Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả - Pdf 48

MỤC LỤC
NỘI DUNG

STT

TRANG

I

Mở đầu

3

1

Lý do chọn sáng kiến

3

2

Điểm mới trong sáng kiến

4

II

Nội dung sáng kiến

6


Kiến nghị, đề xuất

14

III

1


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Tổng số học sinh

TSHS

Cuối học kì I

CHKI

Cuối học kì II

CHKII

Tỉ lệ

TL

Số lượng

SL


thế nào thì viết như thế ấy, đọc đúng thì mới viết đúng, đọc ngọng thì viết ngọng.
Bản thân tôi luôn chú trọng rèn luyện cho học sinh luyện đọc đúng, luyện phát âm
chuẩn xác để các em viết đúng chính tả. Cách làm này tốn rất nhiều thời gian, công
sức nhưng hiệu quả đạt được vẫn không như mong muốn. Mặt khác nó còn làm
cho giờ học nặng nề, học sinh căng thẳng và mệt mỏi. Tôi thừa nhận rằng cách
phát âm theo địa phương là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh viết sai lỗi
chính tả. Nhưng chúng ta không thể rèn cho học sinh địa phương đọc đúng chính
âm được. Sau nhiều năm dạy học sinh Tiểu học ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều
kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, gần gũi với học sinh với
người dân, tôi đã có nhiều hiểu biết về văn hóa, về ngôn ngữ và thói quen của
người dân nơi đây. Vì vậy, tôi hiểu rằng dạy chính tả cho học sinh tiểu học ở địa
phương có hai dân tộc mà dựa vào cách phát âm chuẩn xác để viết đúng chính tả là
điều không thể. Bởi vì học sinh ở đây được sinh ra và lớn lên trong bầu không khí
của phương ngữ địa phương là người dân tộc, giọng nói, cách phát âm của các em
đã trở thành thói quen. Mặt khác, mỗi một vùng miền của Tổ quốc đều có một
chuẩn phát âm riêng biệt tồn tại hàng bao thế kỉ và đã trở thành đặc trưng ngôn ngữ
của vùng miền ấy. Cách phát âm theo phương ngữ cụ thể không được xem là lỗi
3


phát âm. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Tiểu học là phải giúp
các em hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, làm sao để các em có
thể phát âm theo phương ngữ nhưng vẫn viết đúng chính tả. Với cách làm này,
chúng ta mới có thể vừa giúp học sinh học tập tốt phân môn chính tả vừa giúp các
em bảo tồn được tiếng nói của địa phương vốn đã được gìn giữ và coi trọng từ bao
đời nay.
Là một giáo viên dạy lớp 4 nhiều năm liền, tôi luôn chú trọng và quan tâm
rèn cho học sinh viết đúng chính tả. Thấy các em viết sai lỗi chính tả nhiều, tôi rất
buồn lòng. Đặc biệt là khi chấm bài tập làm văn của các em thì thật là khổ sở. Các
em viết thì không dài nhưng để đọc và sửa lỗi cho các em thì thật là vất vả. Chất



Các nguyên tắc viết chữ không tách rời các nguyên tắc dạy học Tiếng Việt.
Rèn chữ viết là phân môn có tính chất công cụ, tính chất thực hành làm cơ sở cho
việc dạy học các phân môn học khác của Tiếng Việt. Cùng với phân môn Tập viết,
Chính tả cung cấp kiến thức và hoàn thiện kĩ năng tạo ra hình thức vật chất biểu
hiện ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Mục đích của dạy chính tả là rèn luyện
khả năng “đọc thông, viết thạo”, chủ yếu là viết đúng chuẩn mực và dạng thức viết
của ngôn ngữ.
Giáo viên quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân
và của tập thể học sinh để xây dựng bài học. Với mong muốn giúp học sinh phát
huy tính tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện một số kĩ năng cơ
bản như : Nghe, nói, đọc, viết; Kĩ năng hợp tác; kĩ năng học nhóm; kĩ năng giao
tiếp ngay từ bậc Tiểu học. Từ đó giúp các em có hứng thú, tự tin hơn và góp phần
cùng nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng viết trong phân môn
Chính tả cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Ngọc Chiến A đồng thời bồi
dưỡng cho học sinh yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, gia đình, nhà trường
và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
3. Giới hạn của sáng kiến.
3.1. Về đối tượng nghiên cứu.
Học sinh khối lớp 4 trường Tiểu học Ngọc Chiến A, huyện Mường La, tỉnh
Sơn La. Năm học 2016-2017, vì lý do nêu trên, tôi quyết định đưa học sinh của tôi
trực tiếp vào thực nghiệm việc rèn kỹ năng viết đúng chính tả để nhằm giảm thiểu
việc mắc lỗi khi viết chính tả của các em.
3.2. Về không gian.
Đề tài được nghiên cứu và áp dụng tại lớp 4B Trung tâm, trường Tiểu học
Ngọc Chiến A, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
3.3. Về thời gian.
Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9 năm 2016 đến hết tháng 5 năm 2017

Mặt khác một số em do thiếu cẩn thận nên để thừa hoặc thiếu một số nét,
thiếu dấu dẫn đến sai lỗi chính tả (chủ yếu thiếu dấu thanh do học sinh dân tộc phát
âm không chuẩn đặc biệt là dân tộc Thái)
c. Lỗi chính tả của học sinh.
Qua kiểm tra chính tả ở lớp 4B của tôi, sau khi khảo sát bài chính tả tôi
thống kê được học sinh mắc phải lỗi như sau :
Khảo sát chất lượng HS đầu năm tháng 9
TSHS
Đầu năm
30

Viết đúng chính
tả, chữ đẹp
TS
TL(%)
6

Về lỗi âm đầu:
6

20,0

Viết đúng chính tả
TS

TL(%)

10

33,33

Ví dụ: giải phóng/dải phóng; rì rào/dì dào có lúc viết thành rì rào/gì giào
xúc động /súc động
truyền thống/chuyền thống
Theo thống kê số âm tiết sai về vần cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Nguyên nhân
của hiện tượng này là do HS chưa nắm vững cấu tạo nên còn viết lẫn lộn
Ở một số cặp vần khó phân biệt hay do phát âm sai ( không chuẩn ) dẫn đến
viết sai:
Ví dụ: ươu / ưu; con hươu / con hưu/con hiu
ưu / iu: nghỉ hưu / nghỉ hiu
ươi / ui: quả chuối / quả chúi/quả chối
Với các cặp vần có âm ă, â học sinh thường hay nhầm lẫn như sau:
Ví dụ: bà cháu / bà chấu
gặp gỡ / gập gỡ/gặp gớ
thứ sáu / thứ sấu
Vậy nguyên nhân chính dẫn đến mắc lỗi chính tả của học sinh là:
7


Thứ nhất, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương
Thứ hai, do chưa hiểu biết đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ
nghĩa của các từ.
II. Nội dung sáng kiến.
1. Bản chất của giải pháp mới.
*Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4:
Muốn học sinh viết đúng chính tả giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho
bản thân mình để từ đó luyện cho học sinh phát âm đúng và chính xác như với
những tiếng có thanh ngã thì ta phải đọc nặng giọng và hơi ngân dài hơn so với
những tiếng có thanh sắc. Những tiếng có âm cờ thì ta phải đọc nặng giọng hơn so
với những tiếng có chứa âm tờ. hoặc những tiếng có chứa âm cuối là âm ngờ thì
khi đọc ta phải ngân dài hơn so với những tiếng có chứa âm cuối là âm nờ …

Danh từ riêng phải viết như thế nào?( Viết hoa ) .
Tùy từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng
cho đúng với quy tắc.
Sau dấu câu phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu câu).
Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào? (Viết thụt vào một ô li chữ
đầu bài và sau khi hết một đoạn so với lề vở).
Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào? Bài thơ có 4,5 tiếng thì các
chữ đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau. (các chữ
đầu dòng thơ phải viết thẳng hàng ) .
Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô
li so với lề vở. Dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế cho đến
hết bài thơ. Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa.
Thông qua phân môn Tập đọc và các môn học khác…..Hoặc giờ ra chơi
hằng ngày tôi gọi một vài em hay mắc lỗi để tìm hiểu nguyên nhân mà các em sai
về từ, chữ, âm, vần thường mắc phải. Cùng trò chuyện trao đổi giúp các em đọc
đúng luyện thanh từ đó sẽ nhớ lâu hơn. Rồi dần dần đọc đúng, đến viết đúng.
Ví dụ: Các em đọc sai l/n
“Lính leo lên lầu
Lính lấy lưỡi lê
Lính lấy lộn lưỡi liềm”
Nếu học sinh đọc âm l thành âm n thì dẫn đến tình trạng viết sai chính tả rất
nhiều.Vì các em đọc sao viết vậy. Do vậy giáo viên cần phải luyện đọc cho thật
chuẩn, chính xác.
Với cách luyện đọc đúng thường xuyên dần dần các em sẽ khắc sâu hơn và
hình thành viết đúng chính tả. Như câu nói “Mưa dầm thấm đất”
1.2. Biện pháp 2: Phân tích từ khó:
Khi viết chính tả bài: “ Tà áo dài Việt Nam’’ đến phần phân tích từ khó giáo
viên phải phân tích cách hiểu nghĩa từ “Áo dài’’ để khi viết học sinh viết đúng
không lẫn lộn với từ “dày’’. Giáo viên phân tích: áo dài, luôn viết i(ngắn) nói
chung “áo dài” của người phụ nữ thường dùng để mặc vào các ngày lễ hội,...và là

bạn ( học sinh đổi vở cho nhau để bắt lỗi). Bằng cách này giáo viên chỉ có một
điểm lợi là giảm bớt thời gian trên tiết dạy. Nhưng có điểm bất lợi rất lớn là học
sinh không được tiếp xúc với bài mình vừa viết, không tự phát hiện ra những lỗi
viết sai với sự hướng dẫn sữa chửa của giáo viên. Như vậy việc tự bản thân học
sinh sửa lỗi chính tả cho mình hoặc sửa lỗi cho bạn sẽ giúp học sinh khắc sâu và
nhớ lâu hơn những lỗi chính tả mà mình mắc phải.
Bản thân giáo viên luôn luôn phát âm chuẩn ở mọi lúc, mọi nơi, trong lớp,
trong trường tạo thành một thói quen để cho học sinh có ý thức viết đúng chính tả.
Ngoài việc phát âm chuẩn tôi còn kết hợp giải nghĩa từ giúp học sinh hiểu nghĩa từ
và phân biệt nghĩa từ của các chữ cần viết.
10


Ví dụ:
Cháu (cháu nội, cháu ngoại) cháu có nghĩa là người thuộc thế hệ sau không
phải là con.
Cháo (cháo gà, cháo lòng) cháo có nghĩa là thức ăn lỏng.
Đối với học sinh thường viết sai thanh sắc, thanh ngã tôi thường hướng dẫn
các em phân biệt cách phát âm hai dấu thanh này. Ngoài ra tôi còn cho học sinh
học thuộc luật chính tả với thanh hỏi, thanh ngã là: ngang-sắc-hỏi ( có nghĩa là
tiếng không có dấu thanh hoặc có thanh sắc thì thường đi với tiếng có thanh hỏi)
huyền-ngã -nặng( có nghĩa là tiếng có thanh huyền hoặc thanh nặng thường đi
chung với tiếng có thanh ngã). Nhưng luật trên chỉ tương đối thôi chứ không tuyệt
đối.
Ví dụ:
Vất vả, chăm chỉ, sư tử, số lẻ.
Buồn bã, giã gạo, gìn giữ, giữa đường.
Hoặc để viết đúng thanh ngã tôi cho học sinh học thuộc 13 chữ thường gặp
đó là: cũng, chỗ, đã, giữ (gìn), giữa (đường), lẽ (phải), mãi mãi, mỗi, (một), nỗi
(niềm),học (nữa), những, sẽ (làm), vẫn (còn).

lớp và đặc điểm phương ngữ nơi mình dạy để giúp học sinh rèn luyện, khắc phục
sửa lỗi chính tả. Việc cung cấp các mẹo luật chính tả cho học sinh lớp 4 là cần thiết
giúp các em viết đúng chính tả.
Đối với giáo viên, cần nắm vững phương pháp giảng dạy của bộ môn để
phối hợp vận dụng vào thực tế lớp mình đang dạy nhằm góp phần nâng cao chất
lượng phân môn chính tả nói riêng và môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung
Khi bài chính tả viết đúng, trình bày đẹp cũng như các môn học khác cũng
tăng lên rõ rệt .
Đặc biệt trong các lần kiểm tra sau thì điểm khá đã tăng lên nhiều.
Khi chữ viết tiến bộ thì các em sẽ cẩn thận hơn, đua nhau chăm học hơn và
ham học nhiều hơn.
Chữ viết tiến bộ thì chất lượng đạo đức cũng tăng lên. Đây là một trong
những thành công lớn của quá trình vận dụng nghiên cứu trên.

12


III. Khả năng áp dụng của sáng kiến
1. Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của sáng kiến.
Qua thực tiễn việc rèn “Chính tả” trong phân môn Chính tả ở tiểu học nói
chung, ở lớp tôi phụ trách năm học 2016 - 2017 nói riêng. Tôi rút ra một số bài học
sau:
Để dạy tốt phân môn chính tả, rèn chữ viết cho học sinh giáo viên cần phải
nắm vững chương trình của lớp mình dạy.
Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp về phương pháp
dạy môn chính tả nhằm giúp học sinh nhận thức được viết đúng, viết đẹp là rất
quan trọng. Ông bà xưa thường nói: “Nét chữ nết người”.
Tìm hiểu đặc điểm tính cách của từng em.
Rèn cho học sinh ngồi đúng tư thế.
Rèn cho học sinh có ý thức chuẩn bị bài ở nhà.

gian kèm cặp, một số em HS yếu cũng đã có sự tiến bộ rõ rệt về chữ viết như em :
Lèo Văn Hà, Lò Thị Hiện, Lò Thị Nguyệt,...ý thức rèn chữ, giữ vở sạch chữ đẹp
của các em cũng được nâng cao hơn so với đầu năm. Đó là những dấu hiệu đáng
mừng, song nhìn chung các em viết vẫn chưa được đẹp, trong khi viết bài vẫn còn
sự cẩu thả đặc biệt là khi không có GV chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy, nhắc nhở.
Kết quả cụ thể: Lớp 4B - Bản Mường Chiến qua các bài kiểm tra học kì I và
học Kì II nư sau:
Khảo sát chất lượng học kì I và kì II
(Thời gian tháng 1 + 5)
Học Kì

TSHS

Viết đúng chính
tả, chữ đẹp

Viết đúng chính
tả

Viết sai lỗi
chính tả

TS

TL(%)

TS

TL(%)


40,0

1

3,33

Ghi chú

Kết quả thực nghiệm trên cho thấy học sinh đã có nhiều sự tiến bộ trong rèn
luyện chữ viết và thấy được sự cần thiết của việc viết đúng chính tả. Các em đã bắt
đầu ganh đua nhau để phấn đấu đạt điểm tốt trong giờ chính tả và cả các giờ học
khác.
Tôi sẽ tiếp tục áp dụng những biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh
đã nêu ở trên trong năm học với mong muốn các em sẽ hạn chế sai những lỗi chính
tả cơ bản thường hay mắc phải. Ngoài việc áp dụng những biện pháp, giải pháp mà
mỗi GV đưa ra để khắc phục lỗi chính tả cho HS bản thân tôi thiết nghĩ điều quan
trọng nhất vẫn là yếu tố “Thầy” và “trò”. Thầy phải tâm huyết, thực sự đầu tư thời
gian và công sức trong việc rèn giũa chính tả cho các em; còn trò các em cũng phải
thật sự kiên trì, quyết tâm khắc phục các lỗi chính tả.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng sáng
kiến.
- Dạy Chính tả là một hoạt động trí tuệ khó khăn và phức tạp. Vì vậy, điều
không thể thiếu trong quá trình dạy Chính tả là phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm
14


nguyên nhân gây lỗi, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết. Các
biện pháp cần khắc phục đó là: luyện phát âm; phân tích; giải nghĩa từ; ghi nhớ
mẹo luật chính tả; làm các bài tập chính tả. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện

3. Những kiến nghị, đề xuất điều kiện để triển khai, ứng dụng sáng kiến
vào thực tiễn:
Các cấp quản lí chuyên môn tạo mọi điều kiện, khuyến khích giáo viên
chủ động trong việc khai thác nội dung, sáng tạo và xây dựng các kiểu bài tập
phù hợp để giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả cho học sinh.
Cung cấp các tài liệu về nghiên cứu Tiếng Việt, từ điển Tiếng Việt.
Tổ chức các chuyên đề về giảng dạy phân môn Chính tả.
Cung cấp kịp thời các phương tiện dạy học phục vụ cho môn học.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện do những yếu tố khách quan và khả
năng lí luận có hạn, thời gian lại eo hẹp. Bởi vậy đề tài không tránh khỏi những
15


thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Ngọc Chiến, ngày 18 tháng 5 năm 2017
Xác nhận của cơ quan đơn vị
áp dụng sáng kiến
(Ký tên và đóng dấu)

Người viết sáng kiến

Quàng Văn Hoan

Xác nhận của hội đồng thẩm định
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

3

Thông tư 22/2016- BGDDT

4

Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 4 NXBGD

5

Sách Tiếng Việt lớp 4 tập 1 NXBGD

6

Sách Tiếng Việt lớp 4 tập 2 NXBGD

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status