ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ XUÂN TÙNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHẨU PHẦN SỬ DỤNG
CỎ ALFALFA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRONG
CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI MỘC CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN -2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------
LÊ XUÂN TÙNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHẨU PHẦN SỬ DỤNG
CỎ ALFALFA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRONG
CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI MỘC CHÂU
Chuyên ngành: Chăn Nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS. MAI ANH KHOA
THÁI NGUYÊN -2017
nghiệp, các em sinh viên đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017
Học viên
Lê Xuân Tùng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................... ii
MỤC LỤC ......................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
1. Đặt vấn đề...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU.............................................................. 4
1.1. Đặc tính của cây họ đậu ............................................................................ 4
1.1.1. Giới thiệu về cây họ đậu và đặc điểm của cỏ Alfalfa ............................... 4
1.1.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá một số loại
cây họ đậu................................................................................................ 6
1.1.3. Chất kháng dinh dưỡng trong cây họ đậu ............................................... 8
1.2. Cấu trúc khẩu phần ăn của bò sữa............................................................ 12
1.2.1. Tỷ lệ xơ trong khẩu phần ...................................................................... 12
1.2.2. Tỷ lệ gluxit dễ tiêu hóa ......................................................................... 13
1.2.3. Tỷ lệ mỡ trong khẩu phần ..................................................................... 15
3.2. Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa và
khả năng tiêu hóa in vitro gas production ............................................. 34
3.2.1. Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa ..... 34
3.2.2. Khả năng tiêu hóa in vitro gas production ............................................ 38
3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ trong khẩu phần ....................................... 45
3.3.1. Ảnh hưởng đến năng suất sữa ............................................................... 45
3.3.2. Chất lượng sữa ...................................................................................... 49
3.3.3. Tiêu thụ VCK ....................................................................................... 51
3.3.5. Biến đổi khối lượng của bò sữa trong thời gian thí nghiệm ................. 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 56
1. Kết luận ....................................................................................................... 56
2. Đề nghị ........................................................................................................ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 58
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ABBH: Axit béo bay hơi
ADF (Acid Detergent Fibre): Xơ không tan trong dung môi axít
CF (Crude Fibe): Xơ thô
CP (Crude Protein): Protein thô
CP: Chính phủ
cs: Cộng sự
ĐC: Đối chứng
DXKĐ: Dẫn xuất không đạm
EE (Ether Extract): Mỡ thô
GE (Gross Energy): Năng lượng thô
HU: Huyện ủy
KL: Kết luận
Bảng 3.10. Một số thành phần chất lượng sữa của bò trong thời gian thí nghiệm ... 49
Bảng 3.11. Tiêu thụ VCK qua các giai đoạn ................................................. 52
Bảng 3.12. Tiêu tốn Kg VCK/ Kg sữa ............................................................ 53
Bảng 3.13. Biến đổi khối lượng của bò sữa trong thời gian thí nghiệm ......... 54
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Số lượng bò sữa của huyện qua các năm ........................................ 30
Hình 3.2. Quy mô chăn nuôi bò sữa của huyện .............................................. 32
Hình 3.3. Tình hình sử dụng cỏ Alfalfa tại Mộc Châu- Sơn La ..................... 34
Hình 3.4. Tỷ lệ protein tho trong khẩu phần ................................................... 36
Hình 3.5. Tỷ lệ NDF, ADF trong khẩu phần ................................................. 37
Hình 3.6. Lượng khí tích lũy trung bình khi lên men in vitro gas
production của các khần ............................................................... 39
Hình 3.7. Lượng khí sinh ra tích lũy tại thời điểm 3h và 24 của các khẩu phần ..... 40
Hình 3.8. Lượng khí tích lũy khi lên men in vitro gas production tại các
thời điểm khác nhau (ml) .............................................................. 41
Hình 3.9. Đặc điểm sinh khí khi lên men in vitro gas production của các
khẩu phần cỏ Alfalfa ..................................................................... 43
Hình 3.10. Tỷ lệ tiêu hóa của các khẩu phần cỏ Alfalfa ................................. 44
Hình 3.11. Năng lượng trao đổi của các khẩu phần cỏ Alfalfa ....................... 45
Hình 3.12. Năng suất sữa của bò trước thí nghiệm ......................................... 46
Hình 3.13. Năng suất sữa của bò sau thí nghiệm 1 tháng .............................. 48
Hình 3.14. Năng suất sữa trung bình của các lô thí nghiệm ........................... 49
Hình 3.15. Chất lượng sữa của các lô thí nghiêm ........................................... 50
Hình 3.16. Tiêu thụ VCK qua các giai đoạn ................................................... 53
Hình 3.17. Tăng khối lượng bò trong thời gian thí nghiệm ............................ 55
nghi, sinh trưởng, có khả năng sản xuất sữa đạt khá cao so với khu vực, giúp
2
hình thành nên giống bò HF Việt Nam. Trước đây đàn bò được nuôi theo
phương thức tập trung, từ những năm 1990 đã được giao khoán đến hộ gia
đình. Mô hình chăn nuôi hiện nay của Mộc Châu là chăn nuôi hộ gia đình, kết
hợp với các trung tâm giống có quy mô 1.000 con/trung tâm, được đầu tư các
trang thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn châu Âu. Trong những năm qua huyện
Mộc Châu đã chọn được ra nhiều loại giống cỏ làm thức ăn cho vật nuôi, cỏ
mới năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với sinh thái của vùng. Cỏ Alfalfa
được biết đến như một loại thức ăn cao cấp cho bò sữa cao sản với đặc tính
nổi trội là có hàm lượng protein cao (19 - 22%) và hàm lượng xơ đặc biệt dễ
tiêu hóa. Tuy nhiên, để sử dụng cỏ này trong khẩu phần một cách hợp lý và
khoa học trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu còn chưa được xem xét một
cách khoa học, người dân mới chỉ sử dụng theo kinh nghiệm . Do vậy, xuất
phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu một số
khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại
Mộc Châu”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tình hình sử dụng cỏ Alfalfa trong chăn nuôi bò sữa tại
Mộc Châu.
- Lựa chọn được khẩu phần phù hợp nhất khi sử dụng cỏ Alfalfa trong
chăn nuôi bò sữa tại Mộc châu. .
- Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ Alfalfa trong khẩu phần, để nuôi bò sữa
HF phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật của địa phương.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ðề tài góp phần cung cấp thông tin cần thiết, không những có ý nghĩa về
mặt khoa học mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
định đạm. Cây họ đậu, trong vai trò của cây chủ, còn vi khuẩn nốt rễ, trong
vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra mối quan hệ cộng sinh (Họ đậu,
2011), [14].
Cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng cao, do chúng chứa hàm lượng protein,
vitamin, khoáng chất cao. Giá trị dinh dưỡng của cây đậu được giữ đều trong
cả chu kỳ hơn là cỏ hòa thảo. Khác với cỏ hòa thảo, khi tuổi tăng lên và trong
mùa khô giá trị dinh dưỡng của cây họ đậu ít thay đổi. Trong điều kiện đất
nghèo dinh dưỡng thì năng suất sẽ giảm trước so với tỷ lệ protein trong cây
đậu. Điều này là ngược với cỏ hòa thảo, ở cỏ hòa thảo tỷ lệ protein trong cây
sẽ bị giảm rồi mới đến năng suất.
Cây họ đậu đang được đề nghị sử dụng làm thức ăn ở các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới. Một trong các cây họ đậu được khuyến cáo như là thức ăn
5
bổ sung protein cho gia súc, gia cầm là cỏ Alfalfa, tên khoa học là (Lucern)
còn gọi là Cỏ Linh Lăng, Mộc Túc Braxin. Cỏ Ba Lá là cây họ đậu, thân thảo
có giá trị dinh dưỡng rất cao, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy
sản... được thế giới rất quan tâm nghiên cứu đã trên 50 năm.
Các nhà khoa học đã phát hiện trong cỏ Alfalfa có các thành phần như:
các axit amin, vitamin, Protein, β-caroten, axit hữu cơ, ancaloid, fitoleid...
Tất cả 12 axit amin không thay thế được đều có hàm lượng khá cao trong đó.
Đặc biệt, βcaroten đạt hàm lượng kỷ lục là 94,6 ppm (Zehnder C. M, 1998) [65].
Các yếu tố vi lượng tự nhiên bảo đảm cho các vật nuôi có năng suất
cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng bệnh mạnh, không có các phản ứng
phụ. Với hàm lượng βcaroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10% đến
20% trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng
đỏ to, màu đỏ đậm, tỉ lệ nở con cao hơn hẳn (Lê Văn An và cs, 2008)
[1].Trong nghiên cứu của Lê Công Quân (2006) [15], cho rằng nhờ các chất
vật nuôi. Trong khẩu phần có bổ sung protein của cỏ có chứa 70g protein thô/
kg CK hoặc ít hơn cho thấy: lượng CK thu nhận, khả năng tiêu hóa và năng
suất vật nuôi tăng (Umuna và cs, 1995) [62].
Trong nghiên cứu của Onibi và cs ( 2008) [52] lá đậu ván tính theo chất
khô có chứa 23,40% protein thô; 1,90% lipit thô; 8,34% chất xơ thô; 11,60%
khoáng tổng số và 46,70% DXKĐ. Những giá trị này nhìn chung tương tự
với hàm lượng của hầu hết các loại bột lá như đậu triều.
Theo Nworgu và cs, (2007) [51] bột lá đậu leo rất giàu protein thô
(22,45%), phốt pho (0,53%), canxi (0,80%), kali (0,72%) và magiê (0,30%).
Giá trị protein thô của bột lá đậu leo trong nghiên cứu này cao hơn báo cáo
của Aletor và cs, (1994) [33] là (12,50%), nhưng tương tự như báo cáo của
Nworgu, (2004) [50] là (23,24%) .
Bột thân lá đỗ nho nhe chứa hàm lượng protein thô là 12,69%, lipit thô
2,09%; khoáng tổng số 11,22%; xơ thô 43,52% và đầy đủ các axit amin (Trần
7
Tố , 2006) [26] . Theo Nguyễn Thị Tú và cs, (2009) [27] hàm lượng chất dinh
dưỡng của thân, lá đậu nho nhe khá cao, đặc biệt là hàm lượng protein thô
khoảng 10 - 25%.
Keo giậu được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi. Hàm lượng protein thô
của keo giậu biến động theo loài và giống. Khi nghiên cứu trên 9 loài keo
giậu cho thấy: CK dao động từ 15,56% đến 22,34% (Gupta và cs, 1986) [40].
Keo giậu trồng tại Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao. Trong
nghiên cứu của Lê Hòa Bình và cs, (1993) [2] hàm lượng protein thô đạt 25%
CK. Các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà (1996) [10] cho biết protein thô dao
động từ 26,4 - 26,7% CK. Theo Từ Quang Hiển và cs (2008) [13] keo giậu
trồng tại Thái Nguyên chứa 96,3%; 14,8% protein; 0,6%; 2,7% lipit tương
ứng lá tươi và bột lá.
so với các bột lá họ đậu. Vì vậy để thay thế một lượng lớn bột lá họ đậu trong
khẩu phần ăn của động vật dạ dày đơn cần chú ý đến hàm lượng lysine. Sự
thiếu hụt của axit amin có chứa lưu huỳnh cũng là một trong những hạn chế
khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng của bột lá họ đậu.
Cỏ Stylosanthes cùng với việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa học
cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó.
Hàm lượng nitơ của S. guianensis vào khoảng 1,5 - 3% tính theo CK.
Ở Việt Nam, thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Alfalfa
cũng được các nhà khoa học công bố. Cỏ Alfalfa có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ
lệ protein thô đạt 19,8%. Trong nghiên cứu của Lê Văn An và cs, (2008) [1]:
cỏ Alfalfa trồng tại Lâm Đồng chứa 17,7% CK, protein thô 24,46%, khoáng
11,38%, lipit 3,55%. Cỏ Alfalfa ở dạng viên chứa 23,6% protein thô và 44,5%
xơ trung tính. Cỏ Alfalfa khô có 22,0% protein thô và 43,9% xơ trung tính
(Akayezu và cs, 1997) [29].
1.1.3. Chất kháng dinh dưỡng trong cây họ đậu
Trong các cây họ đậu, sự cố định khí nitơ làm thoả mãn nhu cầu đạm.
Trước tiên nitrogen liên kết tạo những sản phẩm alkaloide hoặc những axit
9
amin bất thường không thông dụng. Như vậy, chúng được tích lũy lại trong
cơ thể thực vật tạo nên sản phẩm trao đổi thứ cấp. Thường những axit amin
này cấu trúc gần giống với những axit amin thiết yếu. Chúng không thực hiện
được chức năng sinh học như những axit amin thiết yếu, như vậy trở thành
yếu tố đối kháng với axit amin gần giống với nó. Khi động vật ăn loại này và
hấp thu vào cơ thể, nó làm thay đổi một số bước phản ứng trong trao đổi axit
amin gây rối loạn quá trình trao đổi chất và gây độc cho cơ thể. Theo D'Mello
(1992) [37] thì nhiều loại cây bộ đậu nhiệt đới có chứa nhiều axit amin bất
thường. Nhiều trường hợp ngộ độc trên vật nuôi do ăn phải hạt một số cây họ
Iodthyrosine. Do vậy, ở gia súc nhai lại, khi ăn nhiều lá cây keo giậu (với tỷ lệ
> 30% lá keo giậu trong khẩu phần) gây ức chế sinh trưởng, bướu cổ, hàm
lượng thyrosine trong máu giảm. Tuy nhiên, hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ
làm giảm đáng kể hàm lượng mimosine bằng cách hình thành các chất không
độc hoặc thải ra ngoài cơ thể. Khác với động vật nhai lại, ở động vật dạ dày
đơn, mimosine là nguyên nhân gây chậm phát triển, rụng lông, đục thủy tinh
thể mắt và các vấn đề sinh sản. Mức Leucaena trên 5 - 10% trong khẩu phần
cho gia cầm, lợn và thỏ thường dẫn đến khả năng sinh trưởng giảm. Ở gà,
nếu cho ăn từ 8 - 10% lá keo giậu thì xuất hiện rụng lông, tuyến giáp phát
triển mạnh, giảm khả năng sinh trưởng, giảm sản lượng trứng (Pakyavivat và
cs, 1985) [54].
Saponin
Về bản chất hoá học thì chất saponin có nhiều loại hợp chất hoá học
khác nhau. Đặc tính chung của chúng là trong nước dễ dàng tạo thành các bọt
như bọt xà phòng. Saponin có chứa nhóm chất Aglycone liên kết với một
hoặc nhiều phân tử đường hoặc với olygosaccharide. Saponin gây
hypocholesterolaemia bằng cách liên kết cholesteron làm cho nó không có sẵn
cho sự hấp thụ. Chúng cũng có thể làm tan máu của các tế bào hồng cầu và
gây độc. Saponin được đặc trưng bởi vị đắng, tính chất tạo bọt, có tính chất
11
phá huyết. Saponin là chất kháng dinh dưỡng gặp trong quá trình nghiên cứu
cỏ alfalfa. Nó làm chậm sự phát triển của động vật dạ dày đơn do giảm lượng
thức thức ăn tiêu thụ (Cheeke và cs, 1985) [34]. Tương tự, saponin cũng được
tìm thấy trong lá cây điền thanh (3,71%) (Shqueir và cs, 1989) [59]. Bột lá
điền thanh chứa 0,71% saponin trong khẩu phần đã thấy gà bị giảm sinh
trưởng. Khi thí nghiệm trên gia súc người ta nhận thấy trong chế phẩm này
có chất ức chế sinh trưởng đối với gà, lợn và bê. Trong dịch ép cỏ Alfalfa
cs, (1980) [43] đã chỉ ra rằng các chất ức chế protease có thể gây ra chậm tăng
trưởng, và phì đại tuyến tụy ở gà. Nó ức chế tuyến tụy tiết ra enzyme, các
enzym tuyến tụy rất giàu các axit amin lưu huỳnh, điều này sẽ gây ra sự mất
mát methionine và cysteine để tổng hợp các mô cơ thể.
Các glycoalkaloids, solanine và chaconine liên quan đến đường tiêu hóa
rối loạn và rối loạn thần kinh. Tannin làm giảm tiêu thụ thức ăn ở động vật,
hạn chế tiêu hóa protein và enzyme. Chúng có thể gây ra giảm vị ngon và tốc
độ tăng trưởng (Aletor, 1993) [30].
1.2. Cấu trúc khẩu phần ăn của bò sữa
Đối với bò sữa, việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng không thôi
chưa phải là đủ. Điều hết sức quan trọng là phải phối hợp được một khẩu
phần ăn phù hợp với cấu tạo của đường tiêu hóa loài nhai lại và đáp ứng được
nhu cầu tiết sữa cao của bò sữa.
Khi phối hợp khẩu phần ăn cho bò sữa nên đảm bảo được tỷ lệ thích
hợp của các thành phần trong khẩu phần. Sau đây là một vài tỷ lệ quan trọng.
1.2.1. Tỷ lệ xơ trong khẩu phần
Ngoài vai trò là nguồn cung cấp năng lượng, chất xơ còn có những vai
trò khác rất quan trọng trong dinh dưỡng loài nhai lại là đảm bảo hoạt động
bình thường của dạ cỏ thông qua: kích thích nhai lại và tiết nước bọt, giúp ổn
định pH dịch dạ cỏ (Van Soest và cs, 1985) [63], điều chỉnh lượng thu nhận
tự do của gia súc.
13
Số lượng VSV, chủng loại và các sản phẩm lên men do chúng tạo ra
rất biến động và phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thức ăn thu nhận. Một trong
các sản phẩm lên men quan trọng trong dạ cỏ là axit béo bay hơi (ABBH).
Lượng ABBH được hình thành hàng ngày phụ thuộc vào điều kiện thức ăn.
Với điều kiện cho ăn phù hợp, hàng ngày trong dạ cỏ hình thành 3 – 5 lít
đường trên 1kg thể trọng gia súc. Nhưng khẩu phần có chứa tới 6 - 10g đường
trên 1kg thể trọng gia súc sẽ ức chế rõ rệt sự tiêu hóa xơ. Nguyên nhân có lẽ
đúng nhất về ảnh hưởng xấu của nhiều đường trong khẩu phần đến sự tiêu hóa
chất xơ là sự nâng cao độ axit trong dạ cỏ, ảnh hưởng xấu đến hoạt tính của
VSV phân giải xơ. Rõ ràng là pH thích hợp nhất của môi trường đối với VSV
phân giải xơ là ở trong phạm vi 6,8 - 7,2. Khi bổ sung nhiều đường chỉ số pH
giảm đến 5 hoặc thấp hơn.
Sự thiếu hụt các chất chưa nitơ dự trữ trong dạ cỏ cũng có ý nghĩa
không kém quan trọng có lẽ vì VSV lên men đường sử dụng tất cả các chất
chứa nitơ hòa tan có trong dịch dạ cỏ và vi khuẩn phân giải xơ bị thiếu nitơ..
Các thí nghiệm cho thấy rằng, ở các khẩu phần giàu protein, nhu cầu thích
hợp nhất về đường có thể cao hơn 20 - 30% và ảnh hưởng xấu của đường đến
sự tiêu hóa xơ có thể biểu hiện yếu hơn nhiều hoặc hoàn toàn không có
(Orskov và cs, 1980) [53].
Việc có đủ lượng gluxit hòa tan trong khẩu phần còn có ý nghĩa quan
trọng trong việc tạo ra các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của các
VSV có vai trò quan trọng trong quá trình lợi dụng NH3, axit amin, amit,
nitrat và các chất chứa nitơ khác theo thức ăn đi vào hoặc là được tạo thành ở
dạ cỏ. Mức độ sử dụng nitơ NH3 hình thành ở dạ cỏ từ sự phân giải protein và
các chất chứa NPN cho các quá trình tổng hợp phụ thuộc nhiều vào sự cung
cấp các chất sinh năng lượng cho VSV. Thêm vào khẩu phần các thức ăn giàu
tinh bột hay đường sẽ làm giảm mức độ NH3 ở dạ cỏ và làm tăng sự tổng hợp
protein VSV.
15
Các nghiên cứu của Kozaki và cs, (1992) [42] đã xác nhận rằng nitơ
thức ăn ở dạ cỏ được sử dụng có hiệu quả nhất khi nuôi bò với khẩu phần có
khoảng 2 - 3g đường cho 1kg thể trọng động vật. Tác giả còn quan sát thấy
Mỡ trong khẩu phần thức ăn của bò sữa phụ thuộc vào lượng mỡ bài
tiết ra theo sữa trong một ngày đêm. Khối lượng mỡ tối thiểu trong khẩu phần
khoảng 40% so với khối lượng mỡ trong sữa, thích hợp nhất là 60%. Nhiều
tác giả cho rằng mức độ thích hợp nhất là 20 - 40g mỡ trong 1kg chất khô
khẩu phần (Stokes và cs, 1992) [60].
1.2.4. Tỷ lệ nitơ tiêu hóa/năng lượng trao đổi trong khẩu phần
Có nhiều nghiên cứu chứng tỏ có sự ảnh hưởng của mật độ năng lượng
trong khẩu phần đến việc sử dụng N (Orskov và cs, 1980) [55]
Năng lượng được bò sữa sử dụng có hiệu quả cao khi protein cung cấp
15 - 25% năng lượng thuần. Năng lượng sẽ được sử dụng kém hiệu quả khi
protein cung cấp dưới 15% hoặc vượt 25% năng lượng thuần. Tác giả cũng
cho biết rằng hiệu suất sử dụng năng lượng trao đổi (NLTĐ) tăng khi tỷ lệ
protein trong khẩu phần tăng, nhưng sau đó hiệu suất này không thay đổi mặc
dù tỷ lệ protein trong khẩu phần vẫn tăng. Khi tỷ lệ protein trong khẩu phần
vượt qua mức tới hạn (critical proportion), hiệu suất sử dụng NLTĐ bắt đầu
giảm xuống.
Thí nghiệm trên cừu phát hiện thấy cân bằng nitơ độc lập với NLTĐ
thu nhận khi nitơ thu nhận thấp hơn so với nhu cầu của gia súc. Tuy nhiên,
khi nitơ thu nhận cao hơn so với nhu cầu của gia súc, cân bằng nitơ sẽ tăng
khi NLTĐ thu nhận tăng.
Khi tỷ lệ protein thấp, thu nhận VCK của gia súc sẽ thấp do hoạt động
phân giải thức ăn của VSV giảm dẫn đến tỷ lệ phân giải thức ăn thấp. Khi nitơ
thu nhận vượt quá nhu cầu của gia súc, cân bằng năng lượng giảm và hiệu
suất sử dụng NLTĐ giảm.
Lượng nitơ tiết ra trong sữa cũng như năng suất sữa hàng ngày phụ
thuộc vào NLTĐ thu nhận cũng như giai đoạn của chu kỳ sữa và các thông số