Bạo lực gia đình đối với trẻ em - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-------  -------

NGUYỄN THỊ THU NA

BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN PHƢƠNG LAN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy, cô giáo khoa
Luật Dân sự, khoa Sau Đại học, trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình dạy bảo,
truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Nguyễn Phương Lan,
người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp tôi hoàn
thành luận văn.
Đồng thời, tôi cũng xin được cảm ơn cha mẹ, người thân và các bạn học viên
đã luôn ở bên, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như

1.3.1. Bạo lực về thể chất ...................................................................................... 13
1.3.2. Bạo lực về tinh thần .................................................................................... 13
1.3.3. Bạo lực về kinh tế ....................................................................................... 14
1.3.4. Bạo lực về tình dục ..................................................................................... 14
1.4. Hậu quả của hành vi BLGĐ đối với trẻ em ................................................ 15
1.5. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với việc PCBLGĐ đối với trẻ em 18
1.6. Một số quy định của pháp luật quốc tế về BLGĐ đối với trẻ em ................. 20
CHƢƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM ..................… 22
2.1. Các nguyên tắc PCBLGĐ đối với trẻ em ................................................... 22
2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể liên quan đến hành vi BLGĐ đối
với trẻ em…… .............................................................................................. 25
2.2.1. Quyền, nghĩa vụ của trẻ em là nạn nhân BLGĐ .......................................... 25
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của người có hành vi BLGĐ......................................... 27
2.3. Các biện pháp phòng ngừa BLGĐ đối với trẻ em ....................................... 30
2.4. Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em bị BLGĐ ............................................................. 33
2.4.1. Các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ trẻ em bị BLGĐ ..................................... 33
2.4.2. Các biện pháp trợ giúp về vật chất và tinh thần .......................................... 37
2.5. Trách nhiệm của các chủ thể trong PCBLGĐ đối với trẻ em ....................... 38
2.5.1. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình .............................................................. 38
2.5.2. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức ........................................................ 40


1
2.6. Xử lý hành vi bạo lực đối với trẻ em trong gia đình ................................... 41
2.6.1. Xử lý vi phạm kỷ luật người có hành vi BLGĐ đối với trẻ em ................... 42
2.6.2. Xử lý theo luật hành chính .......................................................................... 43
2.6.3. Xử lý theo pháp luật dân sự ........................................................................ 44
2.6.4. Xử lý theo pháp luật hình sự ....................................................................... 46
CHƢƠNG 3 THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM VÀ

VKSNDTC

– Viện kiểm sát nhân dân tối cao

BLDS

Bộ luật dân sự năm 2005

BLHS

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

CƯQTE 1989

Công ước về quyền trẻ em năm 1989

Luật BVCS&GDTE

Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

Luật CBCC 2008

Luật cán bộ công chức năm 2008

Luật HN&GĐ 2014

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Nghị định 167/2013/NĐ-CP


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn dành tình cảm và sự quan tâm
đặc biệt cho trẻ em. Sự quan tâm đó không chỉ bắt nguồn từ tình yêu thương vô
hạn đối với trẻ em, mà còn bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng của chiến lược
“vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Đặc biệt, sự
quan tâm đó còn được thể hiện từ việc nhận thức vị trí, vai trò của trẻ em: “Ngày
nay các cháu là nhi đồng. Ngày mai các cháu là người chủ của nước nhà, của
thế giới, khi các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có
chiến tranh”.
Tốc độ phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua đã phần nào tạo ra
áp lực mới với các gia đình Việt Nam. Không phải mọi thay đổi đồng hành với
quá trình phát triển kinh tế nhanh đều mang tính tích cực và khi sự phân hóa giàu
nghèo ngày càng lớn thì càng nhiều người dân di cư ra thành phố cũng như khắp
nơi trong nước để tìm việc làm. Hệ quả của sự gia tăng chênh lệnh về kinh tế,
nạn thất nghiệp, tốc độ đô thị hóa nhanh, tình trạng di cư, gia đình tan vỡ và xói
mòn các giá trị truyền thống là tỷ lệ trẻ em bị bỏ rơi, quên lãng, bị lạm dụng và
bị bóc lột ngày càng cao.
Về mặt lý luận, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều
sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) và đã ban hành
nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp như: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình
(Luật HN&GĐ), Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật
BVCS&GDTE), Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Hình sự... và đặc biệt là Luật
PCBLGĐ. Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời
sống xã hội trong lĩnh vực PCBLGĐ. Nhưng đánh giá một cách khách quan thì
các quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống. Sự quan tâm và hiểu
biết của người dân về lĩnh vực này chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực gia
đình (BLGĐ) chưa có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực và hơn thế nữa




3
- Nguyễn Vương Thuỳ Dương (2013), “Trẻ em bị xâm hại tình dục trong
gia đình - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ, TS. Nguyễn Phương Lan
hướng dẫn, Hà Nội;
- Vũ Lê Thu Trang (2014), “Những vấn đề pháp lý của việc PCBLGĐ
giữa vợ và chồng ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học; PGS.TS. Hà
Thị Mai Hiên hướng dẫn, Hà Nội;
Có thể thấy những công trình này nghiên cứu một cách toàn diện và tổng
quát về các quy định của pháp luật về vấn đề BLGĐ, nêu ra được thực trạng và
những giải pháp để hạn chế tình trạng BLGĐ. Tuy nhiên, đối tượng mà các công
trình hướng đến là bạo lực giữa vợ và chồng, vấn đề bạo lực với người cao tuổi
trong gia đình chứ chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề
BLGĐ đối với trẻ em. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về BLGĐ đối với
trẻ em từ góc độ luận văn thạc sỹ luật học.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu một số vấn đề lý luận về
BLGĐ đối với trẻ em, các quy định của pháp luật về PCBLGĐ đối với trẻ em,
thực trạng BLGĐ đối với trẻ em, tìm ra một số giải pháp nhằm hạn chế vấn đề
bạo lực đối với trẻ em trong gia đình ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đảm bảo mục đích nên trên, luận văn xác định các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hành vi BLGĐ đối
với trẻ em, các đặc điểm của hành vi BLGĐ đối với trẻ em.
+ Đánh giá thực trạng pháp luật về PCBLGĐ đối với trẻ em, làm rõ tình
hình BLGĐ đối với trẻ em trong những năm qua, từ đó phân tích các nguyên
nhân dẫn đến thực trạng trên làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm hạn
chế tình trạng BLGĐ đối với trẻ em.
+ Nghiên cứu đưa ra các giải pháp hợp lý, toàn diện và mang tính khả thi
trong PCBLGĐ đối với trẻ em, góp phần giảm thiểu hành vi bạo lực tiến tới xóa

dụng pháp luật về PCBLGĐ đối với trẻ em trong thời gian qua.


5
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành ba phần chính: phần mở đầu, kết luận, phần
nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về BLGĐ đối với trẻ em.
Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh
hành vi BLGĐ đối với trẻ em.
Chương 3: Thực trạng BLGĐ đối với trẻ em và một số giải pháp nhằm
hạn chế BLGĐ đối với trẻ em.


6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM
1.1. Khái niệm trẻ em
Trong thực tế có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau khi xem xét, giải
quyết những vấn đề liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em. Người ta thường
sử dụng cụm từ “trẻ em”, “trẻ con” hay “trẻ thơ” để chỉ những người ở một độ
tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của con người. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm
trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi. Điều này có nghĩa là một cá nhân có thể
được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào độ tuổi của người đó tại thời điểm
phát sinh sự kiện.
Theo CƯQTE: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi
thành niên sớm hơn”.
Điều 1 Luật BVCS&GDTE quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới

vào từng độ tuổi khác nhau để xác định mức độ nhận thức, khả năng tự chịu trách
nhiệm về hành vi của trẻ em trong mỗi lĩnh vực, mỗi hành vi phù hợp với đối tượng
điều chỉnh của mỗi ngành luật. Luật BVCS&GDTE quy định trực tiếp về các quyền
cơ bản, bổn phận của trẻ em; quy định về những đối tượng xã hội liên quan đến trẻ
em, đó là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em. Đây là cơ sở pháp lý xác đáng để xác định độ tuổi trẻ em, được
coi là chuẩn để xác định độ tuổi công dân Việt Nam được gọi là trẻ em. Với tuổi đó,
trẻ em được thực hiện những quyền gì? Có những quy chế nào để đảm bảo thực
hiện? Trẻ em là người được hưởng quyền, các em có thể tự thực hiện quyền hoặc
thực hiện quyền của mình phụ thuộc vào người lớn hoặc các cơ quan có thẩm
quyền. Vì vậy, có thể hiểu: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, còn non nớt
về thể chất lẫn tinh thần, có những quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định và
được đảm bảo thực hiện trong thực tế”.


8
1.2. Khái niệm và đặc điểm của hành vi BLGĐ đối với trẻ em
1.2.1. Khái niệm BLGĐ đối với trẻ em
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn
áp hoặc lật đổ” [34]. Với nghĩa chung đó, bạo lực có thể được sử dụng cả với nghĩa
tiêu cực (bạo lực với trẻ em, BLGĐ, bạo lực giới…) hoặc tích cực (bạo lực cách
mạng, dùng bạo lực để trấn áp kẻ phạm tội…). Tính tiêu cực hay tích cực của bạo
lực phụ thuộc vào mục đích sử dụng bạo lực. Trong quan hệ gia đình, về nguyên tắc
là không được sử dụng bạo lực vì bất cứ mục đích gì. Bởi BLGĐ thường gây ra
những hậu quả tiêu cực trong quan hệ gia đình, làm tổn thương thể chất lẫn tinh
thần đối với nạn nhân BLGĐ, làm sứt mẻ tình cảm gắn bó giữa các thành viên gia
đình. Ngoài ra, BLGĐ còn gây mất trật tự xã hội, làm ảnh hưởng đến sự phát triển
bền vững của gia đình cũng như sự phát triển của xã hội.
Theo Luật mẫu về BLGĐ của Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc ngày
02/02/1996 thì: “BLGĐ là tất cả hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần, tình dục dựa

đình, dùng sức mạnh gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh
thần, tình dục, kinh tế đối với trẻ em trong gia đình.
1.2.2. Đặc điểm của hành vi BLGD đối với trẻ em
Gia đình là nơi trú ngụ của hạnh phúc, cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
thơ, nơi trở về sau mỗi lần vấp ngã đối với mỗi con người. Nhưng trong nhiều
trường hợp, bạo lực đang trở thành một trong những nguy cơ biến gia đình thành
“địa ngục trần gian”. Dù ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, BLGĐ
không chỉ để lại hậu quả về thể chất, tinh thần mà còn ảnh hưởng đến kinh tế - xã
hội. BLGĐ làm xói mòn các giá trị, chuẩn mực, truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc, phá vỡ sự bền vững của gia đình. Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý
khá đặc thù do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, dễ tổn thương, hiếu
động và rất thiếu kiên nhẫn. Trẻ có xu hướng muốn tự khẳng định, được đánh giá,
được tôn trọng; nhiều hoài bão và nhìn chung còn thiếu thực tế, thiếu kinh nghiệm.
Từ khái niệm BLGĐ đối với trẻ em đã trình bày ở trên, có thể rút ra một số đặc
điểm của BLGĐ đối với trẻ em như sau:


10
* Về chủ thể thực hiện
BLGĐ đối với trẻ em là hành vi mang tính bạo lực của các thành viên trong
gia đình đối với trẻ em. Những thành viên trong gia đình là những người có quan hệ
huyết thống hoặc nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền theo quy định
của Luật HN&GĐ đối với trẻ em. Khoản 16 Điều 3 luật HN&GĐ quy định: “Thành
viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha
mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con
rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ
khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha
khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì,
chú, cậu, bác ruột và cháu ruột”…
Để xác định một hành vi là hành vi BLGĐ đối với trẻ em, phải căn cứ vào

mà không phản kháng lại hành vi bạo lực từ các thành viên khác trong gia đình. Bên
cạnh đó, trẻ em không tự chăm sóc được bản thân, thường phụ thuộc vào người lớn.
Vì vậy, khi các thành viên trong gia đình có hành vi đánh đập, các em thường im
lặng, chịu đựng vì sợ sẽ không có ai nuôi dưỡng, chăm sóc mình.
Với các thành viên trong gia đình, tâm lý “kính già yêu trẻ”, “kính trên
nhường dưới” luôn được đề cao. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn
hóa, sự áp đặt của những thành viên lớn tuổi đối với các thành viên nhỏ hơn trong
gia đình là khá phổ biến và thường xuyên. Nhưng vì các em là người phụ thuộc vào
người lớn bị ràng buộc bởi tình cảm, sự nuôi dưỡng cho đến kinh tế, nên nếu có xảy
ra tình trạng bạo lực thì các em thường chọn cách giữ im lặng, không dám tiết lộ với
người khác hoặc với các cơ quan chức năng. Các em cũng không có khả năng phản
kháng, chống đỡ do sự phụ thuộc về tình cảm, vật chất trong cuộc sống hàng ngày.
Vì thế, để phát hiện hành vi bạo lực đối với trẻ em trong gia đình là một vấn đề rất
khó khăn.
* Hành vi BLGĐ đối với trẻ em thể hiện quyền của người lớn trong gia đình
Các ông bố bà mẹ luôn dành tất cả tình cảm, sự kỳ vọng của người làm cha
làm mẹ đối với con cái của mình. Có những lúc lời nói không nghe thì phải dùng
đến roi vọt, điều đó là khó tránh khỏi. Mặt khác, Việt Nam là một nước Á Đông với
tư tưởng gia trưởng còn nặng nề, điều này có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề BLGĐ


12
đối với trẻ em ở nước ta hiện nay. Tính gia trưởng được chấp nhận trong gia đình và
ngoài xã hội đã tạo ra một vị trí đặc biệt cho những người đàn ông trong gia đình:
họ có quyền quyết định những vấn đề quan trọng, quyết định thái độ ứng xử với các
thành viên khác, họ có quyền “dạy dỗ” con theo ý mình... Những vụ bạo hành liên
tiếp được báo chí phát hiện và phản ánh gây xôn xao dư luận xã hội, khiến người ta
lo sợ về tính chất thô bạo mà người lớn đang ứng xử với các em. Với lối biện minh
“con hư thì cha mẹ phải dạy”, hay “con tôi sinh ra tôi có quyền đánh”, nhiều bậc
làm cha, làm mẹ đã tự cho mình cái quyền được dạy dỗ con cái bằng bạo lực. Họ

sao chép những hành vi của bố, mẹ từ đó hình thành nên những thói xấu, thậm chí
cha mẹ không thể giáo dục con cái khi chúng trưởng thành. BLGĐ đối với trẻ em sẽ
dẫn tới sự bế tắc trong suy nghĩ và hành vi của các em. Ngoài ra, BLGĐ còn làm
tổn thương sâu sắc đến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình khi có hành
vi bạo lực đối với trẻ em.
1.3. Các hình thức BLGĐ đối với trẻ em
1.3.1. Bạo lực về thể chất
Đó là các hành vi xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ trẻ em như:
đánh đập, ngược đãi, hành hạ về mặt thể xác, làm tổn hại đến sức khỏe, thậm chí
tước đoạt tính mạng của trẻ em… Những hành vi này thường khiến cho trẻ em đau
đớn, gây thương tích ở các mức độ khác nhau, thậm chí dẫn đến tử vong. Mặc dù
chưa có thống kê chính thức nhưng ngày càng nhiều vụ việc thương tâm xảy ra với
các bé. So với các hình thức bạo lực khác, bạo lực về thể chất rất nguy hiểm, dễ
nhận biết và dễ xác định cụ thể hậu quả đối với các em.
1.3.2. Bạo lực về tinh thần
Hình thức bạo lực tinh thần cũng tương đối phổ biến nhưng thường không
biểu hiện rõ nét và dễ nhận biết như hình thức bạo lực về thể chất. Bản thân các
hành vi bạo lực về thể chất, bạo lực về tình dục cũng gây ra những tổn thương
tinh thần vô cùng mạnh mẽ. Bạo lực về tinh thần còn là những hành vi lăng mạ,
xúc phạm danh dự, nhân phẩm, làm nhục, buộc làm những việc trái đạo đức,
thường xuyên tạo áp lực về tâm lý, gây tổn thương về tinh thần dưới những hình
thức như đe dọa bằng lời nói, thư, tin nhắn khủng bố… Những hành vi trên tác
động sâu sắc đến tâm lý các em, khiến các em cảm thấy xấu hổ, tủi nhục và bị cô


14
lập. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng trẻ em sống trong gia đình có tình trạng
bạo lực, bị lạm dụng tình dục và bị đối xử tồi tệ thường bị sang chấn tâm lý, học
kém, thụ động, tinh thần sa sút và có nguy cơ lặp lại chính những hành vi bạo lực
mà mình đã chứng kiến.

tâm lý cho các nạn nhân trẻ em, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và tương lai của
họ, đồng thời gây ra thương tật ở các mức độ khác nhau cả về thể chất và tinh thần
đối với trẻ em như: trầm cảm, thậm chí tử vong hoặc tự tử.
1.4. Hậu quả của hành vi BLGĐ đối với trẻ em
Những năm gần đây, tình trạng bạo lực đối với trẻ em có diễn biến phức tạp,
nhiều vụ bạo hành đối với trẻ em có những kết cục thật đau lòng. Điều đáng lo ngại
là BLGĐ đối với trẻ em phần lớn là các hành vi của cha mẹ đối với con, thể hiện ở
nhiều khía cạnh như chửi mắng, đánh đập gây thương tích, lăng mạ, làm nhục con
cái hoặc cưỡng ép con lao động quá sức, hay làm những công việc trái pháp luật,
trái với đạo đức xã hội. Đặc biệt, xu hướng ly hôn gia tăng cũng kéo theo hệ lụy là
nhiều trẻ phải chịu BLGĐ hết sức thương tâm. Chính vì vậy, BLGĐ đối với trẻ em
để lại những hậu quả hết sức nặng nề đối với các em, nó không chỉ xâm phạm đến
sức khỏe, tính mạng của trẻ em mà nó còn hằn lên trong nhân cách trẻ em những
nét tiêu cực trong tính cách, tình cảm, nhận thức.
BLGĐ làm tổn thương đến thể chất của trẻ. Bạo lực về thể chất (hành vi
đánh đập, tra tấn, ngược đãi về thể xác) sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe,
thậm chí là tước đoạt đi cả tính mạng của các em. Những hành vi này khiến trẻ em
đau đớn, bị thương tật với các mức độ khác nhau. Cơ thể trẻ đang phát triển, mọi
hành vi bạo lực đối với các em đều ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự phát triển thể
chất của trẻ. Bên cạnh đó hành vi bạo lực làm cho tinh thần trẻ sa sút cũng là
nguyên nhân làm cản trở sự phát triển thể chất ở trẻ. Trẻ em phải chứng kiến cảnh
BLGĐ làm tâm lý trẻ lo sợ, buồn chán không muốn ăn uống, vận động, mọi sinh
hoạt của trẻ bị ảnh hưởng. Đồng thời sự căng thẳng tinh thần làm cho các cơ quan
trên cơ thể trẻ cũng có những rối loạn trong hoạt động như vậy ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển thể chất ở trẻ. Hành vi bạo lực không chỉ để lại cho trẻ em hậu quả trực
tiếp tại thời điểm gây bạo lực mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em trong
tương lai đối với việc học tập và hoạt động của các em. Trẻ bị thương tật do hành vi


16


17
như không khắc phục được tư tưởng trầm uất triền miên trong cuộc sống riêng tư.
Trong sự bế tắc, chán nản, hoang mang trẻ có thể có các hành vi xử sự tiêu cực như:
tìm đến cái chết, hoặc kết bạn với ma túy, một số khác lại chọn con đường bỏ nhà đi
lang thang, rơi vào cảnh màn trời, chiếu đất dẫn đến bị lợi dụng, lạc vào con đường
tội lỗi. Thực tế đã cho thấy hiện nay vẫn còn khá nhiều bố mẹ không hiểu được rằng
việc dùng bạo lực với con cái cũng có nghĩa là tập cho chúng quen dần với việc
dùng bạo lực với người khác. Gần đây, báo chí đã nói nhiều đến những tội phạm
“nhí”, mà hành động cũng khủng khiếp không thua kém gì người lớn, cũng dao
găm và mã tấu, cũng đâm chém và giết người. Phần lớn các em đều lớn lên từ
những gia đình không hòa thuận và phải quen nhìn thấy những cảnh bạo lực không
chỉ trong phim ảnh mà trong chính gia đình của chúng. Vì thế, hành vi BLGĐ đối
với trẻ em là tội ác, cần phải được ngăn chặn kịp thời bởi suy rộng ra nó còn gây
nguy hại cho cả xã hội.
BLGĐ làm tổn thương sâu sắc đến mối quan hệ giữa các thành viên trong
gia đình khi có hành vi bạo lực đối với trẻ em. Phản ứng thường thấy ở những đứa
trẻ phải sống trong môi trường gia đình luôn có bạo lực là lảng tránh tất cả. Các em
mất hết lòng tin vào những người lớn trong gia đình, mất đi chỗ dựa vững chắc khi
gặp phải khó khăn. Hành vi BLGĐ của các thành viên gia đình đối với trẻ em làm
trẻ em mất đi lòng kính trọng đối với người lớn tuổi, cha mẹ, cô chú, trong gia đình.
Quan hệ tình cảm giữa những người thân trong gia đình với trẻ em bị bạo lực do đó
bị tổn thương sâu sắc, khó hàn gắn. Hơn nữa BLGĐ đối với trẻ em còn hủy hoại
tình cảm thiêng liêng mà các thành viên trong gia đình dành cho nhau. Ban đầu các
em xa lánh những cuộc cãi vãi, gây lộn thường xuyên và gần như vô bổ của cha mẹ.
Khi những cuộc cãi vã và gây lộn ngày càng nhiều lên và nặng nề tới mức không
thể chịu đựng nổi thì chúng sẽ lảng tránh cả cuộc sống gia đình. Từ sự xa lánh
cuộc sống gia đình đến tâm lý không tôn trọng gia đình, coi thường các mối
quan hệ gia đình thường không có một ranh giới nào thật rõ rệt. Khi mà khuôn
mẫu về cuộc sống gia đình chỉ là những lời qua tiếng lại, những nắm đấm và roi

chung của mỗi cá nhân trong gia đình cũng như ngoài xã hội, của các cơ quan, tổ
chức đoàn thể. Bằng sự quy định của pháp luật, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
không thể thờ ơ, không hành động, xử lý đối với hành vi BLGĐ đối với trẻ em.


19
- Là cơ sở để thực hiện các biện pháp chăm sóc, bảo vệ, hỗ trợ, phục hồi cho
trẻ em bị BLGĐ. Thành lập các cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ là trẻ em; tư vấn tâm
lý, pháp lý, chữa bệnh cho trẻ em bị bạo lực. Đây là một mục đích điều chỉnh quan
trong chỉ có trong pháp luật về PCBLGĐ mà không có trong các ngành luật khác.
Luật hành chính, luật hình sự chỉ xử lý hành vi bạo lực đối với trẻ em khi đã xảy ra
hành vi bạo lực mà không quan tâm đến công tác phòng ngừa và khắc phục hậu
quả; vấn đề bảo vệ trẻ em là nạn nhân của BLGĐ chỉ đặt ra khi đã có hành vi vi
phạm của người thực hiện hành vi bạo lựcvới mức độ nghiêm trọng nhất định. Còn
đối với Luật PCBLGĐ thường chú trọng đến công tác phòng, chống, khắc phục hậu
quả BLGĐ như tư vấn tâm lý, chữa trị các vết thương thể chất cho trẻ; vấn đề bảo
vệ trẻ em bị BLGĐ được thực hiện một cách liên tục, thường xuyên; đặt ra từ lúc
trước, trong và sau khi có hành vi bạo lực xảy ra. “Việc bảo vệ nạn nhân của bạo
lực cũng như hỗ trợ các em các điều kiện cần thiết về vật chất, tinh thần, chỗ ở, giải
quyết các hậu quả của bạo lực... là vấn đề có ý nghĩa thiết thực nhằm ngăn chặn,
hạn chế bạo lực và hậu quả của bạo lực. Đây là điểm có ý nghĩa khác biệt giữa
Luật PCBLGĐ với các văn bản pháp luật hành chính, hình sự. Các văn bản pháp
luật hành chính, hình sự chủ yếu tập trung vào việc xử lý hành vi bạo lực, xử lý
người gây ra bạo lực. Trong khi đó, Luật PCBLGĐ có tính chất “thân thiện” với
nạn nhân, đứng về phía nạn nhân và trên cơ sở đó đưa ra các quyết định để bảo vệ
nạn nhân khỏi BLGĐ có thể tiếp diễn trong tương lai” [14].
- Là cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi BLGĐ đối với trẻ em. Có thể nói
Luật PCBLGĐ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trong gia đình, do mối liên hệ tình
cảm, đạo đức chi phối là chủ yếu, nên khác với những biện pháp quyết liệt, mang
nặng tính hình sự như ở Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống ma


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status