i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trần Thế Phương
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời trân
trọng cảm ơn đến cô giáo TS. Nguyễn Thị Yến - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn, các Thầy Cô phòng Đào tạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực
tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn các các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin trân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể
gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài.
Thái Nguyên, ngày
tháng
2017 Tác giả luận văn
tại một số địa phương......................................................................................... 25
1.4.3. Bài học kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh........................................................................................ 28
1.5. Một số nghiên cứu liên quan về thu nhập của nông hộ tại Việt Nam................29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. .31
4
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................... 31
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................ 31
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu................................................................................... 31
2.2. Nội dung nghiên cứu......................................................................................... 31
2.3. Phương pháp tiếp cận....................................................................................... 31
2.4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 32
2.4.1. Chọn điểm và mẫu nghiên cứu.................................................................. 32
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu.................................................................... 33
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 34
2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu............................................................................ 35
Chương 3 THỰC TRẠNG THU NHẬP HỘ NÔNG DÂN NGHÈO
HUYỆN GIA
BÌNH, TỈNH BẮC NINH
..................37
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh......................37
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của huyện Gia Bình...................................... 37
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Gia Bình........................................... 39
3.6.2 Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ khuyến nông cơ sở và ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất........................................................................... 91
3.6.3 Đổi mới nhận thức và nâng cao trình độ cho lao động tại các hộ nghèo . 88
3.6.4 Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu trong nông thôn........92
3.6.5. Giải pháp về đất đai đối với các hộ nông dân nghèo................................90
3.6.6 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và thúc đẩy phát triển ngành nghề
phi nông nghiệp.................................................................................................... 86
3.6.7 Tạo điều kiện cho các hộ nông dân nghèo tiếp cận với sản xuất hàng hóa.....88
3.6.8 Giải pháp về quy mô hộ.............................................................................. 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ........................................................................................ 95
1. Kết luận.............................................................................................................. 95
2. Khuyến nghị.......................................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................... 96
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
CP
CSXH
DT
GHH
GCĐ
GQVL
GTCCSX
GTSL
HĐBT
HĐND
HTX
KCN
KT-XH
NĐ
NN - BBDV
NN&PTNT
NQ
NS
NTM
NTTS
SL
SXKD
TTCN
UBND
VHXH
XDCB
XĐGN
XKLĐ
Nghĩa đầy đủ
Văn hoá – Xã hội
Xây dựng cơ bản
Xóa đói giảm nghèo
Xuất khẩu lao động
vii
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, 30 năm qua nông nghiệp và nông thôn
liên tục giành được những thành tựu to lớn và toàn diện, tất cả các lĩnh vực sản
xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản đều có bước phát
triển rất mạnh mẽ. Sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn đã góp phần quan
trọng vào thành công của công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nông
dân, làm cơ sở ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong nước, nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế, nổi bật là những thành tựu trong việc giải quyết vấn
đề an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu nông sản với một số mặt
hàng có vị thế cao trên thế giới. Trong những thành tựu to lớn về nông nghiệp,
nông thôn có sự đóng góp không nhỏ của các hộ nông dân. Mặc dù được hỗ trợ
nhiều trong sản xuất nông nghiệp nhưng thu nhập và đời sống của nhiều hộ nông
dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nông dân nghèo vẫn còn lớn. Trong giai
đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng vấn đề “nông nghiệp,
nông dân, nông thôn”, coi đó là vấn đề không thể tách rời trong chiến lược phát triển
của đất nước. Do đó vấn đề nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ nông dân, đặc
biệt là hộ nông dân nghèo là hết sức cần thiết.
Gia Bình là huyện thuần nông nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh. So với
các huyện khác thì Gia Bình là huyện có điều kiện và mức độ phát triển thấp nhất
Bình, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh
Bắc Ninh.
- Xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ nông dân
nghèo huyện Gia Bình.
- Nghiên cứu các quan điểm, định hướng kết hợp với thực trạng từ đó đề
xuất các giải pháp, gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân
nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh.
3. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài có ý nghĩa cả trong lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận thực tiễn về
hộ nông dân, thu nhập và tình trạng nghèo của hộ nông dân.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu quan trọng góp
phần gợi ý chính sách cho huyện Gia Bình nói riêng, tỉnh Bắc Ninh nói chung trong
việc nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo, đặc biệt là hộ nông dân nghèo trên
địa bàn. Ngoài ra đề tài cũng là một tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm liên quan về hộ nông dân
1.1.1. Khái niệm về hộ
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi
thời kỳ khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau son vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các
thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi
sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”. Qua nghiên cứu cho thấy, có
nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
nước,...
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là
một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ
gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng
nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau...)
1.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Theo tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức
lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống hệ thống kinh tế lớn
hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu
hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. [43]
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Đào Thế Tuấn (2000) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt
động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”. [35]
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn
năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động
thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn
nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và
thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”. [14]
Những nghiên cứu trên cho thấy:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính
là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt
động
nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, dịch vụ, buôn bán…) ở các mức độ khác nhau.
trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình.
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động - tiêu dùng
giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao động. Giá trị sản
lượng chung của hộ gia đình trừ đi chi phí sẽ là giá trị sản lượng thuần mà gia đình sử
dụng cho tiêu dùng, đầu tư tái sản xuất và tích luỹ. Người nông dần không tính giá trị
tiền công lao động đã sử dụng, mà chỉ lấy mục tiêu là có thu nhập thuần cao. Bởi vậy,
muốn có thu nhập cao hơn thì các hộ nông dân phải tăng thời gian lao động của
gia đình. Số lượng lao động bỏ ra gọi là trình độ tự bóc lột của lao động gia đình. Mỗi
một hộ nông dân cố gắng đạt được một thu nhập thoả mãn nhu cầu thiết yếu bằng
cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia đình với mức độ
nặng nhọc của lao động. Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo quy luật sinh
học do tỷ lệ giữa Người tiêu dùng và Người lao động quyết định. Một hộ nông dân
sau khi một cặp vợ chồng cưới nhau và ra ở riêng, đẻ con thì Người tiêu dùng tăng
lên, gia đình gặp khó khăn, nhưng dần dần con cái lớn lên số lao động tăng thêm,
gia đình trở nên khá hơn. Đến lúc con lớn lên thành lập hộ mới thì chu kỳ bắt đầu
lại từ đầu. Sự cân bằng này phụ thuộc rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội mà
tác giả đã nghiên cứu rất kỹ. Chính nhờ quy luật này mà các doanh nghiệp gia đình có
sức cạnh tranh mạnh hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa vì trong điều kiện mà nông
trại lớn phá sản thì hộ nông dân làm việc nhiều giờ hơn, chịu bán sản phẩm rẻ hơn,
không tính đến lãi, hạn chế tiêu dùng để qua được các thời kỳ khó khăn.
1.1.4. Khái niệm kinh tế nông hộ
Ellis (1988) cho rằng kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác
trong nền kinh tế thị trường ở 3 yếu tố: đất đai, lao động và vốn: Kinh tế nông hộ
là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế xã hội. Các nguồn lực đất đai,
tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, chung một ngân sách, ở chung một
mái nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do
chủ hộ đưa ra.[43]
* Động thái kinh tế hộ nông dân:
Nền kinh tế nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ
nữa, do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một lợi ích.
Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân
số của gia đình (Tỷ lệ giữa tay làm và miệng ăn).
Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:
Khả năng mở rộng diện tích (có thể bằng tăng vụ) có hay không:
- Có thị trường lao động không, vì Người nông dân có thể bán sức lao động để
tăng thu nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao.
- Có thị trường vật tư không vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm
một ít vật tư (nếu có tiền để mua và có lãi).
- Có thị trường sản phẩm không vì Người nông dân phải bán đi một ít sản
phẩm để mua các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác.
Trong các điều kiện này người nông dân có phản ứng một ít với thị trường,
nhất là thị trường lao động và thị trường vật tư.
Tiến lên một bước nữa, hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy
vậy mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp. Đây là kiểu hộ nông dân “nửa tự cấp” có tiếp xúc
với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư. Hộ nông dân
thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụ
thuộc vào thị trường. Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách
sản xuất của hộ. Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng với giá cả, với
thị trường chưa nhiều. Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị trường chưa
hoàn chỉnh, đó đây vẫn có những giới hạn nhất định.
Cuối cùng đến kiểu hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người nông dân
với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia đình. Kiểu
nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật tư,
lao động và thị trường sản phẩm. Tuy vậy, giả thiết rằng
Người nông dân là người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh
trong nhiều công trình nghiên cứu. Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu
trình độ kỹ thuật và quản lý, do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn
6.1.1
đồng/người/năm) trở xuống.
Tuy nhiên, chuẩn nghèo này của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới.
Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận
chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng
năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo
Chính vì vậy, ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐTTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo
từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai
đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn
nghèo
về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí
đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở:
(1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu
nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập. Cụ
thể: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000
đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
(2) Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, gồm:
- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ
sinh; thông tin;
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp
cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học
của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước
sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ
tiếp cận thông tin.
phân bón, thuốc sâu, làm đất, thủy nông nội đồng … nên cũng gắn với rủi ro cao, và
như vậy chỉ các hộ giàu ở vùng nông thôn mới có khả năng thực hiện và hưởng lợi
ích lớn từ việc đi tiên phong đầu tư các kỹ thuật mới. Sau đó, với sự hỗ trợ của Nhà
nước thông qua tài trợ giá đối với các yếu tố sản xuất đầu vào và ưu đãi về tín dụng
thì nông dân nghèo mới có điều kiện áp dụng rộng rãi những kỹ thuật đó. Tuy nhiên,
khi đại bộ phận nông dân có thể áp dụng được mô hình này, sản lượng sẽ tăng nhanh
và giá sẽ rớt xuống làm giảm hiệu quả đầu tư của nông dân. Nếu quá trình này tiếp
tục, họ sẽ bị rơi vào gánh nặng nợ nần, từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số tăng,
làm tăng thất nghiệp và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng.
Trong bối cảnh như vậy, những người nông dân sẽ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng hàng hóa tự nhiên của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai
thác nguồn lực tự nhiên (hàng hóa công) như săn bắn, phá rừng để tăng thu nhập.
Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục bị suy thoái, thu nhập người dân giảm, và lại
rơi vào vòng lẩn quẩn của nghèo đói.
Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo sinh kế bền vững
trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể nào là hệ thống nông
nghiệp bền vững được. Hay nói cách khác, mô hình nông nghiệp bền vững là mô hình
sử dụng các
phương thức sản xuất tiến bộ như ng không làm suy thoái môi trường, mất cân bằng
tự nhiên và vẫn đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho nông dân.
Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đo lường bằng các chỉ
tiêu: tỷ lệ hộ nghèo đói, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở nông thôn.
b. Nông nghiệp với phát triển kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của
nền kinh tế quốc dân. Hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế,
xã hội mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp nếu xét theo đối tượng
sản xuất của nó sẽ bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản.
Vẫn còn một bộ phận lớn dân cư sống ở vùng nông thôn với thu nhập chủ
c. Lý thuyết về thay đổi và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp:
Theo Nicolas Kaldor (1957), nguồn gốc tăng trưởng kinh tế không chỉ duy nhất
phụ thuộc vào gia tăng vốn sản xuất mà còn tùy thuộc vào sự phát triển tiến bộ
kỹ thuật tức trình độ công nghệ.
Khác với Kaldor, năm 1976, trong nghiên cứu thực nghiệm, Sung Sang Park
cho rằng nguồn gốc của sự tăng trưởng phụ thuộc vào kỹ năng của lực lượng lao
động. Kỹ năng này được tích lũy qua quá trình phát triển của con người. Vì vậy, theo
Park, vốn đầu tư của quốc gia cần được phân bổ cho đầu tư phát triển con người
(văn hóa kiến thức, kỹ năng, đời sống vật chất - tinh thần).
Ngoài yếu tố kỹ thuật và con người, Hayami và Ruttan (1971) phát biểu rằng,
nông nghiệp do sự phát triển theo thời gian, một vài nguồn lực trở nên khan hiếm
và chi phí của chúng nâng cao tương đối so với một số nguồn lực khác. Đối với
những nước có nguồn lao động dồi dào nhưng khan hiếm về đất nông nghiệp, con
đường phát triển nông nghiệp là tìm kiếm những công nghệ nhằm tăng năng suất
trên một đơn vị diện tích (sử dụng công nghệ sinh học, phân bón, giống, nước).
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp sẽ mang lại sự gia
tăng năng suất cho cây trồng và các cán bộ khuyến nông là những người giúp bà con
nông dân có được những kiến thức đó.
1.2.3. Nguyên nhân của nghèo đói
Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo và
cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là
nguyên nhân còn đâu là kết quả. Tuy nhiên nhìn chung, nghèo ở Việt Nam cũng có
những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc
từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch
sử.
Theo báo cáo của diễn đàn miền núi Ford (2004), các yếu tố có thể tác động
mạnh đến tình trạng đói nghèo tại các địa phương miền núi, vùng biên giới bao
gồm: sống ở khu vực nông thôn, người dân tộc, quy mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ