TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
---
---
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA: 2009 - 2013
QUY CHẾ PHÁP LÝ BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA
CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI
BÊN THỨ BA
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Đoàn Nguyễn Minh Thuận
Trần Thùy Mỵ
MSSV: 5095440
Lớp: Luật Thương Mại 3
Khóa 35
Cần Thơ, Tháng 11 năm 2012
LỜI CẢM ƠN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 09 Nghị định 103/2008/NĐ-CP
năm 2008 của Chính Phủ về bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của chủ xe cơ giới.
Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22 tháng 12
Thông tư 126/2008/TT-BTC
năm 2008 của Bộ Tài Chính Quy định Quy tắc, điều
khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Thông tư số 151/2012/TT-BTC ngày 12 tháng 09
năm 2012 của Bộ Tài Chính sửa đổi, bổ sung Thông tư
số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài
Chính quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức
trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới và Thông tư số 103/2009/TT-BTC ngày
Thông tư 151/2012/TT-BTC
25/5/2009 của Bộ Tài Chính quy định việc quản lý, sử
dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ
giới.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................1
2.3. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
đối với bên thứ ba .........................................................................................20
2.3.1. Bên bảo hiểm.....................................................................................20
2.3.2. Bên tham gia bảo hiểm .....................................................................22
2.3.3. Bên thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm .................................................23
2.4. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới đối với bên thứ ba..................................................................................24
2.4.1. Mức trách nhiệm bảo hiểm ................................................................24
2.4.2. Phí bảo hiểm......................................................................................26
2.4.3. Phạm vi bảo hiểm ..............................................................................30
2.4.4. Trường hợp loại trừ bảo hiểm ............................................................31
2.4.5. Thời hạn và hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.....................................33
2.4.6. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm .................35
2.4.6.1. Quyền và nghĩa vụ của chủ xe cơ giới .........................................35
2.4.6.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm...........................37
2.5. Giám định và bồi thường thiệt hại ........................................................39
2.5.1. Giám định tổn thất .............................................................................39
2.5.2. Bồi thường thiệt hại ...........................................................................40
2.5.2.1. Nguyên tắc bồi thường ................................................................40
2.5.2.2. Mức bồi thường bảo hiểm............................................................41
2.5.2.3. Yêu cầu bồi thường......................................................................42
2.6. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
đối với bên thứ ba .........................................................................................45
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
đền bù những thiệt hại do mình gây ra cho bên thứ ba mà còn phải gánh cả phần chi
phí sửa chữa phương tiện của mình. Để khắc phục những tổn thất có thể xảy ra cho cả
hai phía, bảo hiểm đã ra đời.
Bảo hiểm là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay. Khi những rủi
ro bất ngờ xảy ra với xe cơ giới, chủ xe cơ giới không những phải chịu những thiệt
hại vật chất do xe cơ giới của chính mình bị hư hỏng hay mất mát, mà còn chịu trách
nhiệm cả những thiệt hại về người và tài sản do xe cơ giới gây ra cho những người
thứ ba khác. Để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, giảm bớt gánh nặng
cho chủ xe cơ giới Nhà nước đã quy định bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai những quy
định của pháp luật về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối
với bên thứ ba vẫn còn nhiều điểm bất cập ảnh hưởng đến lợi ích của chủ xe cơ giới
và bên thứ ba. Hầu hết chủ xe cơ giới tham gia loại hình bảo hiểm này chỉ nhằm mục
đích đối phó với cảnh sát giao thông khi bị kiểm tra. Chủ xe cơ giới chưa thực sự
quan tâm đến lợi ích của việc tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới đối với bên thứ ba. Vì những lý do trên người viết chọn đề tài “Quy chế pháp lý
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba” để nghiên
cứu.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
2. Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn những quy
định của pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ
ba. Luận văn cũng là nguồn giúp cho chủ xe cơ giới và các bên có liên quan hiểu
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
Người viết phân tích khái niệm hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới đối với bên thứ ba, đối tượng, hình thức chủ thể của hợp đồng này, các nội dung
của hợp đồng như mức trách nhiệm, phí, quyền và nghĩa vụ của các bên,…. Tiếp theo
là các vấn đề liên quan đến việc giám định và bồi thường và cuối cùng là những
trường hợp hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ
ba chấm dứt. Từ những phân tích này người viết sẽ thấy được những vấn đề còn tồn
tại của pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ
ba.
Chương 3. Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba. Trong
chương này người viết nêu ra những vấn đề còn tồn tại của pháp luật từ việc nghiên
cứu ở chương một và chương hai. Người viết đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện
những vấn đề còn tồn tại của pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới đối với bên thứ ba.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
Trên phương diện lý thuyết cơ bản: “Bảo hiểm là phương pháp chuyển giao rủi
ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả
phí bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường
hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
1
Từ khái niệm về bảo hiểm ta có thể thấy bảo hiểm có những đặc điểm sau:
Bảo hiểm là một loại dịch vụ đặc biệt. Bảo hiểm ra đời do sự tồn tại của các loại
rủi ro và các sự kiện liên quan đến cuộc sống con người, hoạt động sản xuất kinh
doanh. Bảo hiểm là một hoạt động phải chịu trách nhiệm và rủi ro cao.
Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn. Tính bồi hoàn
thể hiện ở chỗ có sự tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thì mới được phân phối khi
sự kiện bảo hiểm xảy ra. Tính không bồi hoàn thể hiện ở chỗ dù có tham gia đóng
góp nhưng tổn thất không xảy ra thì không được phân phối lại quỹ bảo hiểm.
Bảo hiểm hoạt động dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít. Bảo hiểm thể hiện
tính tương trợ, nhân văn sâu sắc. Khi tham gia bảo hiểm việc đóng góp vào quỹ bảo
hiểm của một cộng đồng sẽ giúp ích cho những người không may xảy ra rủi ro. Thực
hiện đúng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, số đông người đóng góp sẽ giúp cho số ích
người gặp rủi ro.
1.1.2. Sự cần thiết của bảo hiểm trong đời sống kinh tế - xã hội
Ngày nay, bảo hiểm là một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người. Ở
nào hạn chế được những tổn thất do thiên tai gây ra. Bằng các phương tiện thông tin
liên lạc, các phương pháp dự báo hiện đại, người ta có thể biết trước được thời gian
hay địa điểm mà một cơn bão sẽ tràn tới hay một trận động đất sẽ đi qua. Tuy vậy,
các thảm hoạ thiên nhiên vẫn luôn là nỗi kinh hoàng, là mối đe doạ cho cuộc sống
con người, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đặc biệt, trong
những thập kỷ gần đây, cùng với những biến đổi mang tính toàn cầu về môi trường,
những thảm hoạ lớn như những trận bão lụt, động đất, cháy rừng… xảy ra ngày càng
nhiều với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Gây thiệt hại về người và tài sản rất lớn.
Như vậy, các rủi ro do thiên nhiên đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người,
về tài sản, trong đó có những cơ sở hạ tầng quan trọng với sự phát triển kinh tế – xã
hội của các quốc gia. Các thiệt hại này thường đến bất ngờ và nhanh chóng làm tiêu
tan những tài sản tích luỹ của cả đời người và kết quả đầu tư bao năm của Nhà nước
và nhân dân, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Thứ hai, các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học – kỹ thuật là
những rủi ro do chính con người gây ra trong quá trình sống và lao động sản xuất.
Xét một cách toàn diện, khoa học – kỹ thuật phát triển đem lại những sự thay đổi
mang tính tích cực đối với quá trình phát triển chung của loài người, thúc đẩy sản
xuất, tạo điều kiện thuận lợi, đem lại nhiều tiện ích cho cuộc sống của chúng ta. Tuy
nhiên, đôi khi, chính những sản phẩm con người tạo ra được nhờ sự phát triển khoa
học – kỹ thuật cũng gây hại cho chính con người.
Những phương tiện giao thông hiện đại, đầy tiện nghi cho phép sự di chuyển từ
nơi này sang nơi khác với thời gian ngày càng rút ngắn, nhưng những sự cố về tai nạn
giao thông cũng ngày một gia tăng, với tổng thiệt hại ngày một lớn. Vô số những vụ
tai nạn ôtô, xe máy từng giờ, từng phút vẫn liên tục xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới.
Ngoài ra, hàng ngày, tai nạn trong lao động – sản xuất, rủi ro trong quá trình vận
chuyển và tiêu thụ hàng hóa… vẫn luôn xảy ra. Những rủi ro này thường chỉ xảy ra
trên phạm vi hẹp, có ảnh hưởng trực tiếp tới một hoặc vài cá nhân, đơn vị sản xuất
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
2
Biện pháp thứ nhất là tránh rủi ro: nghĩa là không làm một việc gì đó quá mạo
hiểm, không chắc chắn. Biện pháp này được sử dụng khá thường xuyên trong cuộc
sống. ở một chừng mực nào đó, cẩn trọng là tốt, nhưng biện pháp này cũng có nhược
điểm là làm cho con người lúc nào cũng sợ sệt, không dám làm việc gì, mà như vậy
cũng có nghĩa là không thu được gì. Khi tránh né rủi ro như vậy, người ta cũng đã tự
2
ThS.Võ Thị Pha, Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, Học viện tài chính, Nxb. Tài Chính, Hà Nội,
2005, tr. 10 – 13.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
loại trừ đi các cơ hội. Thực tế cho thấy, trong kinh doanh, công việc càng có mức độ
rủi ro cao thì càng có khả năng thu lời lớn.
Biện pháp thứ hai là ngăn ngừa, hạn chế rủi ro: là việc đưa ra những biện pháp
nhằm đề phòng, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro và các hậu quả của nó. Việc này thể hiện ở
việc các cá nhân, tổ chức sử dụng các hệ thống phòng cháy, chữa cháy, hệ thống bảo
vệ chống trộm cắp, các biện pháp an toàn lao động, các biện pháp hạn chế tai nạn
giao thông,… Tuy nhiên, các biện pháp này cũng không thể ngăn chặn hết được các
rủi ro, bởi một trong các tính chất của rủi ro là tính không lường trước được.
Biện pháp thứ ba là tự khắc phục rủi ro: là việc người gặp phải rủi ro tự chấp
nhận, tự khắc phục khoản tổn thất do rủi ro đó gây ra. Biện pháp này thể hiện ở việc
doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ
những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở
người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên
hợp đồng. Bản chất của bảo hiểm thương mại là chia sẻ một phần hay toàn bộ rủi ro
với người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm hoặc tiền
bồi thường cho người tham gia bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ
đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Lẽ ra tổn thất sẽ là rất lớn và rất
nghiêm trọng đối với một hoặc một số ít người nhưng với bảo hiểm thương mại tổn
thất đó sẽ được gánh chịu bởi cả một cộng đồng người tham gia bảo hiểm. Vì vậy
người tham gia bảo hiểm bị tổn thất có thể dễ dàng khắc phục hậu quả.
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại bảo hiểm thương mại, tuỳ theo mục
đích và ý nghĩa nghiên cứu. Hiện nay, một số tiêu thức thường được sử dụng là:
nghiệp vụ bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, tính chất bảo hiểm,… Ở đây người viết chỉ
nói đến phân loại bảo hiểm thương mại theo tính chất bảo hiểm.
Căn cứ vào tính chất bảo hiểm: dựa vào tiêu thức này bảo hiểm thương mại
được chia làm hai loại: bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.
3
Bảo hiểm tự nguyện là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được giao kết dựa
hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của bên mua bảo hiểm. Đây chính là tính
chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một hoạt động dịch vụ
cho sản xuất và sinh hoạt của con người. Đại bộ phận các nghiệp vụ bảo hiểm thuộc
loại bảo hiểm tự nguyện.
Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm được pháp luật áp dụng khi đối tượng cần
mua bảo hiểm không chỉ cần thiết cho một số ít người mà là yêu cầu của toàn xã hội
với mục đích bảo vệ lợi ích cho cộng đồng và an toàn xã hội. Ví dụ: bảo hiểm hành
khách, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba….Điểm
hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba.
1.2. Lý luận chung về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với
bên thứ ba
1.2.1. Khái niệm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ
ba
Muốn hiểu được thế nào là bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ta
cần phải hiểu được thế nào là trách nhiệm dân sự, những điều kiện để phát sinh trách
nhiệm dân sự, thế nào là bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Từ đó ta sẽ hiểu được như thế
nào là bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba.
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Trong
đó nghĩa vụ dân sự chính là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều
chủ thể không được làm hoặc bắt buộc làm một hành động nào đó đối với một hoặc
nhiều chủ thể khác. Người chịu trách nhiệm dân sự mà không thực hiện đầy đủ hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đó thì phải chịu trách nhiệm đối với người bị hại và
chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nhìn chung thì trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh
thần. Trong đó trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần là trách nhiệm bồi
thường những tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ
dân sự gây ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn thiệt hại, thu nhập thực tế
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
bị giảm sút. Người thiệt hại về tinh thần đối với người khác do xâm phạm đến tính
mạng sức khỏe, danh dự, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi
phạm còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại. Trong thực tế, trách
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
luật được hiểu là hành vi gây tai nạn do không chấp hành hoặc chấp hành không đúng
những quy định trong điều lệ về trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại. Một
người chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là hậu quả
trực tiếp do hành vi trái pháp luật của họ gây ra, hay hành vi trái pháp luật là nguyên
nhân gây ra hậu quả đó. Mối quan hệ này được hiểu là thiệt hại xảy ra phải đúng là
kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật, và ngược lại, hành vi trái pháp luật thực sự
là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại xảy ra.
Thứ tư, có lỗi của người gây thiệt hại. Đây là yếu tố quan trọng. Thiệt hại xảy ra
có thể do hành vi cố ý hoặc vô ý gây ra, cũng có thể do nguồn nguy hiểm cao độ hoặc
do cây cối, súc vật gây ra. Lỗi của người gây thiệt hại được đánh giá trên cơ sở độ sai
phạm của anh ta. Người gây thiệt hại phải nhận thức được hoặc có thể nhận thức hành
vi của mình là trái pháp luật. Sau những vụ tai nạn giao thông đường bộ, mức độ lỗi
của người gây ra tai nạn được đánh giá bằng việc xem xét, đo đạc hiện trường, kiểm
tra phương tiện và kiểm tra lời khai nhân chứng của cơ quan chức năng. Dù người
gây tai nạn là cố ý hay vô ý, họ đều có lỗi, tuy nhiên người gây tai nạn có thể trốn
tránh trách nhiệm nếu chứng minh được tai nạn xảy ra hoàn toàn là do lỗi của nạn
nhân.
Cần lưu ý rằng, thông thường trách nhiệm dân sự sẽ phát sinh khi người gây tai
nạn có lỗi trong việc điều khiển xe. Tuy nhiên có những trường hợp người gây tai nạn
vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường khi anh ta không có lỗi. Đó là trường hợp tai
nạn xảy ra vì cấu tạo của máy móc, vật liệu.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà bên bảo hiểm cam
dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba:
Nguyên tắc thứ nhất, do loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm bắt buộc, nên trước
khi cho xe cơ giới tham gia giao thông thì chủ xe cơ giới phải tham gia bảo hiểm bắt
buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Nghị định
103/2008/NĐ-CP và Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm
dân sự của chủ xe cơ giới do Bộ Tài chính quy định.
Nguyên tắc thứ hai, chủ xe cơ giới không được đồng thời tham gia hai hợp đồng
bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự trở lên cho cùng một xe cơ giới. Đây là nguyên
tắc nhằm phòng tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm của chủ xe cơ giới và bảo vệ lợi ích
hợp pháp của chủ xe cơ giới.
Nguyên tắc thứ ba, nếu chủ xe cơ giới muốn đảm bảo thiệt hại về tài chính của
mình được giảm, người ngồi trên xe được bảo hiểm rủi ro và tăng mức trách nhiệm
của doanh nghiệp bảo hiểm, nhằm tạo tâm lý thoải mái, yên tâm khi tham gia giao
thông thì chủ xe cơ giới có thể thỏa thuận với bên bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo
hiểm tự nguyện.
Nguyên tắc thứ tư, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm
bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới các hình thức: Thứ nhất, chủ xe
cơ giới liên hệ trực tiếp doanh nghiệp bảo hiểm có kinh doanh bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba. Thứ hai, chủ xe cơ giới có thể thông
qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Trường hợp bán bảo hiểm bắt buộc trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thông qua đại lý bảo hiểm thì đại lý bảo hiểm phải
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản
Theo như pháp luật đã quy định chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm bồi thường
những thiệt hại về người và tài sản do sự lưu hành xe của họ gây ra đối với bên thứ
ba. Trên thực tế, khi xảy ra tai nạn do trách nhiệm hình sự mà có nhiều người lái xe
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ
Quy chế pháp lý bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba
bỏ chạy, cũng như do điều kiện kinh tế của chủ xe còn hạn hẹp không đủ khả năng
bồi thường cho nạn nhân. Như vậy, để đảm bảo quyền lợi cho bên thứ ba khi xảy ra
tai nạn cũng như bảo đảm cho chủ xe khỏi những hoang mang về tinh thần và những
chi phí khổng lồ, cần thiết phải có một quỹ dự trữ bồi thường trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là
tấm lá chắn vững chắc cho chủ xe khi tham gia giao thông. Tạo cho chủ xe tâm lý yên
tâm, thoải mái, tự tin khi điều khiển các phương tiện tham gia giao thông. Đề ra các
biện pháp để đề phòng và ngăn ngừa tai nạn tích cực giảm số vụ tai nạn có thể xảy ra.
Bằng cách thông qua việc tham gia bảo hiểm của chủ xe thúc đẩy chủ xe thực hiện tốt
biện pháp an toàn nhằm giảm một cách tối đa các tổn thất có thể xảy ra. Thông qua
công tác bồi thường doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thống kê được rủi ro, nguyên nhân gây
ra tai nạn từ đó tìm ra biện pháp phòng chống tai nạn. Bên cạnh đó thông qua việc thu
phí bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có nguồn chi vào việc ngăn ngừa tai nạn giao
thông.
Khi tai nạn giao thông xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thông qua hoạt động
của mình mà tiến hành việc chi bồi thường kịp thời cho chủ xe giúp chủ xe có nguồn
để bù đắp sự thiệt hại. Đó là số tiền giúp chủ xe ổn định sản xuất không làm gián
đoạn việc kinh doanh, hạn chế việc giảm thu nhập và cũng giúp cho chủ xe phát huy
quyền tự chủ về tài chính khi không may xảy ra tai nạn bất ngờ phát sinh trách nhiệm
Chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới được quy định tại Nghị định
số 30/1988/NĐ-HĐBT ngày 10 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng sau 10
năm thực hiện Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 115/1997/NĐ-CP ngày 17
tháng 12 năm 1997 của Chính phủ về chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự
của chủ xe cơ giới. Quy định về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được
ban hành rất sớm, điều này cho thấy Nhà nước rất quan tâm đến loại hình bảo hiểm
này. Hiện nay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã được quy định cụ
thể bởi Nghị định 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 09 năm 2008 của Chính Phủ về
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Thông tư 126/2008/TT-BTC ngày
22 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài Chính Quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và
mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Thông tư
liên tịch 35/2009/TT-BTC-BCA ngày 25 tháng 02 năm 2009 của Bộ Tài Chính và Bộ
Công An hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày
16 tháng 9 năm 2008 về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;
Thông tư 151/2012/TT-BTC ngày 12 tháng 09 năm 2012 của Bộ Tài Chính sửa đổi,
bổ sung Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài Chính quy định
Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân
sự của chủ xe cơ giới và Thông tư số 103/2009/TT-BTC ngày 25/5/2009 của Bộ Tài
Chính quy định việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ
giới.
Khi tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ
ba, các bên phải tuân thủ những quy định cụ thể của pháp luật về loại bảo hiểm này
thì các bên cũng phải tuân thủ nhũng quy định của luật chung như quy định của Bộ
luật dân sự năm 2005, Luật hợp tác xã năm 2003, Luật doanh nghiệp năm 2005 sửa
đổi, bổ sung năm 2009 và một số quy định khác của pháp luật có liên quan.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận
SVTH: Trần Thùy Mỵ