BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN MINH TÍNH
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ
PHÒNG CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM CỦA
NGƯỜI CHĂN NUÔI GIA CẦM TẠI XÃ MỸ HÒA,
HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Đồng Tháp, năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN MINH TÍNH
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ
PHÒNG CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM CỦA
NGƯỜI CHĂN NUÔI GIA CẦM TẠI XÃ MỸ HÒA,
HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM NGỌC CHÂU
Đồng Tháp, năm 2017
1.5.1. Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm tỉnh Đồng Tháp ................................20
1.5.2. Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm huyện Tháp Mười .............................22
KHUNG LÝ THUYẾT ............................................................................................. 24
ii
Chương 2 ................................................................................................................... 25
ĐỐI TƯỢNG VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................... 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 25
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ...................................................................... 25
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................ 25
2.4. Phương pháp chọn mẫu ...................................................................................... 25
2.4.1. Cỡ mẫu nghiên cứu: ................................................................................25
2.4.2. Phương pháp chọn mẫu: ..........................................................................26
2.5.Các biến số và định nghĩa ................................................................................... 26
2.6. Phương pháp thu thập số liệu: ............................................................................ 27
2.7.Vấn đề đạo đức nghiên cứu ................................................................................. 27
Chương 3 ................................................................................................................... 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................................................... 29
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ......................................................... 29
3.2. Kiến thức về bệnh và phòng bệnh cúm gia cầm của người chăn nuôi gia cầm . 30
3.2.1. Kiến thức về các loài gia cầm có thể bị cúm gia cầm của người CNGC 30
3.2.2. Kiến thức về sự lây truyền bệnh cúm gia cầm của người chăn nuôi gia
cầm ....................................................................................................................31
3.2.3. Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh và phòng chống bệnh cúm gia
cầm của người chăn nuôi gia cầm .....................................................................31
3.2.4. Kiến thức về cách xử trí khi có gia cầm bệnh, chết không rõ lý do của
người chăn nuôi gia cầm ...................................................................................32
3.2.5.Kiến thức tổng hợp về bệnh và phòng chống bệnh CGC của người chăn
gia cầm của người CNGC .................................................................................41
3.5.4. Liên quan giữa các hình thức truyền thông và kiến thức, thực hành
phòng chống bệnh cúm gia cầm của người CNGC...........................................42
3.5.5. Mối liên quan giữa các hình thức truyền thông và thực hành phòng
chống bệnh cúm gia cầm của người CNGC ......................................................42
Chương 4 ................................................................................................................... 43
BÀN LUẬN .............................................................................................................. 43
4.1. Đặc điểm chung của người chăn nuôi gia cầm trong mẫu nghiên cứu: ............. 43
4.2. Kiến thức về bệnh và phòng bệnh cúm gia cầm ................................................ 44
4.2.1. Kiến thức về những loài gia cầm có thể bị cúm......................................44
4.2.2. Kiến thức về sự lây truyền bệnh .............................................................45
iv
4.2.3. Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh cúm gia cầm ............................46
4.2.4. Kiến thức về biện pháp xử trí khi có gia cầm ốm, chết không rõ lý do ..47
4.3. Thực hành phòng chống cúm gia cầm ............................................................... 48
4.3.1. Về hình thức chăn nuôi gia cầm..............................................................48
4.3.2. Về thực hành tiêm vắc xin phòng CGC ..................................................49
4.3.3. Về thực hành vệ sinh chuồng trại ............................................................49
4.3.4. Về thực hành xử lý phân .........................................................................49
4.3.5. Về thực hành xử lý gia cầm ốm, chết......................................................50
4.4. Tiếp cận thông tin............................................................................................... 50
4.5. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống cúm gia cầm của người
chăn nuôi gia cầm của đối tượng nghiên cứu............................................................ 52
4.5.1. Liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức về bệnh và phòng chống
bệnh cúm gia cầm của người CNGC ................................................................52
4.5.2. Mối liên quan giữa tuổi và kiến thức về bệnh và phòng chống bệnh cúm
gia cầm của người CNGC .................................................................................52
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCH:
Bộ câu hỏi
CĐ, ĐH:
Cao đẳng, đại học
CNGC:
Chăn nuôi gia cầm
ĐTNC:
Đối tượng nghiên cứu
ĐTV:
Điều tra viên
FAO:
Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc
GDP:
Tổng sản phẩm quốc nội
Y tế Dự phòng
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu................................................29
Bảng 3.2. Kiến thức của người CNGC về loài có thể bị cúmgia cầm của người chăn
nuôi gia cầm ..............................................................................................................30
Bảng 3.3. Kiến thức về đường lây truyền CGCcủa người chăn nuôi gia cầm ..........31
Bảng 3.4. Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh và phòng chống bệnh cúm gia
cầm của người chăn nuôi gia cầm .............................................................................31
Bảng 3.5. Kiến thức về cách xử trí khi có gia cầm bệnh, chết không rõ lý do của
người chăn nuôi gia cầm ...........................................................................................32
Bảng 3.6. Mức độ thường xuyên làm vệ sinh chuồng trại của người CNGC ...........34
Bảng 3.7.Thực hành xử lý phân gia cầm của người CNGC .....................................34
Bảng 3.8. Thực hành xử lý gia cầm ốm, chết của người CNGC ..............................34
Bảng 3.9.Các biện pháp phòng chống lây nhiễm cúm gia cầm cho bản thân và gia
đình của người chăn nuôi gia cầm ............................................................................35
Bảng 3.10. Biện pháp để phòng chống bệnh cúm gia cầm cho đàn gia cầm của
người CNGC .............................................................................................................35
Bảng 3.11. Nguồn thông tin mà người dân được tiếp cận về bệnh và phòng chống
bệnh cúm gia cầm của người CNGC ........................................................................37
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với kiến thức về bệnh
và phòng chống bệnh cúm gia cầm của người CNGC ..............................................39
viii
tuổi từ 16-64 tuổi tại xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp được phỏng
vấn thông qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 đến
tháng 9 năm 2017.
Kết quả nghiên cứu cho thấy người chăn nuôi gia cầm có kiến thức tốt về
phòng chống cúm gia cầm là khá tốt, tỷ lệ người chăn nuôi gia cầm có kiến thức tốt
là 89,2%. Người chăn nuôi gia cầm có thực hành tốt về phòng chống cúm gia cầm
thấp (47,8%). Nguồn thông tin mà người chăn nuôi gia cầm được tiếp cận nhiều nhất
là qua ti vi (98,3%). Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy cần có các khuyến
nghị:
Đối với người chăn nuôi gia cầm: cần quan tâm tìm hiểu kiến thức và thực
hành về phòng chống cúm A trên cầm và các biện pháp phòng chống để bảo đảm
x
lợi ích cho bản thân và cộng đồng. Cần hợp tác tích cực hơn nữa với các ngành
chức năng và chính quyền địa phương cùng các hộ chăn nuôi gia cầm thực hiện
nghiêm chỉnh các biện pháp phòng chống cúm gia cầm.
Đối với Trung tâm Y tế huyện Tháp Mười: đa dạng hóa các hoạt động truyền
thông, chú trọng vào truyền thông trực tiếp qua nhân viên y tế, nhân viên thú y tới
người dân chăn nuôi gia cầm.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh cúm gia cầm là một bệnh do vi rút cúm gây bệnh cho các loài gia cầm
và có thể lây lan sang người. Bệnh cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông
năm 1997 với 18 trường hợp mắc. Bệnh cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm mới nổi
biết về bệnh và các biện pháp phòng chống sẽ dẫn đến thái độ thờ ơ, coi thường
dịch bệnh có thể làm cho dịch bệnh bùng phát.
Xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp là một xã thuần nông, chăn
nuôi gia cầm đang phát triển. Trong thời gian gần đây một số tỉnh ở đồng bằng sông
Cửu Long đang xảy ra dịch cúm gia cầm tại một số địa phương như tỉnh Sóc Trăng
với số lượng hơn 300 con vịt, Kiên Giang số vịt bị nhiễm cúm là 250 con, riêng tỉnh
Đồng Tháp cũng xảy ra dịch cúm gia cầm trên đàn gà hơn 50 con của một hộ gia
đình.
Để trả lời cho câu hỏi trên tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và
thực hành phòng chống bệnh cúm gia cầm của người chăn nuôi gia cầm xã Mỹ Hòa,
huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, năm 2017”. Sau khi nghiên cứu được tiến hành sẽ
giúp các ban ngành địa phương có được những thông tin về kiến thức và thực hành
phòng chống cúm gia cầm của người chăn nuôi gia cầm tại địa phương. Từ đó có
những chiến lược truyền thông hợp lý để nâng cao công tác phòng chống cúm gia cầm
tại địa phương.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu cụ thể
1. Mô tả kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh cúm gia cầm của người
chăn nuôi gia cầm tại xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, năm
2017.
2. Xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức và thực hành về phòng chống
bệnh cúm gia cầm của người chăn nuôi gia cầm tại xã Mỹ Hòa huyện Tháp
Mười, tỉnh Đồng Tháp, năm 2017
4
5
xiêu vẹo, quay cuồng rồi lăn ra chết. Hiện nay chưa có thuốc đặc trị cho bệnh cúm
gia cầm, vì vậy biện pháp phòng ngừa phải được đặt lên hàng đầu.
1.1.3. Đường lây truyền
- Trực tiếp: Bệnh chuyển từ con nhiễm bệnh cho con khỏe.
- Gián tiếp: Bệnh truyền thông qua không khí, dụng cụ chăn nuôi, xe cộ, phân rác,
thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh.
1.1.4. Phòng bệnh
- Các trại chăn nuôi gia cầm áp dụng các biện pháp an toàn sinh học để ngăn chặn
mầm bệnh lây lan vào trại.
- Đổi mới phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi tập trung, cách xa khu dân cư theo
quy trình khép kín là điều kiện hàng đầu trong phòng bệnh. Cần tổ chức mạng lưới cung
ứng vắc-xin đầy đủ và kịp thời để người dân chủ động tiêm phòng cho đàn gia cầm với tỉ
lệ 100%.
- Với các dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, dụng cụ bảo hộ lao động và
người vào trại phải được tiêu độc, khử trùng. Thức ăn nước uống, chất độn chuồng phải
đảm bảo không chứa mầm bệnh. Ngoài ra, người chăn nuôi nên đăng ký với trạm thú y
trên địa bàn để thẩm tra điều kiện vệ sinh thú y và cấp chứng nhận cho phép chăn nuôi.
Đăng ký với trạm thú y để tiến hành lấy mẫu huyết thanh xét nghiệm vi rút cúm theo quy
định.
- Thường xuyên sát trùng chuồng trại, khu vực chăn nuôi, vệ sinh thức ăn, nước
uống, dụng cụ chăn nuôi. Hạn chế tối đa người ra vào trại, phương tiện vận chuyển trước
khi vào trại phải qua hố sát trùng ở cổng, đồng thời thường xuyên thay thuốc sát trùng tại
các hố trước cổng để ngăn chặn vi rút từ bên ngoài xâm nhập vào qua các phương tiện vận
chuyển.
- Tiêm phòng vắc-xin H5N1 cho gà, vịt. Gà 2 - 5 tuần tuổi 0,3ml/con; trên 5 tuần
tiêm 0,5ml/con; sau đó 4 tháng tiêm nhắc lại 1 lần. Vịt 2 - 5 tuần tuổi tiêm 0,5ml/con; sau
- Không buôn bán gia cầm sống tại các chợ và khu vực đông dân cư.
- Tăng cường dinh dưỡng: Trong khẩu phần ăn hàng ngày của gia cầm đảm bảo
đầy đủ dưỡng chất để tăng cường miễn dịch, giảm nguy cơ nhiễm bệnh.
- Tiêu độc khử trùng: Phun thuốc sát trùng 2 lần/tuần bằng các loại thuốc thông
dụng như aldehyde (formol, glutaraldehyd), phenol, các phức hợp chứa Iodine, các loại
7
hóa chất gây ôxy hóa (sodium dodecyl sulfate). Chúng đều có hiệu quả trong diệt trừ mầm
bệnh ở ngoài môi trường, áo quần, dụng cụ, phương tiện vận chuyển.
- Giám sát chặt sức khoẻ đàn gia cầm, phát hiện nhanh những biểu hiện bất thường
như giảm ăn, giảm đẻ, gia cầm chết đột ngột đều phải lấy mẫu đi xét nghiệm.
- Thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc của gia cầm nuôi, chim và
gia cầm hoang dã, ngăn ngừa lây truyền bệnh qua các nhân tố trung gian như thức ăn,
nguồn nước, phương tiện vận chuyển, khách tham quan...
- Khi có kết quả xác định bệnh cúm phải thực hiện tiêu huỷ toàn đàn và các biện
pháp phòng chống dịch theo hướng dẫn của cơ quan thú y.
1.1.5. Phòng bệnh khi có dịch:
Gia cầm phải được chủng ngừa đầy đủ các bệnh truyền nhiễm, kể cả vaccine
ngừa bệnh cúm A/H5N1. Trước khi chủng ngừa vài ngày nên cho gà uống
thuốc Bio-Vitamin c 10% và Bio-Electrolytesđể giảm stress, tăng sức đề kháng và
tạo miễn dịch tốt cho gà sau tiêm chủng.
Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, vào mùa lạnh phải giữ ấm chuồng trại.
Gà, vịt cũng dễ bị nhiễm giun sán làm chậm lớn, suy giảm miễn dịch, vì vậy phải
dùng thuốc Bio-Levaxantel để tẩy giun sán cho gà, vịt với liều 1ml/5kg thể trọng.
Sau khi dùng thuốc xổ vài ngày phải pha thuốc Bio-Vitasol, Bio-Aminosol ®, BioVita Fort cho gà uống để tăng sức đề kháng.
Nên dọn vệ sinh sạch sẽ phân và các chất độn chuồng, máng ăn máng uống
rồi sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi thật kỹlưỡng sau mỗi đợt xuất bán
gà, sau đó để trống chuồng trại một thời gian mới nuôi tiếp đợt khác.
Không được giết mổ để ăn hoặc đem bán, không được vứt xác bừa bãi ra đồng hoặc
dưới sông suối, mà phải bỏ gia cầm chết vào trong túi nylon và buộc miệng túi thật
kỷ, bỏ xuống hố sâu và rắc vôi bột lên trên trước khi lấp đất và nện kỷ.
1.1.7.Phòng bệnh cúm từ gia cầm lây sang người
Khi tiếp xúc với gà bệnh phải mặc đồ bảo hộ, đi ủng, đeo khẩu trang, mang
găng tay khi bắt và giết gà, sau đó rửa tay bằng thuốc sát trùng.
Nên ăn chín, uống sôi, không ăn thịt tái, không ăn tiết canh.
Mặc dù nhà nước đã có quy hoạch các điểm giết mổ tập trung, nhưng thực tế
hiện nay tại các chợ, khu vực chung quanh chợ tình trạng giết mổ gia cầm, kinh
doanh gia cầm sống, thịt và trứng gia cầm chưa qua kiểm tra của cơ quan thú y vẫn
9
phổ biến, đây là một nguy cơ tiềm tàng của việc bùng phát dịch bệnh.
Người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm gia cầm cần phải được kiểm dịch góp phần
ngăn ngừa dịch cúm xảy ra.
Bệnh cúm trên gia cầm gây nên bởi các vi rút cúm týp A, căn bệnh này được
phát hiện lần đầu tiên ở Italia vào năm 1878 còn vi rút cúm gia cầm được xác định
vào năm 1955[3]. Hiện nay bệnh cúm gia cầm có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới.
Vi rút cúm H5N1 bắt đầu xuất hiện và gây bệnh cho gia cầm ở Hồng Kông
vào năm 1997 và được dập tắt ngay sau đó bởi chính sách tiêu huỷ toàn bộ đàn gia
cầm của Chính quyền Hồng Kông. Sau một thời gian lắng dịu, vào cuối năm 2003
dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện trở lại ở một số nước Châu Á như Hồng Kông,
Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Campuchia, Lào, Inđonêxia, trung Quốc,
Malaysia và Việt Nam. Suốt từ đó cho đến nay dịch bệnh luôn luôn tồn tại và tính
ngày 19/11/2010 dịch bệnh đã có mặt tại 15 quốc gia thuộc Châu Á, Châu Phi,
Châu Âu và Trung Đông [25].
Dịch cúm gia cầm H5N1 đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho các nước có
dịch, riêng tại Việt Nam ngay trong đợt dịch đầu tiên vào cuối 2003-2004 đã phải
phức tạp, hiện tiến sát biên giới Việt Nam với tốc độ đột biến, gia tăng về cả khu
vực có người mắc và số ca mắc, số ca tử vong. Thống kê cho thấy, từ tháng 10-2016
đến nay, nước này đã ghi nhận 425 trường hợp mắc cúm A(H7N9), với tỷ lệ tử
vong cao (khoảng hơn 40%). Trong số 13 tỉnh, thành phố của Trung Quốc ghi nhận
ca mắc, Quảng Đông, Quảng Tây là nơi có giao lưu thương mại, du lịch nhiều với
nước ta. Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng, các trường hợp mắc hầu hết có tiền sử
phơi nhiễm với gia cầm sống tại các chợ buôn bán gia cầm, hoặc với môi trường bị
ô nhiễm do gia cầm nhiễm bệnh. Đến thời điểm này, nước ta chưa ghi nhận trường
hợp nào mắc bệnh cúm A(H7N9). Tuy nhiên, Bộ Y tế nhận định khả năng xâm
nhập của dịch bệnh này vào nước ta là hoàn toàn có thể, nhất là trong mùa đông xuân, là mùa của dịch cúm với các điều kiện thích hợp, như thời tiết, độ ẩm, nhiệt
độ... cùng với tình trạng phức tạp về nhập lậu, buôn bán gia cầm từ Trung Quốc vào
Việt Nam.
Đối với dịch cúm A (H5N1), tình hình cũng đang diễn biến phức tạp ở cả
trong nước và nước ngoài. Theo thông báo của Tổ chức Thú y quốc tế, trong tháng
1-2017 đã xảy ra một số ổ dịch cúm A(H5N1) trên gia cầm tại tỉnh Xvây-riêng
(Cam-pu-chia), là tỉnh có chung đường biên giới với nước ta. Theo báo cáo của Cục
Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), từ đầu năm đến nay đã ghi nhận
11
ba ổ dịch cúm A (H5N1) tại: Xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long (Bạc Liêu); xã
Diễn Thắng, huyện Diễn Châu (Nghệ An); xã Trực Thuận, huyện Trực Ninh (Nam
Định). Bên cạnh đó, một ổ dịch cúm A (H5N6) cũng được ghi nhận tại xã Phổ
Cường, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi). Ở Việt Nam hiện lưu hành cúm mùa với ba
chủng là Cúm A (H3N2), cúm B, cúm A(H1N1).
Đối với Cúm A(H5N1), ngày 06/01/2015, WHO thông báo bổ sung 16
trường hợp mắc mới cúm A(H5N1) tại Ai Cập, trong đó có 02 trường hợp tử vong,
số mắc mới tại quốc gia này trong tháng 1/2015 lớn hơn số tích lũy của cả năm
2014 (14 trường hợp mắc). Tích lũy từ năm 2003, thế giới ghi nhận 694 trường hợp
tại các địa phương. Năm 2015, chưa ghi nhận trường hợp mắc mới. Đối với cúm
A(H5N6), A(H5N8) và cúm A(H5N2), trên thế giới, trong khoảng thời gian cuối
năm 2014 đến đầu năm 2015, tại nhiều nước trên thế giới như Đức, Trung Quốc,
Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan tiếp tục ghi nhận các vụ
dịch do vi rút cúm A(H5N8) ở các trang trại gia cầm. Cuối năm 2014, Ủy ban Nông
nghiệp Đài Loan (Trung Quốc) đã đưa ra thông báo công bố phát hiện nhiều trang
trại nuôi ngan/ngỗng có thủy cầm nuôi chứa vi rút cúm A(H5N2) là chủng vi rút
cúm mới xuất hiện lần đầu tiên. Hiện trên thế giới chưa ghi nhận trường hợp nào
nhiễm các vi rút cúm gia cầm nói trên ở người, tuy nhiên các chủng vi rút này có
thể lây truyền từ gia cầm sang người.
Tại Việt Nam, đến nay vẫn chưa ghi nhận trường hợp mắc cúm A(H5N8) và
cúm A(H5N2) trên cả gia cầm và người, tuy vậy trong năm 2014 đã ghi nhận các ổ
dịch cúm A(H5N6) trên gia cầm tại một số tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng
Trị, Quảng Ngãi. Phú Thọ, Bắc Giang, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam. Kết quả xét
nghiệm bằng giải trình tự gen của các mẫu vi rút cúm A(H5N6) phát hiện ở Việt
Nam thấy có sự tương đồng đến 99% với chủng vi rút cúm A(H5N6) gây bệnh trên
người tại Trung Quốc.
Để phát hiện sự lưu hành của các chủng vi rút cúm, đặc biệt là các chủng vi
rút gây bệnh nguy hiểm và sự biến đổi gen của vi rút cúm, từ năm 2006 hệ thống
giám sát trọng điểm cúm đã được thiết lập. Trong năm 2014 và 03 tuần đầu năm
2015 đã xét nghiệm 5.907 mẫu bệnh phẩm bệnh nhân có hội chứng cúm, viêm
đường hô hấp cấp tính và viêm phổi nặng, kết quả chung cho thấy trong số các
trường hợp viêm đường hô hấp cấp chủ yếu là chủng vi rút cúm B chiếm 58%, tiếp
đến là chủng vi rút cúm A(H3) chiếm tỷ lệ 29% và chủng vi rút cúm A(H1N1) đại
dịch chiếm 13%, không ghi nhận cúm A(H7N9) tại Việt Nam.
13
Nguy cơ xâm nhập các trường hợp nhiễm cúm gia cầm vào Việt Nam là rất