LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy
cô giáo của Học viện Quản lý giáo dục đã trực tiếp giảng dạy, cho tôi có được
nền tảng kiến thức về quản lý giáo dục, làm cơ sở để thực hiện tốt luận văn
này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn
Ngọc Anh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của đội ngũ cán bộ quản
lý, giáo viên, học sinh, cán bộ văn phòng Trung tâm Giáo dục thường xuyên
Hai Bà Trưng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập
thông tin và dữ liệu trong luận văn.
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên luận
văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo
và các bạn bè đồng nghiệp.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Ngọc Minh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Ngọc Minh
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Mô hình tiếp nhận và đào tạo học sinh của trung tâm GDTX.......Error:
Reference source not found
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh, cộng
đồng xã hội về tầm quan trọng của giáo dục KNS cho học sinh. .Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.2. Thực trạng vi phạm đạo đức, nề nếp học sinh..........Error: Reference
source not found
Biều đồ 3.1. Mức độ cần thiết của 8 biện pháp được đề xuất.......Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.2. Mức độ khả thi của 8 biện pháp được đề xuất..........Error: Reference
source not found
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu hướng giáo dục của thế kỉ XXI hướng đến năng lực cá nhân trong
môi trường lành mạnh, theo đó mô hình nhân cách sẽ thay đổi hướng đến:
Năng lực tư duy độc lập, trình độ công nghệ thông tin, có một sức khỏe tốt,
kỹ năng hợp tác, luôn đổi mới và sống có trách nhiệm. Giáo dục phổ thông là
yếu tố cơ bản cho việc phát triển con người toàn diện, đặc biệt là phát triển
năng lực trí tuệ; có ý nghĩa quyết định đối với phát triển chất lượng nguồn
nhân lực, nâng cao năng suất lao động, góp phần vào công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ: "Muốn xây dựng đất
Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do còn có
những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS:
- Sự quan tâm của lãnh đạo và giáo viên về vấn đề giáo dục KNS cho
học sinh còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức, còn rất lúng túng,
chưa có kế hoạch, chương trình quản lý và chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS
một cách cụ thể;
- Cách thức tổ chức hoạt động giáo dục KNS còn đơn điệu, nhàm
chán, những giờ học giảng giải về lý thuyết nên chưa thu hút được học sinh
tích cực tham gia. Chưa giúp học sinh nắm bắt được các KNS và hiểu được
tầm quan trọng của KNS.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Hai Bà
Trưng (Hà Nội)" với hy vọng công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS tại
các trung tâm GDTX sẽ được vận hành một cách hệ thống, có cơ sở kế hoạch
phù hợp với thực tiễn nhằm giúp nhọc sinh được tiếp nhận tri thức, được giáo
dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể
truyền tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ),
những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học
sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống
khác nhau của cuộc sống.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục KNS và quản
lý giáo dục KNS cho học sinh, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục
4
KNS cho học sinh tại các trung tâm GDTX nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy học và giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn, nhiệm vụ nghiên cứu chính bao gồm:
6.2. Giới hạn nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Trong 3 năm học 2011-2012, 2012-2013,
2013-2014.
- Giới hạn khách thể nghiên cứu:
+ 02 cán bộ quản lý (CBQL).
+ 28 giáo viên, nhân viên.
+ 210 học sinh.
+ 76 cha mẹ học sinh.
+ 15 cộng đồng xã hội.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan
về: KNS, giáo dục KNS, quản lý hoạt động giáo dục KNS.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát, điều tra, khảo sát, tổng kết kinh nghiệm, phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát: Tìm hiểu hoạt động tổ chức và quản lý giáo
dục KNS cho học sinh Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng.
- Phương pháp điều tra: Thu thập các số liệu từ đội ngũ cán bộ, giáo
viên, học sinh nhằm nhận định khách quan thực trạng hoạt động giáo dục và
quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tại Trung tâm GDTX Hai Bà
Trưng thông quan hệ thống câu hỏi điều tra.
6
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết và kế thừa những bài
học kinh nghiệm thành công. Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục KNS đã đề xuất.
- Phỏng vấn: Xin ý kiến từ CBQL, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ
Tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân
thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất lượng
được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF đã nhận
thấy mô hình "Trường học thân thiện" với các yếu tố của nó là một giải pháp
nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục. Vì vậy mô hình này đã
được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới. Trong mô hình trường
học thân thiện, tiêu chí giáo dục KNS vừa như là một biểu hiện của chất
lượng giáo dục, vừa để giúp học sinh sống an toàn. Kế hoạch hành động
Dakar về giáo dục cho tất cả mọi người ở mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh: cần
đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp và
KNS của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục. Cho nên, trong
mục tiêu 6 của chương trình đã coi KNS là một khía cạnh của chất lượng giáo
dục. Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá KNS
của người học.
Ở các nước phương Tây, KNS từ lâu đã được quan tâm. Mô hình giáo
dục của Pháp thế kỉ XXI theo đề xuất của Edgard Mong là phải giảng dạy về
hoàn cảnh con người hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động
8
như thế nào trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào và học
cách sống. Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao
kỹ năng giao lưu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm...
người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên
qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề
của đời sống thực tiễn.
Ở khu vực Đông Nam Á, việc giáo dục KNS đã được nghiên cứu và
triển khai ở nhiều nước. Ở Lào, giáo dục KNS được lồng ghép vào chương
trình đào tạo chính qui, không chính qui và các trường sư phạm đào tạo giáo
viên từ năm 1997. Tại Campuchia chương trình giáo dục chính qui đã thực
rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo
đức nhân văn, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại [20]; giúp chúng
ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam và một số
nước trong khu vực, từ đó hiểu về KNS và giáo dục KNS cụ thể hơn, hướng
dẫn cách tổ chức hoạt động giáo dục nhằm hình thành KNS cốt lõi cho học
sinh THPT [2]…
Đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS được
thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội: Ở khu vực ngoại thành với đối
tượng là học sinh tiểu học [14], học sinh THPT [21]; trong khu vực nội thành
với đối tượng là những đoàn viên tham gia sinh hoạt tại Nhà văn hóa học sinh,
sinh viên Hà Nội [7]. Nhưng đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về quản
lý giáo giáo dục KNS cho đối tượng là học sinh các trung tâm GDTX trong
nội thành Hà Nội. Vì vậy, thông qua đề tài nghiên cứu này, mong rằng luận
văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học
sinh các trung tâm GDTX trong nội thành Hà Nội.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Kỹ năng sống
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về KNS và mỗi quan niệm
được diễn đạt theo những cách khác nhau:
10
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi
thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử
hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận
giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự
cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng.
Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc
(UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
hoạt động đều được chỉ đạo, vận hành từ bộ phận đầu não nhằm đạt tới mục
tiêu chung của tổ chức.
Từ góc nhìn khác nhau, nên có nhiều quan điểm và cách lý giải về
thuật ngữ quản lý như: Quản lý là tác động có định hướng, kế hoạch của chủ
thể lên đối tượng nhằm đạt mục đích nhất định [12], quản lý là tác động có
hướng đích bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối
tượng quản lý đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu [19], quản lý chính là các hoạt
động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác
nhằm thu được kết quả mong muốn [10].
Các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, song có thể nhận
thấy quản lý gồm các yếu tố:
- Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người);
- Đối tượng bị quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người);
- Mục tiêu quản lý;
- Môi trường và điều kiện tổ chức (quản lý trong hoàn cảnh nào, công
cụ, phương pháp quản lý).
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề
ra trong điều kiện biến động của môi trường.
1.2.4. Quản lý giáo dục
Theo phương diện nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau của các nhà
nghiên cứu, khái niệm quản lý giáo dục được hiểu như sau: Quản lý giáo dục
là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật, nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng [15], là sự tác động có kế
12
hoạch của chủ thể lên đối tượng, được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục nhằm
tạo ra hiệu quả đáp ứng yêu cầu của xã hội đặt ra đối với giáo dục [22], là tác
bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện
các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các
lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và
chương trình giáo dục nhằm thay đổi nhận thức hay tạo ra hiệu quả giáo dục
cần thiết.
1.3. Giáo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
Một câu hỏi đặt ra là "tại sao phải dạy kỹ năng sống cho học sinh?".
Lứa tuổi học sinh THPT cần phải được giáo dục KNS để giúp cho các em:
Làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống
khó khăn trong cuộc sống thường ngày; rèn cách sống có trách nhiệm với bản
thân, gia đình, mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định và
lựa chọn những hành vi đúng đắn. Vì vậy, giáo dục KNS cho học sinh trước
hết và quan trọng nhất phải dựa vào đặc điểm lứa tuổi của học sinh
1.3.1. Một số đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ
thông liên quan đến giáo dục kỹ năng sống
- Đặc điểm sinh lý
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đang ở giai đoạn đã trưởng thành
về mặt thể lực nhưng sự phát triển cơ thể chưa vững chắc, các em bắt đầu thời
kì phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý. Sự phát triển của hệ thần kinh có
những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức
năng não phát triển, cấu trúc của tế bào bán cầu não có đặc điểm như trong cấu
trúc tế bào não của người lớn, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên
kết các thành phần khác nhau của vỏ não, tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp
hóa hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học
tập và rèn luyện. Nhìn chung lứa tuổi các em có sự phát triển cân đối, khỏe
và trẻ. Đa số các em có thể đạt được sự phát triển về cơ thể như người lớn.
- Đặc điểm sự phát triển trí tuệ
Ở học sinh THPT, tính chủ định trong nhận thức được phát triển, tri
giác có mục đích đã đạt tới mức cao, quan sát trở lên có mục đích, hệ thống
15
Các em có nhu cầu được sinh hoạt với các bạn cùng nhóm tuổi, cảm
thấy mình cần cho nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm, muốn
được bạn bè thừa nhận.
Đời sống tình cảm của các em rất phong phú, thể hiện rõ nhất trong
tình bạn. Một số phẩm chất tốt của tình bạn được hình thành: Sự vị tha, chân
thật, tôn trọng, sẵn sàng giúp đỡ nhau. Các em có khả năng đồng cảm, tình
bạn mang tính xúc cảm cao. Nhóm bạn mở rộng có cả nam và nữ, ở một số
em đã xuất hiện sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu cầu chân
chính về tình yêu với tình cảm sâu sắc.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT rất phức tạp, là giai đoạn
chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn, là lứa tuổi đầu thanh niên với những nét
tâm lý đặc thù khác với lứa tuổi thiếu niên, các em đã đạt tới sự trưởng thành
về mặt thể lực và nhân cách. Việc quan tâm đến những biến đổi tâm sinh lý
của học sinh THPT, nắm bắt kịp thời những biểu hiện tâm lý lệch lạc, phát
huy những yếu tố tích cực của nhân cách, tình cảm là một nhiệm vụ rất quan
trọng trong nhà trường. Muốn vậy các thầy cô phải là những người hướng
dẫn, động viên, lắng nghe khi học sinh cần chia sẻ. Trong xu thế hội nhập,
nhà trường không chỉ quan tâm quản lý học sinh về phương diện học tập, mà
cần có cách thức quản lý hoạt động giáo dục KNS một cách khoa học nhằm
giúp học sinh phát triển nhân cách toàn diện nhất.
1.3.2. Mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh trung học phổ thông
1.3.2.1. Mục đích của giáo dục kỹ năng sống
Mục đích của giáo dục KNS cho học sinh THPT là làm thay đổi hành
vi của học sinh với thói quen sống thụ động, có thể gây rủi ro mang lại hậu
quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có
hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân và góp phần phát
triển bền vững cho xã hội. Giáo dục KNS đối với học sinh THPT nhằm:
thân, trong cuộc sống. Theo các tổ chức giáo dục về giá trị sống quốc tế và
Việt Nam thì có 12 giá trị sống có tính chất phổ quát trên toàn thế giới: Hòa
17
bình, hợp tác, tôn trọng, yêu thương, hạnh phúc, trung thực, giản dị, tự do,
đoàn kết, trách nhiệm, khiêm tốn, khoan dung.
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kỹ năng xác định giá trị
là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kỹ năng
xác định giá trị có ảnh hưởng lớn tới quá trình ra quyết định của mỗi người.
Giá trị không phải là bất biến mà thay đổi theo thời gian, theo giai đoạn
trưởng thành của con người. Giá trị phụ thuộc vào nền văn hóa, vào giáo dục,
vào môi trường sống, học tập và làm việc của mỗi cá nhân con người.
* Kỹ năng giao tiếp ứng xử
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân mình
theo hình thức nói, viết hoặc các hành động khác một cách phù hợp với hoàn
cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng các ý kiến của người
khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy
nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời biết tìm sự giúp
đỡ, tư vấn khi cần thiết.
Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp
và điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ và
cảm xúc nhưng không gây hại hay gây tổn thương cho người khác. Kỹ năng
này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác.
* Kỹ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một
cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức
mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý
tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.
19
* Kỹ năng ra quyết định
Trong cuộc sống mỗi người đều có những thời điểm phải đưa ra các
quyết định, có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh
hưởng nghiêm trọng tới định hướng cuộc sống nhưng cũng có những quyết
định quan trọng liên quan đến các mối quan hệ, tương lai, cuộc đời... Do vậy,
các em cần nắm bắt được quy trình, lựa chọn các giải pháp để đưa ra những
quyết định phù hợp. Giáo dục kỹ năng ra quyết định là hoạt động hướng dẫn,
chỉ đạo của giáo viên tác động lên học sinh nhằm giúp học sinh lựa chọn hay
tự đưa ra hàng loạt những quyết định của bản thân khi đứng trước những yêu
cầu nhiệm vụ đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống thường ngày.
1.3.2.3. Phương pháp giáo dục kỹ năng sống Hình thức giáo dục kỹ
năng sống
Các phương pháp giáo dục KNS là cách thức thực hiện nhằm phát
triển kỹ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo. Chúng vừa là nội dung của
KNS vừa là phương tiện để hình thành các KNS khác. Ở bậc học phổ thông,
con đường giáo dục KNS được thực hiện chủ yếu thông qua quá trình dạy
học. Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT được thể hiện qua hai
con đường:
Thứ nhất: Thông qua hoạt động tích hợp vào các môn văn hóa trong
nhà trường
Một giờ học trên lớp thông thường chỉ có 45 phút, do đó để tích hợp
được nội dung giáo dục KNS vào bài giảng, đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt
khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền
tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng,
thông qua đó học sinh nhận thức được giá trị của cuộc sống, giá trị của bản
thân, biết lắng nghe, chia sẻ với người khác, hình thành kỹ năng giao tiếp
ứng xử, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thích ứng