PHÁT HUY VAI TRÒ của đội NGŨ TRÍ THỨC TỈNH sóc TRĂNG TRONG THỜI kỳ CÔNG NGHIỆP hóa – HIỆN đại hóa (GIAI đoạn 2005 2015) - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH
SÓC TRĂNG TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA –
HIỆN ĐẠI HÓA (GIAI ĐOẠN 2005 - 2015)
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S Đặng Thị Kim Oanh

Lưu Thị Ngọc Bích
Lớp: SP GDCD K34
MSSV: 6086443

CẦN THƠ,
12/2011

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………Trang 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………….Trang 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………..................Trang 2

2.3. Đặc điểm đội ngũ trí thức Sóc Trăng trong thời kỳ công nghiệp hóa –hiện
đại hóa (giai đoạn 2005 -2010)..........................................................Trang 46
2.2. Những mặt tích cực và hạn chế trong việc phát huy vai trò của đội ngũ trí
thức tỉnh Sóc Trăng ( giai đoạn 2005-2015)
2.2.1. Về số lượng và chất lượng...................................................Trang 47
2.2.2. Về cơ cấu, phân bố, sử dụng và đãi ngộ đối với trí thức của tỉnh Sóc
Trăng................................................................................................Trang 74
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH SÓC TRĂNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA

(GIAI ĐOẠN 20102015)

3.1. Phương hướng nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở tỉnh Sóc
Trăng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa
3.1.1. Về nhận thức........................................................................Trang 78
3.1.2. Về hoạt động........................................................................Trang 80
3.2. Giải pháp chủ yếu để đội ngũ trí thức tỉnh Sóc Trăng tiếp tục phát huy tốt
vai trò của mình trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
3.2.1. Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức phải gắn liền với việc đổi mới có
hiệu quả sự nghiệp giáo dục đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ trí thức của tỉnh
Sóc Trăng. Đồng thời, tăng cường đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học công
nghệ, giáo dục và chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với người trí thức tỉnh Sóc
Trăng...................................................................................Trang 83
3.2.1. Đổi mới nhận thức của xã hội về vai trò, vị trí của trí thức trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa . Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng và sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đối với trí thức Sóc
Trăng

...................................................................................................................Trang

cao dân trí, là lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa
học, kỹ thuật và công nghệ, tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa phát triển.
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng kinh tế trọng điểm
của cả nước nhưng lại là vùng có trình độ dân trí thấp mà đặc biệt là tỉnh Sóc
Trăng . Mặc dù là một tỉnh có những tiềm năng to lớn về đất đai, nguồn lợi tự
nhiên, đồng thời còn là mảnh đất có truyền thống yêu nước và cách mạng.
Những năm qua, Đảng bộ nhân dân địa phương, trong đó có lực lượng trí thức,
đã phát huy sức mạnh và khắc phục những khó khăn để từng bước đi lên hòa
nhập với sự phá của triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó trí thức tỉnh Sóc
Trăng vẫn còn yếu kém về nhiều mặt, bên cạnh những ưu điểm, đã bộc lộ
không ít những tồn tại và hạn chế như: số lượng còn ít, chất lượng chứ đáp ứng
yêu cầu của công nghiệp hóa – hiện đại hóa ; cơ cấu thiếu đồng bộ; phân bố
không đồng đều giữa các ngành các địa phương.

5


Vì vậy, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Sóc Trăng trong thời kỳ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay đang là vấn đề cấp bách. Việc nghiên
cứu vai trò và tính tích cực của đội ngũ trí thức Sóc Trăng là vấn đề hết sức khó
khăn, thời gian tiếp cận thực tế có hạn. Hơn nữa, chưa có tài liệu nào của tỉnh
bàn về vấn đề này một cách có hệ thống. Nhưng với mong muốn góp chút ít
hiểu biết còn hạn chế của mình vào việc phát huy vai trò và tính tích cực của trí
thức Sóc Trăng tác giả đã chọn đề tài: “ Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa ( giai đoạn
2005 -2015)” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu về thực trạng đội ngũ trí thức Sóc Trăng.
Từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò

để thực hiện nhiệm vụ của đề tài.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được kết cấu gồm 3 chương 6 tiết.

7


NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÍ THỨC VÀ PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
1.1.

Quan điềm của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

Đảng Cộng sản về trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin về trí thức và vai trò

của đội ngũ trí thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì tầng lớp trí thức là đại
biểu cho trí tuệ của cả dân tộc. Trong phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động thì những trí thức tiến bộ những nhà lý luận của giai
cấp vô sản đã góp phần thức tỉnh quần chúng nhân dân giác ngộ về lý tưởng
cách mạng. Trong xây dựng một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa trí thức
tham gia trực tiếp và chủ yếu vào nâng cao dân trí. Và quan trọng hơn là trí
thức tham gia vào việc phát triển lực lượng sản xuất khoa học công nghệ. Do
vậy V.I.Lênin đã từng nói “không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các
lĩnh vực khoa học kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên xã

Như vậy, khi phân tích các luận điểm về khái niệm trí thức ở nước ta,
chúng ta cần phải vận dụng định nghĩa của V.I.Lênin về giai cấp, để tiếp cận
đúng đắn phạm trù trí thức. V.I.Lênin “gọi là các giai cấp, những tập đoàn to
lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất
xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư
liệu sản xuất,mà họ được hưởng” [49,tr.17-18].
Tầng lớp trí thức khác với những người lao động chân tay trước hết
chính là ở chỗ phân công lao động xã hội quy định. Sự phân công lao động xã
hội quy định sự hình thành và phát triển của tầng lớp trí thức. Vì vậy trí thức
không chỉ là một phạm trù xã hội mà là một phạm trù lịch sử. Trên cơ sở của sự
phân công lao động (phân công lao động vật chất, phân công lao động tinh
thần) đã làm cho sự phân công lao động trên các lĩnh vực hoạt động sản xuất và
tinh thần được tăng cường, năng suất lao động ngày càng cao hơn, lực lượng
sản xuất ngày càng phát triển, mở rộng việc trao đổi. Như vậy, trí thức là kết
quả và sản phẩm của quá trình phân công lao động vật chất và tinh thần tức là
9


sự phân chia lao động trí óc và lao động chân tay. Sự phân công lao động đó
như Mác – Ăngghen đã chỉ rõ sẽ dẫn tới phạm vi hoạt động “độc chuyên” của
mỗi người trong xã hội và người đó phải nhận thấy và không thể thoát được”
[7,tr.43].
Như vậy, trí thức nói riêng hay tầng lớp trí thức nói chung trong phân
công lao động xã hội đó chính là vị trí của những người hoạt động trên lĩnh vực
“lao động tinh thần” khác với đại đa số quần chúng nhân dân lao động chân tay
trên lĩnh vực “sản xuất vật chất”. Chính xuất phát từ vị trí do phân công lao
động xã hội quy định mà chức năng lao động xã hội quy định trí thức khác với
người lao động chân tay. Do đó cũng đòi hỏi người trí thức phải có trình độ học
vấn chuyên môn cao mới thực hiện được chức năng vai trò của họ trong phân
công lao động xã hội.

duy nhất của tầng lớp này vì trong các giai cấp và tầng lớp xã hội khác cũng có
nhiều người có trình độ học vấn đó. Đặc trưng quyết định nhất của tầng lớp trí
thức là sáng tạo khoa học và nghệ thuật. Trong quá trình lao động họ phải chủ
quan hóa khách quan và khách quan hóa chủ quan để tạo ra sự chuyển hóa tri
thức khoa học từ lượng thành chất và ngược lại nhằm khám phá, nhận thức
ngày càng rộng và sâu hơn các quy luật tự nhiên và xã hội và bản thân con
người. Do không phải tất cả lao động đều nắm được kiến thức chuyên môn một
cách có hệ thống, nhất là ở các chuyên ngành khoa học hiện đại, cũng như
không phải ai cũng nắm được đặc trưng cơ bản của phương pháp nghiên cứu
khoa học, sáng tạo văn chương, nghệ thuật cho nên trí thức là một tầng lớp xã
hội cần thiết cho mọi chế độ xã hội và độc lập tương đối trong mọi thời đại.
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, vai trò của trí thức
rất lớn. C. Mác - Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin trên cơ sở tổng kết lịch sử xã hội
loài người và thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, đã đánh giá cao vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa, thông qua cống hiến sáng tạo của họ trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Vai trò của họ thể hiện trước hết thông qua vai trò của
những tư tưởng, đặc biệt là những tư tưởng triết học. Trong xã hội có giai cấp
và đối kháng giai cấp, sự thống trị của giai cấp bóc lột không chỉ bằng sự chiếm
hữu của cải hàng hoá tiền tệ, nô lệ mà còn cả sức mạnh tinh thần. Giai cấp
thống trị độc quyền đã lợi dụng chủ nghĩa duy tâm tôn giáo làm công cụ áp bức
tinh thần. Các nhà triết học cổ đại đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên, sự
cống hiến của họ đã góp phần làm cho nền văn minh thế giới thêm rực rỡ và
phát triển. Nhiều nhà trí thức đã anh dũng hy sinh trên dàn lửa hoả thiêu, trước
11


toà án giáo hội để đấu tranh cho chân lý, cho tiến bộ xã hội, cho khoa học trong
đêm trường trung cổ. Họ đã góp phần làm chôn vùi thời kỳ trung cổ bạo tàn, tạo
nên sự đảo lộn tiến bộ mà trước đó nhân loại chưa từng trải qua. Ở thời kỳ Khai



Đóng góp rõ nhất của trí thức là thông qua cuộc cách mạng
khoa học k ỹ thuật đi kèm với nó là cuộc cách mạng lực lượng sản xuất.
Vai trò của các nhà trí thức khoa học kỹ thuật trong việc sáng tạo ra công
cụ mới ngày càng hoàn thiện hơn để nâng cao năng suất lao động xã hội.
Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, vai trò của những trí thức, tổ chức,
quản lý, điều khiển cũng không thể phủ nhận được. Họ đã góp phần
cho sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và như Mác - Ănghen đã chỉ
rõ: “do có những lực lượng sản xuất mới loài người đã thay đổi
phương thức sản xuất của mình . . . loài người thay đổi tất cả các mối quan hệ
của mình” [4, tr.380].
Tri thức là một kết quả của tiến bộ xã hội, mặt khác, sự phát triển
của trí thức đã góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, góp phần giải phóng con
người khỏi sự chi phối của những lực lượng tự phát trong tự nhiên và
trong xã hội. Điều kiện đầu tiên và cũng là tiền đề quan trọng đối với sự
xuất hiện của tầng lớp trí thức là sản phẩm của sự phân công lao động
trong xã hội do nhu cầu xã hội quyết định. Hoạt động của tầng lớp trí thức
luôn luôn góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua 6 chức năng xã hội sau: nhận thức khoa học (lý luận), dự
báo khoa học; ứng dụng tri thức khoa học và triển khai công nghệ vào
thực tiễn; giáo dục và đào tạo; chăm sóc y tế, chấn hưng văn hóa, tạo lập
cơ sở lý luận và giải pháp công nghệ cho công tác lãnh đạo và quản lý.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân
chỉ có thể hoàn thành sứ mạng lịch sử toàn thế giới của mình khi liên minh với
các giai cấp và tầng lớp lao động khác mà trước hết là với giai cấp nông dân,
đội ngũ trí thức và lãnh đạo họ tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng.
Thực hiện liên minh công – nông – trí thức trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội vì nhu cầu tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân, trí
thức và vì lợi ích của cả dân tộc. Quan hệ giữa công nhân, nông dân và trí thức

thuật, sử dụng kiến thức lao động tiên tiến. Cùng với những thành tựu của cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự gắn bó giữa công nhân và trí thức
ngày càng chặt chẽ, thể hiện qua sự liên kết giữa nghiên cứu và ứng dụng
những thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất, giữa các nhà khoa học
với các cơ sở sản xuất. Hàm lượng chất xám ngày càng gia tăng trong thành
phần sản phẩm đã phản ánh rõ nét vai trò của người trí thức, của khoa học và
công nghệ trong sự gắn kết với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Ngược
lại, thông qua hoạt động sản xuất vật chất của công nhân và nông dân tạo nên
địa bàn cho các hoạt động sáng tạo, và xuất hiện các “đơn đặt hàng” từ xã hội
14


đối với trí thức. Qua đó, trí thức có thể điều chỉnh hoạt động nghiên cứu của
mình cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nhằm phục vụ đời sống con người
ngày càng tốt đẹp hơn.
Vì vậy, giai cấp công nhân, nông dân và trí thức là ba lực lượng lao động
sản xuất, lực lượng chính trị - xã hội với những đặc điểm và vai trò xác định
trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như cách mạng xã hội chủ
nghĩa không thể thành công nếu thiếu ba lực lượng đó.
Vai trò của trí thức là sản xuất, truyền bá ứng dụng khoa học kỹ thuật
( chứ không phải là trí thức kinh nghiệm hay trí thức thông thường). Từ bản
chất xã hội đặc thù này mà trí thức luôn luôn tồn tại và phát triển như một tầng
lớp xã hội tương đối độc lập trong một chế độ xã hội. Ngày nay, khi khoa học
đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hệ thống các ngành khoa học đã phát
triển và ngày càng trở thành một chỉnh thể thống nhất, có liên quan hỗ trợ cho
nhau thì vai trò của trí thức đều được thể hiện một cách gián tiếp hay trực tiếp
trong mọi lĩnh vực sản xuất vật chất và đời sống xã hội. Nhờ đó trí thức góp
phần thúc đẩy xã hội tiến bộ hơn, nhằm đạt tới mục đích cuối cùng của cuộc
đấu tranh giai cấp đó là : thủ tiêu hoàn toàn và vĩnh viễn mọi sự bóc lột và áp
bức. Thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng cá nhân và xã hội, xây dựng

chiến sĩ xung phong. Tôi mong rằng các ngài cũng sẽ đem hết tài năng và tri
thức giúp cho Chính phủ về mặt kiến thiết. Các ngài sẽ là những cố vấn có kinh
nghiệm, có tài năng của Chính phủ” [21, tr.152].
Thái độ trân trọng và sử dụng trí thức của Hồ Chí Minh xuất phát từ tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc.
Bác Hồ quý trọng trí thức không chỉ trên nhận thức về vị trí, vai trò của trí thức,
mà bằng nhiều hành động cụ thể, Người cố gắng xây dựng, tổ chức đội ngũ trí
thức ngày càng hùng hậu. Hồ Chí Minh đã sáng lập ra tổ chức của trí thức là
Đảng Xã hội Việt Nam (22-7-1946). Đó là một tổ chức thu hút, tập hợp mọi bộ
phận trí thức khác nhau từ các thầy giáo, thầy thuốc, đến các trí thức hoạt động
trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật. Với từng loại trí
thức, Hồ Chí Minh đều có những những lời dặn dò thân tình, chu đáo. Với anh
chị em văn hóa và trí thức, Hồ Chí Minh cho rằng “ngòi bút của các bạn cũng là
những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và
trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng
chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”. Với anh chị em
giáo viên, Người coi đó là “những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh
nhưng rất hữu ích. “cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang
giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Với trí thức ngành y, Người nhấn mạnh, “Chính
phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng
bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”. v.v…..
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra rằng: Giải phóng dân
tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, mà giải phóng giai cấp,
17


giải phóng xã hội ở Việt Nam chính là giải phóng nông dân vì nông dân nước ta
chiếm hơn 80% dân số. Bởi vậy, Bác nói: “Công nông là gốc của cách mạng”,
“Nhưng cách mạng cũng cần có lực lượng trí thức…, trong sự nghiệp cách
mạng lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang”…”công, nông, trí

người có chuyên môn cao và người hoạt động xã hội. Nhờ vậy,trí thức Việt
Nam đã làm được điều chủ tịch Hồ Chí Minh dạy:
“Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay và ta cần lao động
trí óc kiêm lao động chân tay , nghĩa là lao động chân cũng phải có văn hoá, mà
người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí
óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có lao động
trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại. ...”.
“Lao động trí óc mà không lao động chân tay chỉ biết lý luận mà không
thực hành thì cũng là trí thức có một nữa”. Chính vì vây, Hồ Chí Minh đòi hỏi
người trí thức phải biết kết hợp cả lao động trí óc và lao động chân tay thì mới
có thể làm được việc cũng như Hồ Chí Minh đã nói : “ có tài mà không có đức
thì ví như anh làm kinh tế tài chính giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng
những không làm được gì cho xã hội mà còn làm hại xã hội. Nếu có đức mà
không có tài thì ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không có lợi gì
cho loài người”. Quan điểm của Người rất rõ ràng: Lao động trí óc cần được
khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài năng. Lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan
trọng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân
chủ mới, tiến đến chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về trí thức là rất sâu sắc và toàn diện. Theo
người thì trí thức là : “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu
biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai
là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra.
Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác. Một người học xong đại học, có
thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không
biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y
không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học
sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức toàn toàn,
thì phải biết đem trí thức đó áp dụng vào thực tế” [22,tr.235]. Qua đó, người yêu
cầu và đòi hỏi trí thức phải đi vào quần chúng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân
dân, phục vụ cách mạng, lấy hạnh phúc của nhân dân làm cơ sở. Trí thức phải

Trong tuyên ngôn của Đảng lao động Việt Nam đã ghi rõ : “Đảng lao
động Việt nam sẽ gồm những công nhân, nông dân và lao đông trí thức yêu
nước, hăng hái nhất, cách mạng nhất”.
Sau cách mạng tháng Tám Đảng ta đã nhất quán thực hiện chính sách coi
trí thức yêu nước là một lưc lượng cách mạng quan trọng và phát huy vai trò
20


của trí thức, không phân biệt giữa trí thức và trí thức mới. Chủ trương của
Đảng ta là : “Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ, công nông trí thức hoá, trí
thức hóa công nông”.
Theo chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta tạo điều kiện để trí thức cũ
học tập, rèn luyện gần gũi công – nông, xây dựng ý thức phục vụ nhân dân,
phấn đấu trở thành trí thức cách mạng, đóng góp trí tuệ và sức lực vào sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa . Bên cạnh đó thì Đảng và Nhà nước ta
còn tập trung đào tạo đội ngũ trí thức mới xuất thân từ mọi tầng lớp nhân dân
lao động. Họ được đào tạo cả trong và ngoài nước để trở thành người cán bộ
nồng cốt.
Trong bài phát biểu tại Đại hội Trung ương lần thứ 7 (khóa VII), Tổng
Bí Thư Đỗ Mười cũng nhấn mạnh: " Khoa học và công nghệ có vai trò quyết
định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của quốc gia. Phần thắng của cuộc
chiến ai thắng ai trên thị trường, quy cho đến cùng là do năng lực và sáng tạo
của cả dân tộc, phải biết học một cách khôn ngoan kinh nghiệm và thành tựu tri
thức của nhân loại, tận dụng được lợi thế của nước đi sau. Đề ra được những
chủ trương, biện pháp thích hợp với đất nước trong hoàn cảnh mới, giải quyết
có hiệu quả các vấn đề kinh tế xã hội, công nghệ, kỹ thuật, mội trường sinh thái.
Muốn vậy, phải chú trọng, bồi dưỡng và sử dụng tốt nguồn nhân lực có trình độ
văn hóa và kỹ thuật nghề nghiệp ngày càng cao, nghiên cứu và triển khai, xây
dựng tiềm lực khoa học và công nghệ ngày càng lớn mạnh, giải quyết tốt mối
quan hệ giữa kinh tế văn hóa trong quá trình phát triển”.

chỉ nói nhiều đến liên minh công-nông.
Đến Đại hội VII của Đảng (1991), các văn kiện của Đảng ta đã khẳng
định rõ khái niệm: "Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức" là một đòi hỏi khách quan của thực tiễn. "Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (năm 1991) còn nhấn mạnh
rằng, sự liên minh này là “nền tảng” để "xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa” [
15, tr.9].
Lúc ấy, chúng ta chưa sử dụng khái niệm “nhà nước pháp quyền”. Do
vậy, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trên cơ sở khẳng định quan điểm trên, đã bổ
sung và làm nổi bật, đầy đủ hơn về bản chất Nhà nước ta cùng tầm quan trọng
của liên minh công - nông-trí thức. “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước
22


thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo” [14,
tr.85].
Thực chất xây dựng liên minh công-nông-trí thức, cũng như tập hợp
được toàn thể dân tộc là hình thành động lực quan trọng nhất của phát triển xã
hội, tạo nên được sức mạnh tổng hợp, động viên được tối đa các nguồn lực (sức
người, sức của) trong mọi tầng lớp nhân dân. Vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới
đất nước, Đảng ta xác định rõ: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại
đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức
do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát
huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”
[ 13, tr.86].
Trong Nghị quyết, ngoài việc phát huy đội ngũ trí thức trong nước, Đảng
ta còn “coi trọng việc đoàn kết tập hợp trí thức, xác định trí thức Việt kiều là

Tiềm năng của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là rất lớn, đây là một
nguồn lực quan trọng, một “kho báu lộ thiên” rất tiềm tàng đối với sự phát triển
của đất nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác đối
với người Việt Nam ở nước ngoài, thời gian qua các bộ, ngành, đơn vị chức
năng đã chủ động triển khai xây dựng một số cơ chế, chính sách chung nhằm
tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho kiều bào về quê hương sinh sống, đầu tư,
đóng góp cho đất nước như ban hành Luật Quốc tịch sửa đổi theo hướng cho
phép người Việt Nam ở nước ngoài có quốc tịch Việt Nam trong khi mang quốc
tịch nước khác; thực hiện chế độ miễn thị thực cho người Việt Nam ở nước
ngoài; xây dựng quy chế cư trú của người Việt Nam ở nước ngoài; sửa đổi bổ
sung Luật Nhà ở tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài mua
và sở hữu nhà ở; thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp đối với người
Việt Nam ở nước ngoài...
Các bộ, ngành khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo đang xây dựng
các đề án thu hút chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia
hoạt động khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo tại các cơ sở đại học ở Việt
Nam. Một số tỉnh, thành phố cũng đang đề xuất các chế độ, chính sách cụ thể
phù hợp với tình hình địa phương đối với chuyên gia, trí thức là người Việt
Nam ở nước ngoài về công tác thường xuyên tại cơ sở, khu công nghiệp, khu
công nghệ cao v.v.

24


Ở mọi thời đại, tri thức luôn luôn “là nền tảng tiến bộ xã hội”, đội ngũ trí
thức là lực lượng nòng cốt thúc đẩy sự phát triển và phồn vinh của đất nước. Và
trí thức quân đội cũng là một bộ phận của trí thức Việt Nam. Do yêu cầu nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng quân đội nhân dân, những năm qua, chúng ta đã
xây dựng được đội ngũ trí thức thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau trong lĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status