TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA HỌC 2009 - 2013
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
HUỲNH THỊ TRÚC GIANG
HUỲNH THỊ KIM NI
MSSV: 5095544
Lớp: Luật tư pháp 2 – K35
Cần Thơ, tháng 5/ 2013
LỜI CẢM ƠN
Với vốn kiến thức tích lũy qua bốn năm học tại trường Đại học Cần Thơ, không
những giúp người viết hoàn thành luận văn tốt nghiệp mà còn là hành trang quý báu cho
người viết trong công việc và cuộc sống sau này. Trong quá trình nghiên cứu luận văn
của người viết dù gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời gian, khả năng nghiên cứu, kiến
thức cũng còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm nên để hoàn thành được luận văn này, người
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày 15 tháng 5 năm 2013
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về thủ tục
đăng ký kết hôn......................................................................................................... 5
1.2.1 Luật cổ và tục lệ......................................................................................... 5
1.2.2 Luật cận đại ............................................................................................... 8
1.2.3 Luật hiện đại............................................................................................ 12
1.3 Sự cần thiết để ban hành các quy định về thủ tục đăng ký kết hôn ............... 17
CHƯƠNG 2: THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM ..................................................................................... 19
2.1 Thẩm quyền đăng ký kết hôn........................................................................... 19
2.2 Hồ sơ đăng ký kết hôn ...................................................................................... 22
2.2.1 Tờ khai đăng ký kết hôn .......................................................................... 23
2.2.2 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ........................................................ 24
2.2.3 Giấy chứng minh nhân dân..................................................................... 27
2.3 Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn.................................................................... 28
2.3.1 Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn....................................................................... 28
2.3.2 Xác minh và niêm yết công khai.............................................................. 30
2.3.3 Từ chối đăng ký kết hôn .......................................................................... 31
2.3.4 Lễ kết hôn ................................................................................................ 33
2.3.4.1 Ngày và nơi đăng ký kết hôn ......................................................... 33
2.3.4.2 Lễ đăng ký kết hôn ........................................................................ 34
2.3.4.3 Lễ cưới.......................................................................................... 35
2.3.4.4 Bằng chứng hôn nhân ................................................................... 36
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ ............................................................................................ 38
3.1 Tình hình giải quyết đăng ký kết hôn ở địa bàn thành phố Cần Thơ ............ 38
3.2 Một số vướng mắc về việc áp dụng thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn
thành phố Cần Thơ................................................................................................. 40
3.2.1 Vướng mắc về thẩm quyền đăng ký kết hôn............................................ 40
gia đình là hệ quả tất yếu của quá trình tìm hiểu và kết hôn. Để có một gia đình hạnh phúc
thì cuộc hôn nhân đó phải được xác lập theo đúng quy định của pháp luật, các bên phải
đáp ứng được tất cả các điều kiện kết hôn và phải đảm bảo quan hệ hôn nhân đó được xác
lập theo trình tự thủ tục do luật định. Việc xác lập quan hệ hôn nhân theo cách truyền
thống của mọi người trong xã hội như theo phong tục cưới mà không có đăng ký trước cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho dù quan hệ đó được mọi người công nhận nhưng pháp
luật lại không thừa nhận, như thế ảnh hưởng trực tiếp đến những người trong cuộc là điều
không tránh khỏi.
Dù luật quy định rõ ràng như thế, tuy nhiên trên thực tế có một số người lại xem
thường pháp luật, dẫn đến sự vi phạm. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rõ trách nhiệm của
cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Sự hạn chế trong công tác ban
hành văn bản pháp luật, với nhiều quy định còn thể hiện nhiều thiếu sót. Đồng thời sự
quản lý của một số cơ quan nhà nước về đăng ký kết hôn chưa thật sự chặt chẽ, tạo điều
kiện để người dân vi phạm mà pháp luật chưa kịp thời xử lý. Ta có thể thấy vai trò của
Cán bộ tư pháp hộ tịch khi tiến hành đăng ký kết hôn cho đương sự rất quan trọng. Bởi
đây là giai đoạn để Cán bộ tư pháp hộ tịch kiểm tra các bên có đáp ứng đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của pháp luật hay không. Tuy nhiên, giai đoạn này lại thể hiện nhiều bất
cập như trong quá trình kiểm tra các bên có đủ điều kiện kết hôn hay có rơi vào những
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
1
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
trường hợp cấm kết hôn hay không. Do quy định của pháp luật về các loại giấy tờ khi xuất
trình khi đăng ký kết hôn kết là khá hạn chế, không thể chứng minh sự thật một cách chính
xác. Bên cạnh đó, ý thức làm việc của một số Cán bộ tư pháp hộ tịch tại một số địa
Chương 2: Thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
2
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
Chương 3: Tình hình đăng ký kết hôn ở địa bàn thành phố Cần Thơ
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, mặc dù đã có sự hướng dẫn nhiệt tình của
giáo viên hướng dẫn và sự cố gắng của bản thân, nhưng điều đó không thể tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế nhất định. Do đó, người viết mong nhận được những ý kiến đóng
góp của quý thầy, cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
3
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
1.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm về kết hôn
Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
4
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
vợ chồng đã ly hôn mà muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn”. Quan hệ
hôn nhân phát sinh khi việc kết hôn này phải được tiến hành tại Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về đăng ký kết hôn theo một trình tự, thủ tục do luật quy định. Những trường hợp
mà việc đăng ký kết hôn không do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thì không
có giá trị pháp lý và các bên sẽ không được pháp luật bảo vệ, ví dụ: tổ chức kết hôn có sự
chứng kiến của nhiều người nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, kết
hôn theo phong tục, tập quán có sự đồng ý của trưởng làng, già làng.
Để phát sinh quan hệ giữa vợ và chồng thì các bên phải có đủ điều kiện để kết hôn
theo quy định của pháp luật. Ngoài việc đảm bảo các điều kiện kết hôn, thì việc đăng ký
kết hôn phải tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
1.1.3 Khái niệm về thủ tục đăng ký kết hôn
Kết hôn và đăng ký kết hôn là những vấn đề luôn đi đôi với nhau mỗi khi cá nhân
muốn tạo lập gia đình riêng cho mình. Giai đoạn cuối cùng để làm phát sinh quan hệ hôn
nhân là phải trải qua quá trình đăng ký kết hôn, vì thế, thủ tục đăng ký kết hôn đóng vai trò
rất quan trọng mà mỗi cá nhân cần phải nắm vững để đảm bảo quyền và lợi ích của mình,
cũng như phục vụ cho công việc có liên quan. Dù luật chưa có định nghĩa như thế nào là
thủ tục đăng ký kết hôn, nhưng ta có thể hiểu: thủ tục đăng ký kết hôn là việc đăng ký kết
hôn phải được tiến hành theo một trình tự nhất định, những trình tự để tiến hành đăng ký
kết hôn này được đảm bảo thực hiện bởi pháp luật. Các quy định của pháp luật Việt Nam
về thủ tục đăng ký kết hôn không chỉ nằm ở văn bản Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000, mà hầu như nó nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, nó được quy định một
quan viên và thường dân.
Điều 314 Bộ luật Hồng Đức quy định ai muốn cưới vợ thì phải đưa sính lễ đến nhà
cha mẹ đàng gái, trong trường hợp cha mẹ nhà gái chết hết thì đem đến nhà người trưởng
tộc hay trưởng làng để xin cưới. Việc đính hôn thông qua nạp trưng sính lễ có giá trị pháp
lý ràng buộc trách nhiệm của hai bên trong việc hứa hôn. Ngoài ra ở Điều 314 còn quy
định nếu thành hôn cẩu thả thì bị biếm một tư và phải nộp tiền tạ còn gọi là tiền xin lỗi cho
bên đàng gái theo luật sang hèn. Còn nếu thành hôn mà cha mẹ chết hết thì phải nộp tiền tạ
lỗi ấy cho người trưởng tộc hay trưởng làng, ngoài ra, người con gái còn bị đánh 50 roi.
Bộ luật Hồng Đức chú trọng về mặt hình thức đó là việc bên muốn cưới vợ phải đưa sính
lễ và đây là thủ tục bắt buộc.
Ngoài ra Điều 315 còn quy định nếu đã gả con gái mà nhận đồ sính lễ rồi, ví dụ
như: các món vàng vòng, tiền bạc, lụa, heo, rượu mà lại thôi không chịu gả nữa thì bị đánh
80 trượng. Trong xã hội phong kiến này, việc nhà gái đồng ý gả và đã nhận các món sính
lễ mà trả lại thì danh dự bên hỏi cưới sẽ bị tổn thất. Nếu đem gả cho người đã có vợ thì xử
đồ làm khao đinh. Không biết thì sẽ không bị tội, con gái ấy phải gả cho người hỏi cưới
trước, nếu người hỏi cưới trước không cưới thì phải đền sính lễ gấp đôi cho nhà gái, người
con gái ấy sẽ được gả cho người hỏi cưới sau, nếu đàng trai không cưới thì bị phạt 80
trượng và bị mất sính lễ. Điều 94 Bộ luật Gia Long cũng quy định tương tự.
Con gái hứa gả nhưng chưa làm lễ cưới, nếu người con trai có ác tật hay phạm tội
nào đó, hoặc chơi bời lêu lổng, phá gia sản thì người con gái được phép báo lên quan ti để
trả đồ lễ cưới. Nếu người con gái bị ác tật hay phạm tội thì khỏi phải trả đồ lễ. Nếu làm
trái luật này thì đánh 80 trượng được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hồng Đức. Trường
hợp đôi nam nữ tự ý chung sống với nhau như vợ chồng mà không qua lễ nghi theo luật
định thì họ được coi như “cẩu hợp” khi đó người con trai phải nộp tiền tạ lỗi cho cha mẹ
người con gái, đồng thời người con gái phải bị phạt 50 roi, như thế cuộc hôn nhân của họ
mới xem là hợp pháp và được xã hội chấp nhận. Nếu người con trai và người con gái
thông dâm trước với nhau “tiền dâm hậu thú” thì người con trai sẽ bị luận tội đồ và bị
đánh 80 trượng, người con gái sẽ bị đánh 50 roi và không được xem là hôn nhân hợp pháp.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
bố mẹ chồng ba năm; khi lấy nhau, vợ chồng nghèo, sau đó giàu có; khi lấy nhau, vợ còn
bà con, họ hàng, nay vợ không còn bà con họ hàng nào để trở về. Vì thế, dù vợ có phạm
vào một trong các điều thất xuất mà người vợ nằm trong ba trường hợp người chồng
không thể bỏ, nếu người chồng cố tình bỏ vợ thì bị phạt 60 trượng.
Về việc thuận tình ly hôn, Bộ luật Gia Long quy định nếu vợ, chồng không cùng
sống vui vẻ, hòa thuận mà cả hai muốn ly dị thì họ có thể bỏ nhau mà không bị pháp luật
buộc tội.
Nhìn chung, qua các quy định về hôn nhân, người phụ nữ Việt Nam cũng như
người phụ nữ phương Đông luôn phải sống khép mình trong các quan điểm và lễ nghĩa
khắt khe của phong kiến. Trong Bộ luật Hồng Đức có những điều luật sáng tạo nhằm tạo
điều kiện cho người phụ nữ được một phần nào đó chủ động trong việc kết hôn, trong thời
gian chung sống với chồng cũng như trong việc ly hôn. Luật nhà Lê luôn tạo điều kiện
nâng cao sự bình đẳng giữa nam và nữ trong cái xã hội lúc nào cũng theo quan niệm
“trọng nam khinh nữ”.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
7
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
Pháp luật về hôn nhân và gia đình ở nước ta thời xưa đại bộ phận chịu ảnh hưởng
của nền văn hóa và pháp luật phương Bắc, trong quá trình tiếp thu các nhà làm luật đã biết
kế thừa có chọn lọc và có nhiều sáng tạo. Đồng thời nó cũng đi sâu vào đời sống người
dân qua quá trình áp dụng lâu dài và một bộ phận nào đó nó đã trở thành phong tục tập
quán của nước ta. Qua các thời kỳ sau, pháp luật lại có sự thay đổi do xã hội thay đổi,
pháp luật thời trước đó không còn hiệu lực thi hành, nhưng nó vẫn được mọi người làm
theo trong cách xử sự. Pháp luật nhà nước Pháp thuộc và các chế độ sau này vẫn dựa vào
8
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
Nghi thức kết hôn trong thời kỳ này được tiến hành hai bước.
Thứ nhất, phải làm lễ hỏi (ước hôn). Lễ hỏi được tiến hành là thời điểm trao nhận
sính lễ. Lễ hỏi cưới chỉ có giá trị pháp lý khi nào mà cha mẹ người con trai đã đưa lễ vật
đến nhà của cha mẹ người con gái một cách long trọng. Sau đó, hai bên định ngày cưới
trong một thời gian nhất định. Bộ Dân luật Trung quy định, từ ngày làm lễ hỏi đến ngày
làm lễ cưới thì không được quá 6 tháng, trừ khi có lý do chính đáng mà không tiến hành lễ
cưới được, ví dụ như: đau ốm hay gia đình có tang.
Nghi thức kết hôn ở nước ta vào thời kỳ này chưa thống nhất bởi phần nào chịu ảnh
hưởng của tục lệ phong kiến và chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây. Theo Dân
luật giản yếu thì không công nhận lễ hỏi có giá trị pháp lý, tức lễ hỏi sẽ không thể hiện
được sự ràng buộc giữa hai bên nam và nữ, sau đó hai bên phải làm giá thú.
Thứ hai, phải làm lễ cưới hay còn gọi là hôn lễ. Hôn lễ phải được tiến hành theo
phong tục tập quán của chế độ quân chủ phong kiến trước đây. Ngoài ra, cần phải khai báo
với chính quyền nơi nhà trai và nhà gái cư trú để làm các thủ tục về công bố để mọi người
biết về quan hệ hôn nhân giữa hai người này. Trong 8 ngày phải làm thủ tục công bố, sau
đó phải đăng ký vào sổ hộ tịch hay còn gọi là bộ giá thú.
Điểm nổi bật trong nghi thức kết hôn khi chịu ảnh hưởng của pháp luật phương Tây
là hai bên muốn kết hôn thì phải đến chính quyền địa phương làm thủ tục đăng ký kết hôn
hay còn gọi là làm giấy hôn thú. Ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên mà việc kết hôn phải
thông qua thủ tục đăng ký tại chính quyền.
Dân luật giản yếu quy định có hai cách thức kết hôn. Đó là khi kết hôn thì bắt buộc
phải tiến hành hôn lễ theo tục lệ hay còn gọi là hình thức kết hôn theo kiểu Việt Nam.
trước mặt họ cũng như trước mặt những người thân của họ tại phòng hộ tịch, sau đó viên
hộ lại hỏi cả lần lượt cả nam và nữ có đồng ý lấy nhau không. Nếu cả hai người trả lời
đồng ý thì viên hộ lại tuyên bố họ là vợ chồng.
Dân luật giản yếu năm 1884 ở Nam kỳ khi tiến hành thủ tục kết hôn, mà hôn lễ
được tiến hành có làm lễ nghi theo tục lệ hay không, hay chỉ đăng ký với chính quyền khi
đã công khai hợp pháp thì nó cũng được mọi người áp dụng. Tuy luật quy định hai trường
hợp như thế nhưng ở Nam Kỳ thì trên thực tế người dân chỉ áp dụng thủ tục kết hôn theo
kiểu Việt Nam, tức việc kết hôn phải tiến hành theo tục lệ mà xưa nay Việt Nam áp dụng.
Còn hình thức kết hôn theo kiểu Pháp thường ít được áp dụng, bởi pháp luật Việt Nam chỉ
mới bị ảnh hưởng trong khoảng thời gian không gọi là dài; do đó, nó khó có thể làm thay
đổi cách sống trong xã hội người Việt Nam.
Trong khi đó, ở Bắc kỳ và Trung kỳ theo Điều 91 của Dân luật Bắc và Dân luật
Trung thì quan hệ hôn nhân được thiết lập khi hai bên nam nữ khai báo đăng ký kết hôn.
Đây là điều kiện bắt buộc và là cơ sở để xác định họ có phải là vợ chồng hay không.
Từ thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tiến hành đô hộ nước ta, sau đó cho ra đời ba bộ
luật ở ba miền Bắc – Trung – Nam. Tuy ở mỗi miền đều có bộ luật riêng để áp dụng,
nhưng ta có thể thấy điểm giống nhau trong ba bộ luật này ở nghi thức kết hôn. Ảnh
hưởng của nền văn hóa phương Tây, điều kiện để cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý là phải
đăng ký với chính quyền địa phương. Thủ tục đăng ký này được xem là điểm mới trong
quan hệ hôn nhân và gia đình của nước ta cho tới thời điểm bấy giờ. Sau này pháp luật
Việt Nam cũng kế thừa điểm này để hoàn thiện hơn trong hệ thống pháp luật về Hôn nhân
và gia đình.
Bên cạnh những điểm khác biệt về nghi thức kết hôn giữa luật quân chủ phong kiến
và luật nước ta thời Pháp thuộc, thì luật nước ta trong giai đoạn này còn có một số quy
định mà luật trước đó không có quy định cũng không có đề cập đến.
Để quan hệ hôn nhân phát sinh, thì luật trong giai đoạn này quy định phải có sự ưng
thuận của cả hai bên nam nữ. Một phần nào đó đôi nam nữ có thể thể hiện ý chí của mình
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
10
quy định độ tuổi kết hôn ở nam là 16 tuổi, nữ là 14 tuổi. Ngoài ra, trong trường hợp người
con gái chưa có chồng mà đã có thai, Dân luật Bắc và Dân luật Trung quy định tối thiểu
thì nữ phải đủ 12 tuổi, nam phải đủ 15 tuổi.
Trong thời kỳ hôn nhân, luật đặt ra những quy định về các nghĩa vụ của chồng và
vợ khi chung sống cùng nhau. Các ví dụ điển hình như: vợ chồng có nghĩa vụ làm cho gia
đình hưng thịnh, chung sống với nhau ở một nơi, vợ chồng phải để tang cho nhau. Tuy
nhiên, ở ba bộ luật quy định chung thủy là nghĩa vụ của vợ, đối với chồng thì không bắt
buộc, vợ có nghĩa vụ phục tùng chồng. Trong khi đó luật chỉ quy định các quyền của
chồng mà không có đề cập đến quyền của vợ như: chồng có quyền lựa chọn chỗ ở, kiểm
sót hành vi của vợ, đại diện cho vợ, trừ trường hợp vợ phạm tội hình sự, chồng được hành
các quyền giống như quyền của cha mẹ đối với con…
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
11
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
Trong trường hợp vợ chồng không thể sống chung với nhau được nữa nhưng có ly
hôn thì họ có thể làm thủ tục ly thân. Đây là điểm mới trong luật về hôn nhân và gia đình
thời pháp thuộc. Dân luật giản yếu quy định: “trong trường hợp có thể xin ly hôn được, vợ
chồng cũng có thể xin ly thân”. Trong Dân luật Bắc và Dân luật Trung thì chưa có quy
định rõ ràng, nhưng chế định về ly thân cũng được áp dụng thông qua án lệ xét xử, họ có
thể sống riêng với nhau trong trường hợp không thể sống chung, Tòa án sẽ có quyền xét
xử trong trường hợp này. Ngoài ra, Tòa án cũng giải quyết các vấn đề liên quan đến nghĩa
vụ chăm sóc và cấp dưỡng cho con.
Có thể nói, chế độ hôn nhân và gia đình nước ta thời kỳ này là công cụ pháp lý mà
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
Năm 1950, Nhà nước ta mới ban hành hai sắc lệnh để điều chỉnh quan hệ Hôn nhân
và gia đình. Đó là sắc lệnh 97 - SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định
trong dân luật và sắc lệnh 159 - SL ngày 17/11/1950 các điều khoản về ly hôn.
Tuy hai sắc lệnh này không đề cập đến thủ tục kết hôn, nhưng đã thể hiện nhiều sự
thay đổi theo hướng tích cực trong quan hệ Hôn nhân và gia đình. Sắc lệnh 97 - SL ngày
22/5/1950 có quy định về việc xóa bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ chịu tang, Điều 3 sắc
lệnh quy định: “trong thời kỳ tang chế vẫn có thể lấy vợ, lấy chồng được”. Điều 2 quy
định: “người con đã thành niên không bắt buộc phải có cha me bằng lòng mới được kết
hôn”. Ngoài ra sắc lệnh này còn quy định: “người đàn bà ly dị có thể lấy chồng khác ngay
sau khi có án tuyên ly dị, nếu chứng minh rằng mình không có thai hoặc đương có thai”.
Vợ chồng có địa vị bình đẳng trong gia đình được quy định tại Điều 5. Người đàn bà có
chồng, có toàn năng lực về mặt hộ được quy định tại Điều 6. Sắc lệnh 159 – SL ngày
17/11/1950 đã công nhận nguyên tắc tự do hôn nhân, đó là quyền tự do kết hôn và tự kết
hôn và tự do ly hôn. Điều 2 sắc lệnh quy định: “Tòa án có quyền cho phép vợ hoặc chồng
ly hôn trong các trường hợp ngoại tình, một bên can án phát giam, một bên bị điên hoặc
mắc bệnh khó chữa, một bên bỏ nhà đi quá hai năm mà không có lý do, vợ chồng có tính
tình không hợp đến nổi không thể sống chung”. Ngoài ra, sắc lệnh còn quy định: “vợ
chồng có thể xin thuận tình ly hôn”. Điều này đã thể hiện quyền tự do người dân trong
việc quyết định vấn đề hôn nhân của mình. Quy định trong sắc lệnh này còn nhằm bảo vệ
người phụ nữ đặc biệt là người phụ nữ đang mang thai, điều này được quy định tại Điều 5:
“nếu người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin tòa hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc
ly hôn”.
Như vậy, sự ra đời của hai sắc lệnh này đã thúc đẩy quá trình xóa bỏ chế độ Hôn
nhân và gia đình của chế độ phong kiến lạc hậu, đã góp phần giải phóng người phụ nữ ra
khỏi chế độ bất bình đẳng, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội. Tuy nhiên, do hai sắc
hôn.
Mọi nghi thức kết hôn khác không có giá trị về mặt pháp lý. Do đó, pháp luật
nghiêm cấm chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (ngoại hôn). Trong
trường hợp phát hiện được có cặp vợ, chồng chung sống với nhau nhưng không làm hôn
thú thì họ phải làm các thủ tục kết hôn đã được luật quy định trong thời hạn 2 tháng và
phải đáp ứng đủ các điều kiện về kết hôn. Nếu họ không đủ điều kiện để kết hôn thì tùy
trường hợp mà xử lý. Ngoại hôn trong giai đoạn này thì không chấp nhận, nếu hai người
nam nữ đã ngoại hôn thì có thể bị xử lý về mặt hình sự về tội phạm gian, tội loạn luân hay
tội ngoại hôn.
Như vậy, nghi thức của việc kết hôn trong giai đoạn này được quy định khá đầy đủ
và rõ ràng hơn. Luật gia đình năm 1959 được áp dụng thống nhất ở hai miền của nước ta
sau khi đất nước được thống nhất. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, có nhiều vấn đề
mới phát sinh cần phải điều chỉnh mà Luật gia đình năm 1959 chưa dự trù đến những
trường hợp đó. Đến giữa năm 1964, sắc luật 15/64 ra đời, nó kế thừa nhiều nội dung được
quy định trong Luật gia đình năm 1959, đồng thời cũng bãi bỏ một số quy định không phù
hợp với thực tiễn xã hội lúc bấy giờ.
Nhìn chung, sắc luật số 15/64 năm 1964 cũng giống như Luật gia đình năm 1959 về
điều kiện kết hôn cũng như thủ tục kết hôn. Tuy nhiên, đến thời điểm này sắc luật 15/64 đã
bãi bỏ toàn bộ các quy định của Luật gia đình năm 1959 về trường hợp chung sống như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn (ngoại hôn). Như vậy, sắc luật này đã không quy định
một cách khác nghiêm khắc về việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng
không đăng ký kết hôn, trong bối cảnh xã hội Việt Nam lúc này thì quy định này phù hợp
hơn, bởi trong lúc này đất nước ta còn gặp nhiều khó khăn, chiến tranh giữa Việt Nam với
Mỹ còn đang diễn ra trên chiến trường miền Nam, như thế cuộc sống của người dân sẽ
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
14
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
hôn nhân và gia đình mới.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời được kế thừa những nguyên tắc cơ bản
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1956, sắc luật 15/64, bộ Dân luật năm 1972. Đồng
thời cũng bổ sung những quy định mới phù hợp với xã hội.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có thêm quy định mới về nguyên tắc của Luật
hôn nhân và gia đình như: “hôn nhân giữa các dân tộc Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn
giáo khác nhau được tôn trọng và bảo vệ” hay bổ sung một số quy định mà trong xã hội
trước chưa phát sinh như kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
15
SVTH: Huỳnh Thị Kim Ni
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
Về thủ tục kết hôn cũng giống như các quy định trước đây. Khi đăng ký kết hôn thì
đôi nam nữ đến Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú của một trong hai người. Khi đó
chính quyền địa phương hoặc thủ trưởng cơ quan đang thực hiện việc đăng ký kết hôn sẽ
xem xét các vấn đề liên quan, nếu không có vấn đề thì Ủy ban nhân dân tiến hành đăng ký
kết hôn cho họ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kết hôn, thì đôi nam nữ phải cùng đến. Chủ tịch hoặc một cán bộ thực hiện việc
đăng ký kết hôn sẽ cấp giấy kết hôn cho họ. Đây là thủ tục hành chính bắt buộc về mặt
pháp lý. Sau khi nhận giấy kết hôn thì quan hệ vợ chồng đã được hình thành, việc tổ chức
hay không tổ chức lễ cưới thì không bắt buộc. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của phong tục
trước đây, hầu như mọi cặp vợ chồng đều tổ chức lễ cưới theo nghi lễ truyền thống.
Luật hôn nhân và gia đình quy định về thủ tục đăng ký kết hôn khá đơn giản, đã
hạn chế được những phong tục cổ truyền rườm rà không cần thiết, phù hợp với sự thay đổi
Tìm hiểu về thủ tục đăng ký kết hôn ở địa bàn Thành phố Cần Thơ
đầu tiên để xây dựng và phát triển gia đình, mà gia đình được xem là tế bào của xã hội.
Chính vì những lý do đó mà Luật hôn nhân và gia đình cần phải được quy định một cách
cụ thể và rõ ràng về tất cả các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình và vấn đề về thủ
tục đăng ký kết hôn nói riêng. Chỉ khi nào việc kết hôn đáp ứng đầy đủ các điều kiện về
kết hôn thì pháp luật sẽ bảo vệ những quan hệ hôn nhân đó.
Việc kết hôn phải được tiến thành theo trình tự thủ tục được pháp luật quy định
nhằm tạo điều kiện để Cán bộ tư pháp hộ tịch tiến hành đăng ký kết hôn cho hai bên, đây
cũng là cơ hội để Cán bộ tư pháp hộ tịch có thể kiểm tra lại các điều kiện về nội dung có
phù hợp với pháp luật hay không. Để đảm bảo cho cuộc hôn nhân hạnh phúc, để mọi
người có một gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ thì đây là việc rất cần thiết.
Hơn nữa, trong các nghi thức kết hôn từ thời xa xưa phản ánh các tục lệ của xã hội
mà trong thời kỳ hiện hay sẽ không phù hợp, bởi đó chỉ là phong tục không có cơ sở rõ
ràng để ràng buộc trách nhiệm đối với các bên. Việc quy định các thủ tục kết hôn trong hệ
thống pháp luật về hôn nhân gia đình sẽ tạo nên sự thống nhất trong việc quản lý của nhà
nước về việc kết hôn, đảm bảo trật tự xã hội, cũng như thể hiện tầm quan trọng của nhà
nước đối với xã hội trong việc bảo vệ các giá trị truyền thống của dân tộc ta.
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của nền kinh tế xã hội và sự mở rộng quan hệ
ngoại giao với nước ngoài, trong đó quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng là điều
tất yếu, bởi quan hệ hôn nhân không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia như trước đây
nữa, đây cũng là điều kiện thuận lợi để nước ta phát triển, nhưng đây cũng là cơ hội để các
đối tượng lợi dụng việc kết hôn thực hiện những ý đồ xấu. Thực tế cho thấy quan hệ hôn
nhân cũng bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của xã hội. Vì thế, để có cuộc hôn nhân gọi là
đích thực thì điều quan trọng trước mắt là phải đảm bảo cuộc hôn nhân phải đáp ứng tất cả
các điều kiện về kết hôn. Việc quy định thẩm quyền đăng ký kết hôn tạo điều kiện thuận
để nhà nước dễ dàng quản lý, nhằm hạn chế những hậu quả không tốt đối với hai bên nam
nữ kết hôn. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người muốn kết hôn với người nước
ngoài hoặc kết hôn có yếu tố nước ngoài được được tiến hành một cách nhanh chóng và dễ
dàng.
Pháp luật về hôn nhân và gia đình nước ta quy định việc đăng ký kết hôn do nhiều cơ quan
khác nhau tiến hành. Việc xác định thẩm quyền đăng ký kết hôn phụ thuộc vào việc kết
hôn đó là giữa công dân Việt Nam với nhau ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với
nhau ở nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước
ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam. Theo Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 158 năm
2005 Về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của
bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn”. Như vậy, khi công dân Việt Nam
kết hôn với nhau mà việc đăng ký kết hôn đó được tiến hành tại Việt Nam, thì thẩm quyền
đăng ký kết hôn đó thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của hai bên nam hoặc nữ.
Thẩm quyền đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở Việt Nam cũng
được quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000: “Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký
kết hôn”. Theo đó nơi cư trú được xác định theo Luật cư trú. Khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú
năm 2006 quy định: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường
xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú”. Theo quy
định, Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú
của một trong hai bên sẽ thực hiện việc đăng ký kết hôn cho họ. Nơi thường trú và nơi tạm
trú của cá nhân được xác định theo Luật Cư trú năm 2006. Theo Luật Cư trú quy định:
“Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại
một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú” còn “Nơi tạm trú là nơi công dân sinh
sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú”. Trong trường hợp không xác
định được nơi cư trú của công dân theo quy định trên thì nơi cư trú của công dân là nơi
người đó đang sinh sống. Việc xác định nơi cư trú của cá nhân cũng được quy định tại
Điều 52 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005. Theo Điều 52 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm
2005 quy định: “Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống, nếu
không xác định được nơi các nhân thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của cá nhân là
nơi người đó đang sinh sống”. Tuy nhiên, việc xác định nơi cư trú của cá nhân là của
người đang làm nghĩa vụ quân sự hoặc đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân
là nơi đơn vị của người đó đóng quân. Đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang