Thiết kế và thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh cho trẻ 56 tuổi trong hoạt động làm quen với toán (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Tú Uyên

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM
QUEN VỚI TOÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chính Minh – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Tú Uyên

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM
QUEN VỚI TOÁN
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM PHƢỚC MẠNH

Thành phố Hồ Chính Minh – 2017

non Tuổi thơ 6A (Quận 3), Trường Mầm non Tuổi thơ 7 (Quận 3), Trường Mầm non
Vàng Anh (Quận 5), Trường Mầm non Sơn Ca (Quận 5), Trường Mầm non Thực
Hành (Quận 10), Trường Mầm non Quận (Quận Tân Bình), Trường Mầm non 13
(Quận Tân Bình) và Trường Mầm non Tư thục Họa Mi (Quận Tân Bình) đã giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình khảo sát, quan sát, phỏng vấn sâu và thử
nghiệm để hoàn thành luận văn.
Tôi chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Giáo dục Mầm non khóa 26 đã chia
sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và hỗ trợ tôi tìm kiếm tài liệu liên quan đến luận văn.
Chân thành cảm ơn thầy cô trong Hội đồng đánh giá luận ăn đã góp ý kiến giúp
tôi hoàn chỉnh luận văn.
Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn gia đình đã động viên và khích lệ, tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình, tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các Bảng
Danh mục các hình ảnh và Biểu đồ
MỞ ĐẦU

............................................................................................................. 1

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH VỀ SỐ LƢỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI TOÁN ........................................................................................... 6

toán ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh .................. 58
Tiểu kết chương 2...................................................................................................... 70
CHƢƠNG 3. THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH VỀ SỐ LƢỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI TOÁN ......................................................................................... 72
3.1. Thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ
5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán .......................................... 72
3.1.1. Cơ sở định hướng về thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so
sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán .... 72


3.1.2. Nguyên tắc thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về
số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán ................. 72
3.1.3. Thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng
cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán ................................ 74
3.1.4. Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá năng lực so sánh về số lượng
của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán................................. 85
3.2. Trưng cầu ý kiến đánh giá của chuyên gia về hệ thống bài tập phát triển
năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm
quen với toán. ........................................................................................ 86
3.2.1. Ý kiến đánh giá của giảng viên về hệ thống bài tập phát triển năng
lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen
với toán. ................................................................................................... 86
3.2.2. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và khối trưởng khối lá của ba
trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh. ........................................ 87
3.3. Thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán ..................................... 88
3.3.1. Tổ chức thử nghiệm ................................................................................. 88
3.3.2. Kết quả thử nghiệm ................................................................................. 93


Bài tập 3 chủ đề trái cây

:

BT3-TC

Bài tập 4 chủ đề rau củ

:

BT4-RC

Bài tập 5 chủ đề đồ dùng sinh hoạt

:

BT5-SH

Bài tập 6 chủ đề động vật

:

BT6-ĐV

Bài tập 7 chủ đề trái cây

:

BT7-TC


Hoạt động làm quen với toán

:

HĐLQVT

Năng lực so sánh về số lượng

:

NLSSVSL

Số lượng

:

SL

So sánh số lượng

:

SSSL

Thử nghiệm

:

TN

lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN trước thử
nghiệm ................................................................................................. 95
Bảng 3.8. Mức điểm đánh giá kết quả so sánh số lượng của trẻ nhóm đối
chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ở 2 lớp Lá 1 và Lá
2 97


Bảng 3.9. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và TN sau TN ..... 100
Bảng 3.10. Kiểm nghiệm Chi-bình phương (Chi Square Tests) về mức độ năng
lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN sau TN ........... 103
Bảng 3.11. Đánh giá kết quả so sánh của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN sau TN ........ 103
Bảng 3.12. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC trước và sau
TN ...................................................................................................... 106
Bảng 3.13. Kết quả so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC giữa trước và sau TN ...... 109
Bảng 3.14. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm TN trước và sau
TN ...................................................................................................... 111
Bảng 3.15. Kết quả so sánh số lượng điểm TB của trẻ nhóm TN giữa trước và
sau TN ............................................................................................... 115


DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Những dạng bài tập, giáo viên sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu
thực hiện Chương trình giáo dục mầm non dành cho trẻ 5-6 tuổi
và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi ......................................................... 55
Biểu đồ 2.2. Tần số sử dụng của các hình thức tổ chức nội dung SSSL ba
nhóm đối tượng trong phạm vi 10 ....................................................... 59
Biểu đồ 2.3. Tần số sử dụng những tài liệu để tổ chức nội dung SSSL ba nhóm
đối tượng trong phạm vi 10 ................................................................. 60
Biểu đồ 2.4. Mức độ giáo viên sử dụng hai dạng bài tập nhằm phát triển
NLSSVSL cho trẻ 5-6 tuổi trong HĐLQVT ....................................... 61

TN sau TN ......................................................................................... 102
Biểu đồ 3.6. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ ở nhóm ĐC và nhóm
TN sau TN ở từng BT ....................................................................... 102
Biểu đồ 3.7. Độ phân tán điểm số của nhóm ĐC sau TN ....................................... 106
Biểu đồ 3.8. Độ phân tán điểm số nhóm TN sau TN .............................................. 106
Biểu đồ 3.9. So sánh mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC giữa
trước và sau TN ................................................................................. 108
Biểu đồ 3.10. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC giữa trước
và sau TN ở từng bài tập ................................................................... 108
Biểu đồ 3.11. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm TN giữa trước
và sau TN........................................................................................... 113
Biểu đồ 3.12. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm TN giữa trước
và sau TN ở từng bài tập ................................................................... 114


1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ xưa đến nay, việc giáo dục phát triển trí tuệ, tư duy cho trẻ mầm non luôn là
những đề tài được nhiều nhà tâm lí, giáo dục học quan tâm như A. I. Xôrôkina đã viết:
“Các năng lực trí tuệ được phát triển trong quá trình hoạt động trí tuệ, trong quá trình
lĩnh hội tri thức và dạy trẻ ngôn ngữ. Ngược lại, các năng lực trí tuệ lại góp phần tiếp
tục lĩnh hội tri thức và kỹ năng.” [47, tr.37]. Nhận định của A. I. Xôrôkina đã thể hiện
được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực trí tuệ, tư duy của trẻ. Sự phát triển
trí tuệ của trẻ mẫu giáo là sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức, trong đó có
hoạt động làm quen với toán. Trong hoạt động này, trẻ mẫu giáo sẽ được hình thành và
phát triển một số biểu tượng sơ đẳng về toán nhằm phát triển các năng lực tư duy,
trong đó có năng lực so sánh, cũng như Xôrôkina đã viết “Năng lực so sánh các đồ vật
và hiện tượng, xác lập những thuộc tính chung và riêng của chúng là một trong những

Thiết kế và thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng
cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ
5-6 tuổi.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Thiết kế và thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng
cho trẻ 5-6 trong hoạt động làm quen với toán.
4. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về năng lực so sánh về số lượng của trẻ 56 tuổi, thiết kế hệ thống bài tập và thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh
về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán.
- Thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh số lượng bằng nhau,
nhiều nhất, ít hơn, ít nhất của ba nhóm đối tượng trong phạm vi 10 cho trẻ 5-6 tuổi
trong giờ học toán ở trường mầm non.


3

4.2. Giới hạn về mẫu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên nhóm khách thể:
- Khảo sát 60 giáo viên khối lá và 3 cán bộ quản lý ở 10 trường mầm non tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thử nghiệm trên 30 trẻ lớp lá 1 và 30 trẻ đối chứng lớp lá 2 tại trường Mầm
non 12 Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc thiết kế và sử dụng các bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán của giáo viên ở một số trường mầm non
hiện nay còn hạn chế. Giáo viên chủ yếu sưu tầm và sử dụng các bài tập có sẵn trong

Quan sát 3 giáo viên khối lá của 3 trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh
tổ chức hoạt động làm quen với toán cho trẻ 5-6 tuổi nhằm tìm hiểu thực tế việc sử
dụng các bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi và năng lực
thực hiện các bài tập này của trẻ. Đồng thời, nghiên cứu kế hoạch tổ chức giờ học
trong hoạt động làm quen với toán cho trẻ 5-6 tuổi.
7.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu

Sau khi xử lý số liệu của Bảng hỏi và nội dung quan sát, phỏng vấn sâu 3 giáo
viên và 3 cán bộ quản lý ở 3 trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh về thiết kế
và sử dụng bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt
động làm quen với toán nhằm tìm hiểu sâu và làm rõ thực trạng thiết kế và sử dụng bài
tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen
với toán.
7.2.4. Phƣơng pháp chuyên gia

Trưng cầu ý kiến đánh giá của 3 giảng viên sư phạm dạy phương pháp tổ chức
hoạt động làm quen với toán ở 3 trường Đại học và Cao đẳng sư phạm tại Thành phố
Hồ Chí Minh; 3 cán bộ quản lý, 3 khối trưởng khối lá của 3 trường mầm non tại Thành
phố Hồ Chí Minh về tính khả thi của hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số
lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán được thiết kế.


5

7.2.5. Phƣơng pháp thử nghiệm

Thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6
tuổi trong hoạt động làm quen với toán được thiết kế trên 30 trẻ lớp lá 1 và 30 trẻ đối
chứng lớp lá 2 ở trường Mầm non Thực Hành, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã thiết kế này.

của trẻ mẫu giáo đã được các nhà tâm lí và giáo dục trong nước và ngoài nước quan
tâm từ lâu.
1.1.1. Những công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

Các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới từ rất lâu đã quan tâm đến vấn đề
phát triển trí tuệ của con người, nghiên cứu các thao tác tư duy nói chung và năng lực
so sánh nói riêng. Trong đó, có thể kể đến những nghiên cứu sau đây:
 Theo A. I. Xôrôkina, “Các năng lực trí tuệ được phát triển trong quá trình hoạt
động trí tuệ, trong quá trình lĩnh hội tri thức và dạy trẻ ngôn ngữ. Ngược lại, các năng
lực trí tuệ lại góp phần tiếp tục lĩnh hội tri thức và kỹ năng.” [47, tr.37].
 Nghiên cứu về tư duy và các thao tác của tư duy của Jean Piaget, “có ba điều
kiện cơ bản để chuyển trí tuệ từ bình diện cảm giác vận động sang phản xạ. Điều này
trước hết là làm tăng thêm vận tốc. Chính sự gia tăng này cho phép hợp nhất các tri
thức vào tổ hợp đồng bộ. Một trong các tri thức đó có liên quan đến giai đoạn nhất
định trong tính liên tục của hành động. Sau đó sẽ nhận được chính hành động này hay
hành động khác với các kết quả mong muốn và chính điều này làm tăng thêm việc tìm


7

kiếm các kết quả mỹ mãn hơn. Cuối cùng, sự mở rộng này cho phép bổ sung các hành
động mang tính thực tế bằng các hành động hình tượng. Các hành động hướng đến
biểu tượng và bước ra khỏi giới hạn không gian và thời gian gần” [13 , tr.188]. “Sự
phát triển tư duy trước hết dẫn đến việc lặp lại, trên cơ sở một hệ thống rộng hơn
những biến động, và tiến hóa về mặt cảm giác – vận động có vẻ như đã được hoàn
thiện, chừng nào nó chưa biểu hiện đầy đủ với một lực mới trong không gian rộng lớn
vô tận, trong phạm vi thời gian vô tận để đi đến cấu trúc chính các thao tác” [13,
tr.189]. Từ đó, ta thấy được theo thời gian các cấu trúc chính các thao tác được hình
thành, bắt đầu từ việc hợp nhất các tri thức vào tổ hợp đồng bộ, sau đó, hàng loạt
những hành động của các tri thức đó được diễn ra tạo ra các kết quả mong muốn từ

“phân tích và tổng hợp (là các quá trình cơ bản), rồi đến so sánh, trừu tượng hóa và
khái quát hóa” [33].
Những công trình nghiên cứu trên cho thấy, trẻ em lứa tuổi mầm non có thao tác
tư duy, thể hiện trong hoạt động thực tiễn của trẻ. Tư duy của trẻ em diễn ra theo hàng
loạt giai đoạn liên tục, trên cơ sở sự phát triển của các thao tác tư duy. Thao tác tư duy
gồm có phân tích và tổng hợp (là các quá trình cơ bản), rồi đến so sánh, trừu tượng hóa
và khái quát hóa. Các thao tác tư duy được chuyển dần từ ngoài vào trong và diễn ra
theo các giai đoạn; là quá trình di chuyển thế giới bên ngoài vào trong đầu theo cơ chế
chuyển từ hành động bên ngoài vào trong.
Mặc khác, việc giúp trẻ tích lũy được kiến thức và thực hiện được các thao tác tư
duy, trong đó có thao tác so sánh, theo các nhà giáo dục việc giáo dục trí tuệ cho trẻ là
rất cần thiết.
 Theo A. V. Daparôgiét, “tư duy của trẻ mẫu giáo đang phát triển rất mạnh. Trẻ
lĩnh hội được một loạt kiến thức mới về hiện thực xung quanh, đồng thời nắm được
những phương thức tư duy đơn giản nhất, tập phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát
những quan sát của mình, tức là thực hiện những thao tác trí tuệ đơn giản nhất.” [6,
tr.21].
 Tác giả A.A.Liublinxkaia đã nhận định “Tư duy có thể được thực hiện ở mức
độ hành động thực tiễn hay ở mức độ thao tác trong các biểu tượng hoặc từ nghĩa là “ở
bình diện bên trong”. Quá trình tư duy gồm các thao tác khác nhau: so sánh, trừu
tượng hóa, cụ thể hóa,… Mỗi một thao tác đó là sự biểu hiện đặc biệt của các quá trình
cơ bản của sự phân tích và tổng hợp. Kết quả của sự giải quyết phụ thuộc vào quá trình
độ nắm vững những kỹ năng trí tuệ chuyên biệt đó của con người. Con người cần phải


9

có những biện pháp thủ thuật khác nhau của hoạt động trí tuệ.” [26, tr.7]. Vì vậy
N.D.Điatsencô, A.I.Lipkina, U.V.Uliencôva cho rằng “Khi tổ chức giảng dạy chuyên
biệt có thể cải thiện việc thực hiện các thao tác tư duy riêng biệt như so sánh, phân

của so sánh nói chung và kỹ năng so sánh số lượng nói riêng. So sánh là cơ sở của hoạt
động phân tích và của sự tri giác đúng đắn, rõ ràng nhất những dấu hiệu của các đối
tượng hoặc hiện tượng và của sự xác định những điểm tương đồng, giống nhau hoặc
khác nhau của các đối tượng hoặc hiện tượng ấy. So sánh là phương tiện quan trọng để
củng cố, hệ thống hóa những biểu tượng của trẻ. Trẻ không những so sánh đối chiếu
những sự vật cụ thể với nhau, mà còn so sánh, đối chiếu cả các khái niệm với nhau
nữa. Ngoài ra, nghiên cứu của các tác giả A.M. Lêusina, B.B. Đanilôva đã đưa ra các
biện pháp hình thành kỹ năng so sánh số lượng trên cơ sở thiết lập tương ứng 1:1 cho
trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi khác nhau. Nghiên cứu là gần với đề tài nghiên cứu “thiết kế và
thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
trong hoạt động làm quen với toán”.
Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, trẻ em lứa tuổi mầm non có
thao tác tư duy, thể hiện trong hoạt động thực tiễn của trẻ. Tư duy của trẻ em diễn ra
theo hàng loạt giai đoạn liên tục, trên cơ sở sự phát triển của các thao tác tư duy. Thao
tác tư duy gồm có phân tích và tổng hợp (là các quá trình cơ bản), rồi đến so sánh, trừu
tượng hóa và khái quát hóa. Các thao tác tư duy được chuyển dần từ ngoài vào trong
và diễn ra theo các giai đoạn; là quá trình di chuyển thế giới bên ngoài vào trong đầu
theo cơ chế chuyển từ hành động bên ngoài vào trong.
Mặc khác, việc giúp trẻ tích lũy được kiến thức và thực hiện được các thao tác tư
duy, trong đó có thao tác so sánh, theo các nhà giáo dục việc giáo dục trí tuệ cho trẻ là
rất cần thiết. Các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới đã có những nghiên cứu về
phát triển tư duy cho trẻ nói chung và phát triển các thao tác tư duy như so sánh, trừu
tượng hóa, cụ thể hóa, khái quát hóa… nói riêng nhằm phát triển trí tuệ của con người,
trong đó, thao tác so sánh cũng có quan hệ chặt chẽ và chi phối các thao tác tư duy
khác, từ đó phát triển năng lực so sánh của con người nói chung và trẻ em nói riêng.
Các nhà tâm lý, giáo dục nước ngoài đã có những nghiên cứu về năng lực so sánh
và đã đưa ra những đặc điểm chính của so sánh nói chung và kỹ năng so sánh số lượng
nói riêng. So sánh là cơ sở của hoạt động phân tích và của sự tri giác đúng đắn, rõ ràng



 Tác giả Vũ Thị Nho (2008) quan niệm “Đến tuổi mẫu giáo lớn, ngôn ngữ
thường đi trước hành động tựa như việc trẻ vạch kế hoạch hành động. Nhờ đó manh


12

nha cho sự phát triển loại tư duy “tiền khái niệm” (Piaget gọi là tư duy “tiền thao
tác”).” [31, tr.62]. Tác giả chỉ ra được mối liên hệ giữa ngôn ngữ với việc phát triển
năng lực so sánh cho trẻ. Ngôn ngữ tác động vào việc hình thành những biểu tượng
ban đầu nhờ năng lực so sánh đối chiếu thuộc tính bên ngoài của đồ vật.
 Tác giả Trương Thị Khánh Hà (2015) cho rằng “Trẻ bắt đầu có sự chuyển
mạnh từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng, loại tư duy
diễn ra nhờ các thao tác so sánh, khái quát các hình ảnh tri giác trong đầu.” [10, tr.
117–118]. Sự phát triển tư duy cũng giúp năng lực so sánh của trẻ phát triển, trẻ
chuyển từ hành động so sánh ở bên ngoài trên đồ vật sang hành động so sánh ở trong
đầu.
 Tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2008) trong Tâm lí học đại cương nêu: “So sánh
là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay
không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức
(sự vật, hiện tượng).” [44, tr.98]. Vì vậy, tác giả cho rằng “Ở lứa tuổi mẫu giáo, nhi
đồng, so sánh là một con đường cơ bản để trẻ nhận thức thế giới” [44, tr.98].
 Tác giả Trần Thị Phương (2006), nghiên cứu “Hình thành thao tác so sánh ở
trẻ 5-6 tuổi qua tìm hiểu môi trường xung quanh” về việc hình thành thao tác so sánh
cho trẻ phải tiến hành dạy trẻ tiến trình so sánh. Tác giả đã giới thiệu một số biện pháp
phát triển thao tác so sánh như: sơ đồ hóa tiến trình so sánh, tăng cường tổ chức các
trò chơi trí tuệ, đa dạng hóa các loại đối tượng và phương tiện so sánh. Đồng thời,
trong luận án, tác giả cũng đưa ra sơ đồ hóa các bước của tiến trình so sánh này bằng
kí hiệu để giúp trẻ có thể so sánh tốt nhất [33].
 Nghiên cứu về kỹ năng so sánh trong HĐLQVT của tác giả Nguyễn Thành
Nhân (2001) với đề tài “Kỹ năng so sánh của trẻ em 4-5 tuổi và một số biện pháp hình

thống phức hợp các quá trình tâm lý, các thuộc tính tâm lý của cá nhân, nhờ đó con
người xác định được giống nhau và khác nhau, sự đồng nhất, sự bằng nhau hay không
bằng nhau giữa các sự vật, hiện tượng” [16, tr.18].
Những nghiên cứu trong nước cho thấy, có nhiều cách tiếp cận trong nghiên cứu
về năng lực so sánh của trẻ. Đi từ việc phát triển trí tuệ, tư duy cho trẻ nói chung và
phát triển tư duy cho trẻ mẫu giáo nói riêng, trí tuệ được phát triển trong một quá trình
từ thấp lên cao. Mức độ tăng giá trị và tính mới mẻ của sự khái quát và của công cụ sử
dụng, tính chủ động của hoạt động tư duy có thể coi là các tiêu chí về chất lượng, hiệu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status