LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại một số BIỆN PHÁP PHÁP lý NHẰM bảo vệ QUYỀN lợi của PHỤ nữ VIỆT NAM TRONG QUAN hệ hôn NHÂN có yếu tố nước NGOÀI - Pdf 48

Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(NIÊN KHÓA: 2009 – 2013)

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁP LÝ
NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Lê Minh Trung

Sinh viên thực hiện:
Trần Quốc Trung
Lớp
: LK0964A1
MSSV : 5095485

Cần Thơ, tháng 11 năm 2012
GVHD: ThS. Lê Minh Trung

1

SVTH: Trần Quốc Trung




Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

3

SVTH: Trần Quốc Trung


7. NV

Nội vụ

8. SL

Sắc lệnh

9. UBND

Ủy ban nhân dân

10. PBGDPL

Phổ biến giáo dục pháp luật

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

4

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, Người viết xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới các giảng viên

VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM ..........................................4
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI............................4
1.1. Một số khái niệm..............................................................................................4
1.1.1. Quyền phụ nữ ...........................................................................................4
1.1.2. Bảo vệ quyền phụ nữ .................................................................................5
1.1.3. Hôn nhân và quan hệ hôn nhân................................................................8
1.1.3.1. Hôn nhân...............................................................................................8
1.1.3.2. Quan hệ hôn nhân................................................................................10
1.1.4. Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài................................................11
1.2. Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
...............................................................................................................................12
1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia trong việc xác định pháp luật
áp dụng trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ........................................12
1.2.1.1. Áp dụng dấu hiệu quốc tịch để xác định ..............................................13
1.2.1.2. Dùng dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể để xác định ........................................14

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

6

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.2.2. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài phải phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế
mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập .................................................................15
1.2.3. Nguyên tắc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân trên tinh



Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI..........................43
3.1. Thực trạng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.......................................................43
3.1.1. Kết quả thực hiện ....................................................................................43
3.1.2. Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân ..........................................47
3.1.2.1. Những vướng mắc, bất cập..................................................................47
3.1.2.2. Nguyên nhân .......................................................................................48
3.2. Kiến nghị và giải pháp...................................................................................48
3.2.1. Kiến nghị..................................................................................................48
3.2.2. Giải pháp..................................................................................................50
KẾT LUẬN ..............................................................................................................53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

8

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước cùng với sự tác động của xu

9

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay, cụ thể Người viết tìm hiểu thực trạng trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng; trên sơ sở đó người viết đưa ra một số kiến nghị và một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài Người viết nghiên cứu nhằm một số mục tiêu sau:
Thứ nhất, Tiếp cận được một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ
Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở đó xây dựng được
một số khái niệm về quyền phụ nữ, bảo vệ quyền phụ nữ, bảo vệ quyền phụ nữ trong
quan hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Thứ hai, Đánh giá khách quan một số quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài và thực tiễn áp dụng các quy định này hiện nay.
Thứ ba, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, người viết đề xuất một số
kiến nghị và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền
lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Lịch sử, phân tích
và tổng hợp.
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu phương pháp này nhằm làm rõ sự phát triển có
tính kế thừa của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam
trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

luật Việt Nam hiện hành, chủ yếu là một số quy định trong LHN&GĐ Việt Nam hiện
hành và một số văn bản pháp luật có liên quan về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam
trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam
trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trong Chương này, Người viết trình bày về thực trạng bảo vệ quyền lợi của phụ
nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
hiện nay. Trên cơ sở đó, Người viết đưa ra một số kiến nghị và một số giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật Việt Nam quy định về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam
trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

11

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Quyền phụ nữ
Theo định nghĩa thông thường thì quyền phụ nữ được hiểu là điều mà pháp luật
hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng, được làm và được đòi hỏi1. Trong khoa
học luật, khái niệm về quyền phụ nữ chưa được làm sáng tỏ. Để tiếp cận khái niệm về



Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

2005 ghi nhận quyền kết hôn tại Điều 39 như sau: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn
theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn”. Theo
quy định này, khi phụ nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn
nhân và gia đình thì có quyền tự do kết hôn mà không ai có quyền cưỡng ép hay cản
trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ của họ.
Thứ hai, Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng
Bình đẳng nam, nữ là quyền quan trọng nhất được quy định trong hệ thống các
quyền của phụ nữ trong xã hội nói chung và trong quan hệ hôn nhân nói riêng. Điều 63
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) gọi tắt là Hiến pháp hiện hành quy
định: “Công dân nữ và nam ngang quyền nhau về mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội và
gia đình”. Theo đó, phụ nữ có quyền bình đẳng với nam về mọi mặt trong gia đình và
được cụ thể hóa tại Điều 19 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành như sau: “Vợ, chồng bình
đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”.
Thứ ba, Quyền ly hôn
Quyền ly hôn của phụ nữ được pháp luật ghi nhận tại khoản 1 Điều 85
LHN&GĐ Việt Nam hiện hành: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết việc ly hôn”. Theo đó, nếu tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được thì phụ nữ có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Ngoài ra, Phụ nữ còn có quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình
Quyền này được Hiến pháp hiện hành ghi nhận tại Điều 64 như sau: “Gia đình là
tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”. Và được cụ thể hóa tại
khoản 1 Điều 4 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành: “Quan hệ hôn nhân và gia đình thực
hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Bên cạnh
đó, quyền được Nhà nước bảo hộ ở nước ngoài của phụ nữ Việt Nam cũng được ghi

dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật ghi nhận quyền phụ
nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới. Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người nói
chung, bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của Nhà
nước. Nhà nước ghi nhận các quyền con người, quyền phụ nữ và bảo đảm cho những
quyền này được thực hiện, đó chính là nội dung bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật.
Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam luôn gắn với vấn đề
bảo vệ quyền của phụ nữ3. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ là nhiệm vụ
trọng tâm, là mục tiêu phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ. Nhận thức của con
người về vai trò của phụ nữ và đặt ra vấn đề bảo vệ quyền lợi của họ đã xuất hiện từ
rất sớm nhưng chỉ thực sự được coi như một trách nhiệm, một yêu cầu cấp thiết khi
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ra đời (1948). Tuyên ngôn đã nhấn mạnh “bà mẹ
và trẻ em được đảm bảo chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” (khoản 2 Điều 25). Đây là sự
thừa nhận của xã hội đối với chức năng làm mẹ của người phụ nữ. Với chức năng này
người mẹ được coi là chủ thể đặc biệt trong xã hội, họ có quyền được ưu tiên chăm
sóc, giúp đỡ và bảo vệ. Sau Tuyên ngôn nhân quyền, sự quan tâm của nhân loại đối
với phụ nữ và việc bảo vệ quyền lợi của họ đã được thể hiện ngày càng rõ trong các
Công ước quốc tế, như Công ước ngày 29/01/1957 về quốc tịch của người phụ nữ lấy
chồng nước ngoài do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, Công ước 1979 về loại
trừ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ,…

3

Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 86.

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

14

SVTH: Trần Quốc Trung

duy trì quan hệ hôn nhân đó ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân, nếu họ yêu cầu
được ly hôn thì quyền xin ly hôn của họ không bị hạn chế. Pháp luật hôn nhân và gia
đình còn bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc chia tài sản của vợ chồng khi ly
hôn. Việc phân chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp này được giải quyết theo
Điều 95 LHN&GĐ hiện hành. Đồng thời, pháp luật còn quy định khi phân chia tài sản
chung của vợ chồng phải “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ và con chưa
thành niên…”. Như vậy, với tư cách là người vợ, người mẹ trong gia đình, quyền lợi
của người phụ nữ luôn được pháp luật bảo vệ.

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

15

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Tóm lại, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
luôn gắn với vấn đề bảo vệ quyền con người. Quyền phụ nữ là nội dung cơ bản của
quyền con người, không tách khỏi quyền con người. Phụ nữ có quyền thực hiện chức
năng làm mẹ của mình, được xã hội chăm sóc, giúp đỡ. Bảo vệ quyền phụ nữ là mục
tiêu, trách nhiệm của nhân loại trong quá trình thực hiện quyền con người.

1.1.3. Hôn nhân và quan hệ hôn nhân
1.1.3.1. Hôn nhân
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là sự liên kết giữa đàn ông và đàn
bà. Sự liên kết đó làm phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một
quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng; trong đó các bên gắn

định cá nhân con người ngày càng lớn, đạo đức mới của con người không những phủ
nhận kiểu hôn nhân một chồng nhiều vợ như trước mà đòi hỏi tình yêu nam, nữ phải
biểu hiện trong mối quan hệ thuỷ chung một vợ, một chồng. Pháp luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam hiện hành coi chế độ hôn nhân một vợ, một chồng là một trong các
nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và là một trong các điều kiện để
thừa nhận việc kết hôn hợp pháp được ghi nhận tại Điều 2 và khoản 1 Điều 9
LHN&GĐ Việt Nam hiện hành.

Thứ hai, tính tự nguyện trong hôn nhân;
Tính tự nguyện trong hôn nhân là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ
hôn nhân và gia đình, được thể hiện tại khoản 2 Điều 9 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép
buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”.
Tuy nhiên, tự nguyện trong hôn nhân là tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa
nam và nữ, không thừa nhận chế độ đại diện trong kết hôn mà việc kết hôn phải do
chính các bên nam và nữ quyết định. Mặt khác, mục đích của hôn nhân là xây dựng
gia đình không vì mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự; đồng thời để
tránh những trường hợp hôn nhân dựa trên sự tính toán kinh tế, pháp luật Việt Nam
không thừa nhận chế độ tài sản theo thoả thuận giữa vợ và chồng mà chỉ thừa nhận chế
độ tài sản pháp định dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng được quy định từ
điều 27 đến điều 33 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành.
Thứ ba, tính bình đẳng trong hôn nhân;
Tính bình đẳng trong hôn nhân được Hiến pháp hiện hành quy định: “Mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Ở phạm vi xã hội, nam và nữ có quyền và nghĩa
vụ ngang nhau trên mọi phương diện, và ở phạm vi gia đình thì vợ và chồng bình đẳng
mọi mặt về quyền và nghĩa vụ.
Thứ tư, tính bền vững hay tính suốt đời của hôn nhân;
Tính bền vững của hôn nhân được thể hiện dựa trên yếu tố tình cảm giữa các chủ
thể trong quan hệ hôn nhân, và hôn nhân có mục đích là xây dựng gia đình do gia đình
thường bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm,… đó là những điều kiện

còn quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Có thể nói, việc xác lập và chấm
dứt quan hệ hôn nhân trước hết hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cá
nhân trong hôn nhân phù hợp với quy định của pháp luật.
Quan hệ hôn nhân là loại quan hệ pháp luật dân sự đặc biệt4. Tính chất dân sự và
tính chất đặc biệt trong quan hệ hôn nhân được thể hiện như sau:
Thứ nhất, tính chất dân sự trong quan hệ hôn nhân được biểu hiện ở ba điểm cơ
bản: Một là, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hôn nhân giống như đối tượng điều
chỉnh của pháp luật dân sự. Khi quan hệ hôn nhân được xác lập thì các quan hệ về
nhân thân như danh dự, nhân phẩm, uy tín,... và quan hệ tài sản như tài sản chung, tài
sản riêng,... của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân cũng được xác lập và chịu sự điều
chỉnh của pháp luật. Về nguyên tắc, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản là đối
tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự. Hai là, phương pháp điều chỉnh quan hệ hôn
nhân được dựa trên phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự5. Ví dụ, ở Việt Nam
4

Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 11.
5
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr. 32.

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

18

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài


hiện hành quy định:
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia
đình:
GVHD: ThS. Lê Minh Trung

19

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

a- Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài”.
Khi đề cập đến các vấn đề pháp lý trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài tại Chương XI của LHN&GĐ Việt Nam hiện hành, khoản 4 Điều 100 quy
định: “Các quy định của chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và
gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước
ngoài”.
Từ nội dung các quy định trên đây của LHN&GĐ Việt Nam hiện hành, có thể
nói theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cơ sở để xác định yếu tố nước ngoài dựa
vào ba dấu hiệu sau đây:
Một là, các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quốc tịch khác nhau. Nội
dung này được ghi nhận tại khoản 14(a) Điều 8 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành khi
công dân Việt Nam có quan hệ hôn nhân với người nước ngoài.
Hai là, các bên chủ thể cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý liên quan tới quan

nước như cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp để điều chỉnh các quan hệ pháp lý
trong đó có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền
quốc gia thể hiện rất rõ trong việc áp dụng luật nhân thân của các đương sự để điều
chỉnh quan hệ hôn nhân của họ. Luật nhân thân là một phạm trù pháp lý gắn liền với sự
tồn tại của một con người cụ thể. Luật nhân thân bao gồm luật quốc tịch và luật nơi cư
trú của đương sự. Luật quốc tịch là pháp luật xác định trên cơ sở quốc tịch của đương
sự, và luật nơi cư trú là pháp luật xác định trên cơ sở nơi cư trú của đương sự. Theo
đó, đương sự mang quốc tịch nước nào hoặc có nơi cư trú ở nước nào thì pháp luật của
nước ấy sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự của họ trong đó có quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài. Việc xác định luật quốc tịch và luật nơi cư trú của đương sự
được xem xét như sau:
1.2.1.1. Áp dụng dấu hiệu quốc tịch để xác định
Một trong những vấn đề pháp lý quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp
của một cuộc hôn nhân đó là điều kiện kết hôn phải hợp pháp. Không giống quan hệ
kết hôn trong nước, trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài cùng một lúc có ít
nhất hai hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh. Ví dụ: Trong trường hợp các bên chủ
thể khác quốc tịch thì có ít nhất hai hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh để xác định
tính hợp pháp về điều kiện kết hôn, đó là hệ thống pháp luật của các bên chủ thể mang
quốc tịch. Nói cách khác, trong trường hợp này đã có xung đột pháp luật về việc xác
định điều kiện kết hôn.
Để giải quyết hiện tượng xung đột trong việc xác định tính hợp pháp của điều
kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luật hầu hết các nước đều quy định áp dụng
hệ thuộc luật quốc tịch của các bên chủ thể. Theo hệ thuộc này thì đương sự mang
quốc tịch nước nào thì pháp luật nước ấy sẽ được áp dụng để điều chỉnh điều kiện kết
hôn của đương sự đó. Quy định này ghi nhận trong pháp luật của các nước đã thể hiện
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia.
Có thể nói, dùng dấu hiệu quốc tịch của đương sự để xác định điều kiện kết hôn
của họ là thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia bởi vì hai lý do sau đây:
GVHD: ThS. Lê Minh Trung

cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam, xem xét điều kiện kết hôn của người
nước ngoài sẽ căn cứ vào pháp luật mà người nước ngoài đó mang quốc tịch.
Tuy nhiên, trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài
trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài bên cạnh phải tuân theo
quy định pháp luật của nước mình thì còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt
Nam về điều kiện kết hôn được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 103 LHN&GĐ Việt Nam
hiện hành. Nội dung quy định này của pháp luật Việt Nam khẳng định chủ quyền của
Việt Nam buộc các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải tuân
theo.
1.2.1.2. Dùng dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể để xác định
Trong Tư pháp quốc tế nói chung và trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài nói riêng, bên cạnh việc dùng dấu hiệu quốc tịch của đương sự hầu hết các nước
còn dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định pháp luật áp dụng. Theo đó,
GVHD: ThS. Lê Minh Trung

22

SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

đương sự cư trú ở đâu thì pháp luật của nước đó sẽ được áp dụng. Việc áp dụng dấu
hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định luật áp dụng nhằm điều chỉnh quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia đối với
nước mà đương sự đang cư trú.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, dấu hiệu nơi cư trú của đương sự được áp
dụng để xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong
trường hợp không áp dụng dấu hiệu quốc tịch của các bên. Khoản 1 và khoản 2 Điều


SVTH: Trần Quốc Trung


Một số biện pháp pháp lý
nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Thứ hai, pháp luật được dẫn chiếu chỉ được áp dụng khi điều ước quốc tế có liên
quan quy định áp dụng. Điều này dựa trên cơ sở lý luận cho rằng điều ước quốc tế về
hôn nhân được xem là nguồn pháp luật quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài. Trong các điều ước quốc tế, các nước thường quy định
nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng. Theo đó các nguyên tắc và điều kiện chọn pháp
luật của nước ký kết này để áp dụng trên lãnh thổ nước ký kết kia. Ví dụ, khoản 2 Điều
23 của HĐTTTP giữa Việt Nam và Cộng hòa Ba Lan quy định: “Về điều kiện kết hôn,
mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân”.
Theo nội dung của quy định này thì điều kiện kết hôn của công dân Việt Nam đang cư
trú trên lãnh thổ của Ba Lan sẽ do pháp luật Việt Nam điều chỉnh và ngược lại đối với
trường hợp đương sự là công dân Ba Lan cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thì pháp luật
của Ba Lan sẽ điều chỉnh điều kiện kết hôn của người đó.
Trong trường hợp cả quy phạm pháp luật trong nước và quy phạm trong điều ước
quốc tế có liên quan cùng có thể được áp dụng để giải quyết một quan hệ cụ thể nhưng nội
dung quy định của các quy phạm này ở mỗi văn bản lại khác nhau, thậm chí trái ngược
nhau thì các quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, về vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài
trên cơ sở quy định của pháp luật trong nước và điều ước quốc tế có liên quan cũng
như tính ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế được quy định cụ thể trong
LHN&GĐ Việt Nam hiện hành. Khoản 1 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
quy định: “Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phải phù
hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã
ký kết hoặc gia nhập”. Sự phù hợp ở quy định này được hiểu là pháp luật nước ngoài

chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Việc áp dụng các quy định được ghi
nhận trong các nguồn này để bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không
những khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam mà còn thể hiện quan điểm của
Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế thông qua việc thực hiện các điều ước quốc tế về
hôn nhân mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Thứ hai, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có
quy định khác với quy định của pháp luật trong nước thì áp dụng các quy định của
điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 7 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành). Nội dung này
không có nghĩa là quy định trong điều ước quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn và có thể
phủ nhận hiệu lực của quy định pháp luật trong nước mà ở đây nội dung quy định chỉ
xác định tính ưu tiên áp dụng. Bởi vì, việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế
dựa trên các quy định của pháp luật trong nước với mục đích thực hiện chức năng của
Nhà nước được xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia.
Thứ ba, trong trường hợp LHN&GĐ, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam
có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia viện dẫn việc
áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng nếu việc áp
dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Điều 101 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành).
Thứ tư, trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt
Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam (Điều 101 LHN&GĐ
Việt Nam hiện hành). Nội dung của Điều này được hiểu là trong trường hợp pháp luật
Việt Nam dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài mà pháp luật nước ngoài đó lại dẫn
chiếu đến pháp luật Việt Nam thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Quy định này của pháp luật Việt Nam là hoàn toàn
phù hợp với lý luận và thực tiễn của đời sống quốc tế.
GVHD: ThS. Lê Minh Trung

25

SVTH: Trần Quốc Trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status