ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
HOÀNG THỊ HÀ
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
HOÀNG THỊ HÀ
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Văn Thịnh
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội - 2017
Học viên
Hoàng Thị Hà
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH: Ban Chấp hành
BTV: Ban Thường vụ
CLB: Câu lạc bộ
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐVTN: Đoàn viên thanh niên
LHTN: Liên hiệp thanh niên
TNCS: Thanh niên cộng sản
TW: Trung ương
UBKT: Uỷ ban kiểm tra
UBND: Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
39. Lê Thị Hà (2013), Đảng bộ Thanh Hoá tăng cường lãnh đạo Đoàn thanh niên
trong thời kỳ mới, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội..........................................................106
46. Nguyễn Thị Khánh Ly (2008), Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo công tác Đoàn và
phong trào thanh niên từ năm 2001 đến năm 2007, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử , Trường Đại
học KHXH&NV, Hà Nội....................................................................................................107
54. Tỉnh đoàn Thanh Hóa (2005), Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào
thanh niên năm 2005, phương hướng nhiệm vụ năm 2006, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh
Hóa.....................................................................................................................................107
55. Tỉnh đoàn Thanh Hóa (2006), Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào
thanh niên năm 2006, phương hướng nhiệm vụ năm 2007, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh
thanh niên năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh
Hóa.....................................................................................................................................109
65. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2005), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2005, phương
hướng nhiệm vụ năm 2006, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................109
66. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2006), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2006, phương
hướng nhiệm vụ năm 2007, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................109
67. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2007), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2007, phương
hướng nhiệm vụ năm 2008, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................109
68. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2008), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2008, phương
hướng nhiệm vụ năm 2009, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................109
2
69. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2009), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2009, phương
hướng nhiệm vụ năm 2006, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................109
70. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2010), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2010, phương
hướng nhiệm vụ năm 2011, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................109
71. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2012), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2012, phương
hướng nhiệm vụ năm 2013, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................110
72. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2011), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2011, phương
hướng nhiệm vụ năm 2012, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................110
73. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2014), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2014, phương
hướng nhiệm vụ năm 2015, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................110
74. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2013), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2013, phương
hướng nhiệm vụ năm 2014, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................110
75. Tỉnh ủy Thanh Hóa (2015), Báo cáo kiểm điểm công tác năm 2015, phương
hướng nhiệm vụ năm 2016, Phòng lưu trữ Tỉnh ủy Thanh Hoá........................................110
79. Tỉnh ủy Thanh Hoá (2008), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số
25- tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công
100. Chu Xuân Việt (2003), Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược phát triển
thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội................................................................................113
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan
tâm đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Bác Hồ đã khẳng định: "Thanh niên là bộ phận
quan trọng của dân tộc, nước nhà thịnh hay suy; yếu hay mạnh phần lớn là do
thanh niên". "Họ là bộ phận năng động nhất của dân tộc, họ chỉ có thể phát
huy được sức mạnh khi họ đã được tổ chức, hướng dẫn hoạt động đúng".
Đảng ta đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên: “Thanh niên là rường cột của
nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ĐVTN cả nước đã tích cực tham gia cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong mọi thời
kỳ cách mạng, tuổi trẻ cả nước đều thể hiện tinh thần “đâu cần thanh niên có,
đâu khó có thanh niên”. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức có vai trò trực
tiếp đoàn kết, tập hợp thanh niên và hiện thực hóa chủ trương của Đảng về
công tác thanh niên. Thông qua công tác Đoàn, phong trào thanh niên, tổ chức
Đoàn ngày càng củng cố và phát triển. Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên
được mở rộng; chất lượng chính trị của đoàn viên từng bước được nâng lên;
đội ngũ cán bộ Đoàn đông đảo, trẻ trung, có trình độ chuyên môn đã và đang
trở thành nguồn cán bộ kế cận tin cậy của Đảng, chính quyền và đoàn thể ở
các cấp. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã nhận được nhiều danh hiệu, giải
thưởng của Đảng và Nhà nước trao tặng: Huân chương Sao Vàng, Huân
chương Hồ Chí Minh, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cùng
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
6
Chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều luôn
khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác
thanh niên, xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn thanh niên vững mạnh; chằng
hạn như trong các cuốn C.Mac- Ăngghen- Lênin (1982), Bàn về thanh niên,
NXB Thanh niên, Hà Nội; Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, V.I Lênin tuyển
tập, quyển 2 (1959), NXB Sự thật, Hà Nội; Hồ Chí Minh gửi thanh niên Việt
Nam (1950), NXB Sự thật, Hà Nội; các văn kiện, chỉ thị của Đảng về công tác
thanh niên…đều khẳng định rõ quan điểm trên. Nghiên cứu về công tác Đoàn
và phong trào thanh niên trên cả nước nói chung và trên phạm vi tỉnh Thanh
Hóa nói riêng cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan.
- Nghiên cứu về thanh niên và Đảng lãnh đạo công tác Đoàn, phong
trào thanh niên
Lê Xuân Đồng (1961), “Một vài vấn đề về phương pháp công tác của
Đoàn thanh niên”, NXB Thanh niên, Hà Nội; Đặng Quốc Bảo (1997), “Tuổi
trẻ cống hiến và trưởng thành”, NXB Thanh niên, Hà Nội; Dương Tự Đam
(2000), Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng,
xây dựng Đoàn, NXB Thanh niên, Hà Nội; Nguyễn Hữu Đức (Chủ biên)
(2003), Giáo dục, rèn luyện thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội; Dương
Tự Đam (2008), “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo 5 điều Bác Hồ dạy”,
NXB Thanh niên, Hà Nội; Phạm Hồng Tung (2011), Thanh niên và lối sống
của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Chu Xuân Việt (2003), Cơ sở lý luận và thực tiễn
của chiến lược phát triển thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội…
bày trước Hội thảo…
8
Ở những mức độ khác nhau, các công trình sách, báo trên đã phần nào
nêu lên những vấn đề về lý luận và cách tiếp cận khi nghiên cứu về thanh
niên, về công tác Đoàn và phong trào thanh niên, bước đầu tổng kết những
thành tựu và hạn chế trong hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và sự
lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức Đoàn.
Các Luận văn thạc sỹ của các tác giả: “Đảng Cộng sản Việt Nam với
công tác vận động thanh niên từ 2001 – 2010” (Bùi Thị Thu Trang), Đảng bộ
Đồng Nai lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên thời kỳ 19862002 (Đặng Mạnh Trung); “Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo công tác Đoàn
thanh niên từ năm 1997 đến năm 2005” (Trịnh Văn Thoại), “Đổi mới đội ngũ
cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay” (Lê
Văn Cầu); “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào
thanh niên từ năm 2001 đến năm 2007” (Nguyễn Thị Khánh Ly)…các tác giả
đã đề cập đến chủ trương, sự lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh
niên tại các tỉnh ở các giai đoạn khác nhau. Đây cũng là cơ sở giúp tác giả
luận văn có cách nhìn tổng quát, so sánh, liên hệ khi thực hiện đề tài liên quan
ở tỉnh Thanh Hóa.
- Nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo công tác Đoàn
và phong trào thanh niên
Có một số công trình nghiên cứu cụ thể về lịch sử địa phương có liên
quan đến thanh niên và công tác thanh niên như: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá” do Ban tuyên giáo tỉnh Thanh Hoá chịu trách nhiệm biên soạn
(2005); Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa (2008); “Vấn đề
giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” (Tô
Thị Nhung);…Lê Thị Hà (2013), Đảng bộ Thanh Hoá tăng cường lãnh đạo
Đoàn thanh niên trong thời kỳ mới, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội…
- Đưa ra những nhận xét ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
trong lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên.
10
- Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình lãnh đạo công tác
Đoàn và phong trào thanh niên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo công tác Đoàn và phong
trào thanh niên Thanh Hóa của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 2006 đến
năm 2015.
11
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu: Đảng bộ
tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống
cho ĐVTN, xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, Đoàn thanh niên tham mưu, xây
dựng Đảng; một số hoạt động nổi bật trong hai phong trào lớn của thanh niên:
phong trào 5 xung kích, 4 đồng hành.
Thời gian: từ năm 2006 đến năm 2015.
Địa bàn: tỉnh Thanh Hoá.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Luận văn khai thác chủ yếu từ các nguồn tư liệu như:
- Các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa về công tác Đoàn và phong trào thanh niên
với công tác Đoàn và phong trào thanh niên từ năm 2006 đến năm 2010.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo đẩy mạnh công tác Đoàn
và phong trào thanh niên từ năm 2011 đến năm 2015.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm.
13
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào
thanh niên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
1.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng công tác Đoàn và phong trào
thanh niên ở Thanh Hóa trước năm 2006
Tình hình kinh tế - xã hội
Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích rộng (Diện tích tự nhiên là 11.168
Km2 và 1876 Km2 thềm lục địa); phía Bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hoà Bình,
Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa phăn (Nước
CHDCND Lào), phía Đông là biển. Địa hình đa dạng, gồm cả miền núi, trung
du, đồng bằng và ven biển, có vị trí địa lý thuận lợi (gần vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ và là điểm nối giữa vùng Bắc Bộ với Nam Trung Bộ và Nam
Bộ, đồng thời là một trong những cửa ngõ ra biển chủ yếu của vùng Trung du
miền núi Bắc Bộ và các tỉnh Bắc Lào); lại có được nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú, (đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên du lịch…). Đây là lợi thế lớn để Thanh Hóa phát triển
kinh tế - xã hội. Cơ sở hạ tầng trong tỉnh tương đối hoàn thiện, nhất là hệ
thống giao thông: có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc
Nam, giao thông đường thuỷ..., Khu kinh tế Nghi Sơn; một số cửa khẩu với
ngoài để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Dù là một tỉnh có đất rộng, dân
đông, nhưng Thanh Hóa vẫn là một trong số các tỉnh nghèo, quy mô sản xuất
còn nhỏ bé, giản đơn, nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh còn rất hạn
chế, do GDP bình quân đầu người chỉ bằng 65% mức trung bình cả nước.
Khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa vùng thấp với vùng cao, giữa nông
thôn và thành thị và giữa khu vực nông nghiệp (chiếm đại đa số) với khu vực
15
phi nông nghiệp còn rất lớn (thu nhập bình quân đầu người khu vực nông
nghiệp mới đạt dưới 3 triệu đồng/năm, chỉ bằng 40% mức thu nhập bình quân
toàn tỉnh), đây cũng là một thách thức lớn cần giải quyết. Những năm qua nền
kinh tế của tỉnh tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc. Chất lượng tăng
trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, chưa hình thành các ngành mũi
nhọn, các sản phẩm chủ lực một cách rõ nét. Tỷ lệ lao động làm việc trong
lĩnh vực nông, lâm nghiệp (là lĩnh vực có năng suất lao động thấp) vẫn là chủ
yếu (trên 70%), công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong tỉnh tuy đã được cải tạo, nâng cấp
đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút đầu tư
bên ngoài. Các khu công nghiệp, khu kinh tế động lực còn chậm phát triển, tỷ
lệ đô thị hoá thấp, chỉ đạt 9,8% trong khi trung bình cả nước là 26% nên chưa
tạo ra được các khu vực động lực lôi kéo và thúc đẩy các vùng ngoại vi cùng
phát triển, chưa có tác động đáng kể thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Mặt khác, nguồn nhân lực của tỉnh tuy dồi dào nhưng chất lượng thấp,
tồn tại tình trạng thiếu việc làm và việc làm không ổn định, nhất là ở khu vực
nông thôn. Số lượng và chất lượng cán bộ khoa học, cán bộ quản lý và các
nhà doanh nghiệp chưa đáp ứng được so với yêu cầu của nền kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế. Đây là một sức ép lớn, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh cần
phong trào thanh niên ngày càng đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính
đáng của thanh niên; do đó ngày càng tập hợp được đông đảo thanh niên tham
gia vào các tổ chức, phong trào do Đoàn phụ trách. Những đóng góp của
thanh niên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội những năm qua là rất đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, chất lượng và phương thức hoạt động của một số cấp bộ
Đoàn trong tỉnh vẫn chậm đổi mới, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của
17
thanh niên và yêu cầu của xã hội. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc trong thanh
niên chậm được giải quyết như: học tập, vui chơi giải trí, việc làm, thu nhập,
vv… Một bộ phận không nhỏ thanh niên sau khi tốt nghiệp các trường Đại
học, cao đẳng về địa phương không xin được việc làm, hoặc phải xin vào làm
công nhân với các công việc trái ngành học trước đó, phải đào tạo lại, một số
lớn phải đi nơi khác tìm việc làm…. Đội ngũ cán bộ Đoàn chưa được quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng một cách có hệ thống, chưa đáp ứng được yêu cầu
chỉ đạo và tổ chức hoạt động cho ĐVTN. Thực trạng đó tác động rất lớn đến
thái độ, niềm tin của thanh niên và gây cản trở cho công tác giáo dục, tập hợp
thanh niên.
Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu cho Đảng bộ cần phải quan tâm cụ thể
hơn nữa tới đối tượng thanh niên, tới công tác Đoàn và phong trào thanh niên,
có chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho thanh niên học tập, rèn luyện trí
lực, sức khỏe và tinh thần, đồng thời giải quyết, đáp ứng những nguyện vọng
chính đáng của thanh niên.
1.1.2. Chủ trương của Đảng
Để tiếp tục định hướng cho công tác thanh niên trong giai đoạn mới,
ngày 29/4/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 70/2003/QĐ-TTg
ban hành Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010. Chiến
lược nêu rõ cần nghiên cứu, bổ sung, hoàn chỉnh các chính sách đối với thanh
Trong nghị quyết hội nghị lần thứ sáu BCH TW khóa X về “Tiếp tục
xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đai hóa đất nước”, Số: 20-NQ/TW ngày 28 tháng 1 năm 2008, Đảng
nhấn mạnh đặc biệt quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có học vấn,
chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có
lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, trở thành bộ phận nòng
19
cốt của giai cấp công nhân. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn
liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, xây dựng tổ chức công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các tổ chức
chính trị - xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh. [35, tr.4]
Để tăng cường sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, Hội
nghị lần thứ bảy BCH TW khóa X ra nghị quyết số 25/NQ/TW ngày
25/7/2008 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nêu rõ định hướng tiếp tục
xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước, có tinh thần tự cường dân tộc,
luôn kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách
mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng; có năng
lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, có sức khỏe, đạo đức, tri thức, kỹ năng
và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể; cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng
ước mơ, hoài bão lớn, làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến. Thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần những lớp thanh niên ưu
tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của
Đảng, của dân tộc. Vì vậy, chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa
là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội sẽ tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để
thanh niên được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành. Theo quan điểm của