, được dân tin sẽ chuyển hoá tạo nên sức
mạnh chiến thắng.
Muốn được dân tin thì người cầm quyền phải thành thực, muốn cho
người khác tin mình thì phải thận trọng trong lời nói, lời nói phải hợp với
hành động. Khổng tử cho rằng đức tín và hành động luôn đi liền với nhau, lời
nói trung thực đáng tin, hành vi phải thân thiết, kính cẩn, như vậy đi đến nước
Man, nước Mạnh cũng trót lọt. Ông nói: “Người quân tử ăn chẳng cầu no, ở
chẳng cầu tiện nghi, làm việc siêng năng mà thân trọng trong lời nói, tìm đến
người đạo đức để sửa mình; như thế là khá ham học vậy” (Quân tử thực vô

19


20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status