BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO THỊ VÂN ANH
CHỨC NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 60380101
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn của Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ, Thầy giáo Nguyễn Minh Đoan. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn nêu trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn
LỜI CẢM ƠN
bàn tỉnh Nghệ An ........................................................................................ 28
2.2. Những kết quả, thành tựu thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp
đất đai của UBND trên địa bàn tỉnh Nghệ An ............................................ 32
2.3. Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện chức năng giải quyết tranh
chấp đất đai của UBND trên địa bàn tỉnh Nghệ An .................................... 37
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHỨC NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA UBND TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN .....................................................................................45
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giải quyết tranh
chấp đất đai của UBND trên địa bàn tỉnh Nghệ An .................................... 45
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp
đất đai của UBND trên địa bàn tỉnh Nghệ An ............................................ 47
KẾT LUẬN ..............................................................................................................68
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GCNQSDĐ:
GQTCĐĐ:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giải quyết tranh chấp đất đai
HĐND:
Hội đồng nhân dân
MTTQ:
xuyên, tính chất phức tạp và có ảnh hƣởng không nhỏ đến tình hình kinh tế, chính
trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi địa phƣơng. Ở Việt Nam trong những năm gần
đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, TCĐĐ cũng phát sinh ngày
càng nhiều, đa dạng và phức tạp hơn. Nhiều vụ việc TCĐĐ kéo dài nhiều năm, mặc
dù đã đƣợc giải quyết hết thẩm quyền nhƣng các bên tranh chấp quyền sử dụng đất
(QSDĐ) vẫn tiếp tục khiếu nại. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 thì TCĐĐ
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hoặc các loại giấy tờ chứng
minh QSDĐ theo quy định thì do Toà án nhân dân (TAND) giải quyết; TCĐĐ
không có giấy tờ về QSDĐ do cơ quan hành chính nhà nƣớc giải quyết. Do điều
kiện đặc thù của địa phƣơng, ở Nghệ An hầu hết TCĐĐ phát sinh đều thuộc thẩm
quyền của Uỷ ban nhân dân (UBND) giải quyết.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai (GQTCĐĐ) là vô cùng quan trọng, vì
GQTCĐĐ là hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tổ chức,
cá nhân; ngăn chặn sự tích tụ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân gây mất đoàn kết,
phát triển thành “điểm nóng” chính trị - xã hội trên địa bàn các địa phƣơng; từ đó,
góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
UBND các cấp trong những năm vừa qua đã tích cực thực hiện chức năng GQTCĐĐ
góp phần vào việc ổn định kinh tế - chính trị - xã hội trên địa bàn địa phƣơng. Tuy
nhiên, về lý luận cũng nhƣ thực tiễn thực hiện chức năng GQTCĐĐ của UBND vẫn
còn nhiều bất cập cần đƣợc nghiên cứu hoàn thiện.
Hoạt động GQTCĐĐ là vấn đề đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu luật học và
hoạt động thực tiễn trong và ngoài nƣớc tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy
nhiên, cho đến nay, ở nƣớc ta chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
về chức năng GQTCĐĐ của UBND. Vì vậy, nhiều nội dung, khía cạnh của vấn đề
còn chƣa đƣợc sự nhất trí về quan điểm học thuật cũng nhƣ cách giải quyết các vấn
đề thực tiễn. Việc nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận về chức năng GQTCĐĐ
2
* Về nhiệm vụ của luận văn:
4
- Phân tích cơ sở lý luận về chức năng GQTCĐĐ của UBND. Dƣới góc độ
lý luận Mác - Lênin về Nhà nƣớc pháp luật, luận văn nêu khái niệm, nội dung, hình
thức, phƣơng pháp thực hiện chức năng GQTCĐĐ của UBND, những điều kiện bảo
đảm thực hiện chức năng GQTCĐĐ của UBND.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chức năng GQTCĐĐ của UBND trên địa
bàn tỉnh Nghệ An từ năm 1993 đến nay.
- Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện chức năng GQTCĐĐ của UBND trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 3 chƣơng:
- Chƣơng 1. Cở sở lý luận và pháp lý về chức năng giải quyết tranh chấp
đất đai của Uỷ ban nhân dân.
- Chƣơng 2. Thực trạng chức năng giải quyết tranh chấp đất đai của Uỷ ban
nhân dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Chƣơng 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả chức năng giải
quyết tranh chấp đất đai của Uỷ ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CHỨC NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
1.1. Tranh chấp đất đai và việc giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam
nghĩa vụ “đơn lẻ” của NSDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh
chấp những quyền và nghĩa vụ mà NSDĐ có đƣợc khi tham gia vào các quan hệ
pháp luật khác. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn đƣợc gọi là “hai hay nhiều
bên” cũng không đƣợc định danh về loại chủ thể: chỉ là NSDĐ hay tất cả các chủ
thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NSDĐ trong quan hệ TCĐĐ? Khái
niệm chung chung này khiến cho nội dung của TCĐĐ nhiều lúc đƣợc mở rộng tối
đa ở mức độ có thể.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: TCĐĐ là tranh chấp phát sinh
giữa các chủ thể tham quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá
trình quản lý và sử dụng đất [31, tr.74].
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, “TCĐĐ là
sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ
thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai” [33, tr.455].
Rõ ràng, các quan điểm trên đã mở rộng một cách tuyệt đối khái niệm
TCĐĐ. Theo quan điểm này, TCĐĐ là một khái niệm rộng, bao gồm tranh chấp
QSDĐ và tất cả các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, kể cả trƣờng hợp tranh chấp
mục đích sử dụng đất và tranh chấp về địa giới hành chính. Tuy nhiên, quan điểm
trên không thuyết phục vì đã không đƣợc chứng minh bởi một căn cứ pháp lý cụ thể
nào. Theo Điều 136 Luật đất đai năm 2003 quy định về thẩm quyền GQTCĐĐ đã
phân chia vấn đề ra thành hai trƣờng hợp: thẩm quyền giải quyết tranh chấp QSDĐ
và thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản gắn liền với đất. Do đó, dựa vào nội dung
Điều 136 Luật đất đai năm 2003 thì: TCĐĐ không thể đồng nhất với tranh chấp
QSDĐ, hay nói cách khác TCĐĐ là khái niệm rộng hơn khái niệm tranh chấp QSDĐ.
Hơn nữa, cách hiểu TCĐĐ nhƣ trên sẽ vấp phải một vấn đề rất lớn về mặt
pháp lý, đó là sự không phù hợp giữa khái niệm TCĐĐ với vấn đề thẩm quyền, thủ
tục GQTCĐĐ. Theo Điều 135 Luật đất đai năm 2003, TCĐĐ buộc phải đƣợc thông
qua hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất, trƣớc khi đƣợc đƣa ra các cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, nếu coi
góc độ là một hoạt động phân xử về tài sản thông thƣờng, mà với tƣ cách là ngƣời
8
đại diện chủ sở hữu quyết định ai sẽ là ngƣời có QSDĐ đối với đất đang bị tranh
chấp, khi đất đó về mặt hình thức pháp lý chƣa đƣợc chính thức trao cho ai sử dụng.
QSDĐ, nếu xét ở góc độ là quyền sử dụng một loại tài sản, thì QSDĐ đƣợc
hiểu là quyền khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đất đai [18, Điều
192]. Tuy nhiên, theo pháp luật đất đai, ngoài việc khai thác, hƣởng các lợi ích từ đất
đai nói trên, QSDĐ còn bao hàm cả việc NSDĐ đƣợc quyền thực hiện các giao dịch
về QSDĐ (nhƣ chuyển nhƣợng, thế chấp, tặng cho...) nhƣ là những giao dịch về tài
sản. Và để đƣợc thực hiện các quyền giao dịch này, NSDĐ phải thực hiện những
nghĩa vụ tài chính nhất định đối với Nhà nƣớc (nhƣ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất...). Ở góc độ này, QSDĐ mang nội dung kinh tế sâu sắc và nó là một quyền kinh
tế. Có thể khẳng định rằng, QSDĐ trong pháp luật đất đai hiện hành là một khái niệm
phức tạp mà nghĩa gốc của các từ đơn lẻ hợp thành không đủ sức thể hiện hết nội
dung và bản chất của nó. QSDĐ vì thế có thể coi là một tổng thể không thể tách rời
các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ theo quy định của pháp luật đất đai.
Tóm lại, TCĐĐ là tranh chấp về một tổng thể những yếu tố hợp nhất tạo
thành QSDĐ nói trên, chứ không phải là việc tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ
rời rạc, đơn lẻ hay tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ khác của NSDĐ có liên
quan đến các quyền nghĩa vụ nêu trên.
1.1.2. Giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “giải quyết” đƣợc hiểu là “làm cho
không còn thành vấn đề nữa” [39, tr.338]. Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất thì
GQTCĐĐ là tổng hợp những cách thức, biện pháp đƣợc áp dụng để loại bỏ các mâu
thuẫn, bất đồng về QSDĐ giữa các chủ thể trong quá trình chúng tham gia vào các
quan hệ đất đai.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học đã đƣa ra định nghĩa về
trấn mà một bên hoặc các bên tranh chấp không nhất trí thì có thể yêu cầu cơ quan
TAND hoặc UBND cấp huyện, thành phố, thị xã hoặc UBND cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ƣơng giải quyết. Tuy nhiên, TAND chỉ giải quyết đối với tranh
chấp mà QSDĐ đang tranh chấp đó đã đƣợc Nhà nƣớc cấp hay công nhận bằng các
loại giấy tờ chứng nhận về QSDĐ; trong trƣờng hợp này, việc giải quyết của TAND
đối với QSDĐ đang tranh chấp là việc phân xử tài sản “QSDĐ” thuộc về chủ thể
10
nào trên cơ sở giấy tờ cơ quan nhà nƣớc đã cấp. Tranh chấp đối với QSDĐ mà xét
về mặt hình thức pháp lý chƣa đƣợc Nhà nƣớc chính thức giao cho ai sử dụng thì cơ
quan hành chính các cấp là cơ quan giải quyết; trong trƣờng hợp này, hoạt động giải
quyết của cơ quan hành chính với tƣ cách là ngƣời đại diện chủ sở hữu quyết định ai
là ngƣời có quyền sử dụng đối đất đang bị tranh chấp.
- Khách thể của việc GQTCĐĐ là các quan hệ pháp luật về QSDĐ đang
tranh chấp. Đối tƣợng của hoạt động giải quyết tranh chấp chính là bản thân tranh
chấp đã phát sinh giữa các bên. Căn cứ vào sự thoả thuận giữa các bên tranh chấp,
các bên tìm ra giải pháp thích hợp để loại bỏ tranh chấp hoặc căn cứ vào các quy
định của pháp luật và các tình tiết khách quan của tranh chấp, TAND hoặc cơ quan
hành chính các cấp sẽ đƣa ra phán quyết hay quyết định giải quyết tranh chấp.
Nhƣ vậy, hoạt động GQTCĐĐ là hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền và các bên tranh chấp thông qua các hình thức, thủ tục thích hợp tiến
hành giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng về QSDĐ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của họ.
- Hình thức giải quyết tranh chấp đất đai: GQTCĐĐ có ba hình thức giải
quyết, đó là hoà giải TCĐĐ, GQTCĐĐ theo thủ tục hành chính và GQTCĐĐ theo
thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi luận văn này chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu
hình thức hoà giải TCĐĐ và GQTCĐĐ theo trình tự thủ tục hành chính để phục vụ
cho mục đích nghiên cứu của đề tài là chức năng GQTCĐĐ của UBND trên địa bàn
GQTCĐĐ, phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà
nƣớc là ngƣời đại diện; bảo vệ quyền đại diện sở hữu đất đai của Nhà nƣớc; bảo vệ
thành quả cách mạng về đất đai mà nhân dân ta đã giành đƣợc; vì lợi ích hiện tại và
cho cả thế hệ mai sau của dân tộc, cũng nhƣ lợi ích của mỗi ngƣời dân.
Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm lợi ích của NSDĐ, nhất là lợi ích kinh tế,
khuyến khích việc tự thƣơng lƣợng, hòa giải trong nội bộ nhân dân, phát huy tinh
thần đoàn kết, tƣơng trợ trong nội bộ nhân dân. Tôn trọng các quyền của NSDĐ và
tạo điều kiện phát huy tối đa các quyền đó là nguyên tắc quan trọng khi GQTCĐĐ.
Thực tế đã chứng minh rằng, nếu lợi ích của NSDĐ không đƣợc đảm bảo, thì việc sử
dụng đất không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tôn trọng quyền định đoạt của các
chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật đất đai là tôn trọng quyền tự do thỏa
12
thuận, thƣơng lƣợng của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật. Do vậy, hòa giải
trở thành cách thức và cũng là nguyên tắc GQTCĐĐ quan trọng và đạt hiệu quả nhất.
Thứ ba, nguyên tắc GQTCĐĐ phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế
- chính trị - xã hội, gắn việc GQTCĐĐ với việc xây dựng lại trật tự quản lý đất đai.
Do ảnh hƣởng tiêu cực của TCĐĐ đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội nên việc GQTCĐĐ phải nhằm vào mục đích bình ổn các quan hệ xã hội. Đồng
thời với việc GQTCĐĐ, xác lập lại trật tự quản lý đất đai, đó là xác lập lại ranh giới
sử dụng đất trên hiện trạng, hoàn thiện hồ sơ địa chính.
Thứ tư, nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khi GQTCĐĐ phải
chú ý và tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật đã quy
định. Phát hiện và giải quyết kịp thời các vi phạm pháp luật về đất đai, tránh tình
trạng để TCĐĐ kéo dài, làm ảnh hƣởng tới tâm lý và lợi ích của ngƣời dân.
1.2. Ủy ban nhân dân và chức năng giải quyết tranh chấp đất đai của
UBND ở Việt Nam
1.2.1. Uỷ ban nhân dân và cơ sở pháp lý việc giải quyết tranh chấp đất
năng của UBND bao gồm các các nhóm chức năng để thực hiện các hoạt động hành
chính tích cực - tổ chức điều hành các quá trình xã hội và và nhóm chức năng để
thực hiện hoạt động mang tính tài phán – giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
lĩnh vực hành chính bằng con đƣờng hành chính; trong đó có chức năng GQTCĐĐ
[15]. Hoạt động GQTCĐĐ của UBND là một nội dung của hoạt động quản lý nhà
nƣớc về đất đai, là hoạt động giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể sử
dụng đất phát sinh trong quá trình quản lý của UBND. Hai mặt hoạt động này có
mối quan hệ qua lại, gắn bó hữu cơ với nhau trong thể thống nhất của công tác quản
lý nhà nƣớc về đất đai. Hoạt động GQTCĐĐ đảm bảo pháp chế, kỷ cƣơng và hiệu
quả của hoạt động chấp hành và điều hành. Để thực hiện tốt, có hiệu quả chức năng
GQTCĐĐ, UBND phải tuân thủ, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp
luật GQTCĐĐ và pháp luật khác có liên quan. Vì vậy, việc đảm bảo, củng cố, nâng
cao hiệu quả thực hiện chức năng GQTCĐĐ của UBND là đòi hỏi tự thân, xuất
phát từ vai trò của hoạt động quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn.
Để cụ thể hóa quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đƣợc quy định trong
Hiến pháp và tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động GQTCĐĐ, Nhà nƣớc đã ban hành hệ
thống các quy phạm pháp luật về GQTCĐĐ. Kế thừa, phát triển Luật đất đai năm
14
1987, 1993, Luật đất đai năm 2003 đã quy định chức năng GQTCĐĐ của UBND.
Theo đó, Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền GQTCĐĐ phát sinh trên địa bàn;
Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm GQTCĐĐ bằng phƣơng pháp hoà giải (giáo
dục, thuyết phục để hai bên tranh chấp thƣơng lƣợng với nhau); Chủ tịch UBND
cấp huyện, cấp tỉnh GQTCĐĐ bằng phƣơng pháp mệnh lệnh hành chính.
Luật đất đai năm 2003 quy định hòa giải TCĐĐ là thủ tục bắt buộc, là bƣớc
đầu trong quá trình GQTCĐĐ. Theo đó, UBND cấp xã phải phối hợp với MTTQ
Việt Nam, các tổ chức thành viên của MTTQ, các tổ chức xã hội khác để tiến hành
hòa giải TCĐĐ trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đƣợc đơn. Bên
quyết định giải quyết cuối cùng.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh GQTCĐĐ giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, ngƣời
Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, tổ chức nƣớc ngoài, cá nhân nƣớc ngoài với nhau
hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, tổ chức
nƣớc ngoài, cá nhân nƣớc ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cƣ.
Trƣờng hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh
thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin GQTCĐĐ đến Bộ TN&MT; quyết định
GQTCĐĐ của Bộ trƣởng Bộ TN&MT là quyết định giải quyết cuối cùng.
Khoản 2 Mục IV Thông tƣ số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ
TN&MT “Hƣớng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai” đã quy định về thời hạn
GQTCĐĐ trong trƣờng hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về QSDĐ nhƣ sau
[1, Điều 159, 160]:
- Thời hạn hòa giải tại UBND cấp xã là ba mƣơi (30) ngày làm việc kể từ
ngày UBND nhận đƣợc đơn của các bên tranh chấp.
- Thời hạn giải quyết tranh chấp lần đầu là không quá ba mƣơi (30) ngày
làm việc kể từ ngày nhận đƣợc đơn của các bên tranh chấp.
- Trong thời hạn không quá mƣời lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày nhận
đƣợc quyết định giải quyết lần đầu, nếu không đồng ý thì các bên tranh chấp có thể
gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để đƣợc giải quyết tranh chấp lần cuối cùng,
quá thời hạn trên sẽ không đƣợc tiếp nhận đơn xin giải quyết tranh chấp.
- Thời hạn giải quyết tranh chấp lần cuối cùng là không quá bốn mƣơi lăm
(45) ngày làm việc kể từ ngày nhận đƣợc đơn xin giải quyết tranh chấp.
16
Điều 264 Luật tố tụng hành chính đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 136 của
Luật đất đai liên quan đến việc TCĐĐ mà đƣơng sự không có GCNQSDĐ hoặc
không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của
huyện
Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Bộ trƣởng Bộ
Tài nguyên và
Môi trƣờng
Tòa án nhân dân
cấp tỉnh
17
1.2.2. Khái niệm, nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện chức năng
giải quyết tranh chấp đất đai của UBND
+ Khái niệm chức năng giải quyết tranh chấp đất đai của UBND:
Chức năng GQTCĐĐ của UBND là một vấn đề tƣơng đối mới mẻ so với
các nội dung khác trong lý luận về nhà nƣớc và pháp luật ở nƣớc ta. Để có thể
nghiên cứu chức năng GQTCĐĐ của UBND một cách toàn diện, chính xác, khách
quan, cần đặt nó trong mối liên hệ với khái niệm chức năng của nhà nƣớc, chức
năng của một cơ quan nhà nƣớc.
Chức năng của nhà nƣớc là một khái niệm phức tạp, luôn gắn với những
phạm trù nhƣ bản chất, nhiệm vụ, các hình thức và phƣơng pháp hoạt động của nhà
nƣớc… Để nhận thức một cách toàn diện về chức năng của nhà nƣớc, cần xem xét
chức năng nhà nƣớc gắn với điều kiện xuất hiện và bản chất của nhà nƣớc; tƣơng
quan giữa tính giai cấp và tính xã hội của chức năng nhà nƣớc lệ thuộc điều kiện
lịch sử trong các Nhà nƣớc khác nhau; và chức năng nhà nƣớc trong mối quan hệ
với quyền lực nhà nƣớc, trình độ dân chủ.
Nhƣ vậy, có thể hiểu, chức năng nhà nước là những phƣơng diện hoạt động
điều hành. Khi thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành, UBND ra các quyết
định quản lý, thực hiện các hành vi hành chính. GQTCĐĐ là hoạt động UBND giải
quyết tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ của NSDĐ, sản phẩm của hoạt động này,
UBND ban hành quyết định GQTCĐĐ – quyết định quản lý trong hoạt động chấp
hành, điều hành. Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc của UBND, hoạt
động chấp hành, điều hành và hoạt động GQTCĐĐ có mối quan hệ qua lại, gắn bó
hữu cơ với nhau thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động tổ chức thực thi
pháp luật, đƣa pháp luật vào cuộc sống, dùng pháp luật để quản lý, tổ chức các quá
trình hoạt động của xã hội. Sự phản ứng của xã hội qua "kênh" TCĐĐ là nguồn
thông tin quan trọng, tin cậy để UBND kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của pháp
luật về đất đai trong đời sống xã hội, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện, nâng
cao chất lƣợng hệ thống pháp luật và hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà
nƣớc về đất đai.
Thứ hai, tình hình TCĐĐ phản ánh thực trạng công tác quản lý hành chính
về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Thông qua hoạt động GQTCĐĐ,
19
UBND thực hiện chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý nhà
nƣớc về đất đai từ trách nhiệm quản lý của cán bộ, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở
địa phƣơng đến việc hoàn thiện hồ sơ địa chính trên địa bàn để xây dựng một nền
hành chính trong lĩnh vực đất đai vững mạnh, trong sạch, chuyên nghiệp, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, yêu cầu GQTCĐĐ là quyền tự do dân chủ của công dân, là công cụ
pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, là
hình thức để công dân tham gia quản lý nhà nƣớc và là biểu hiện của nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa. Do đó, thực hiện tốt công tác GQTCĐĐ không những bảo đảm
quyền của công dân, phát huy dân chủ và sức mạnh, trí tuệ của nhân dân trong việc