BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HẬU
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4
THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
HÀ NỘI, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HẬU
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4
THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Thúy Ngà
HÀ NỘI, 2017
Nguyễn Thị Hậu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 2
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu .......................................................... 3
5. Giả thuyết khoa học .............................................................................. 3
6. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................... 4
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 4
1.1.1. Một số khái niệm thuật ngữ cơ bản................................................. 4
1.1.2. Các biểu hiện của năng lực hợp tác ................................................ 7
1.1.3. Quy trình phát triển năng lực hợp tác ............................................. 8
1.1.4. Dạy học môn toán ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực
hợp tác ....................................................................................................... 8
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 14
1.2.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học ................................... 14
1.2.2. Đặc điểm môn Toán lớp 4............................................................. 15
1.2.3. Thực trạng dạy học môn Toán lớp 4 theo hướng phát triển
năng lực hợp tác ...................................................................................... 19
1.3. Cơ hội hình thành và phát triển năng lực hợp tác trong môn
Toán lớp 4 ...................................................................................................... 22
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 39
Chƣơng 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4
THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC HỢP TÁC .......................... 41
Học sinh
GV
Giáo viên
DH
Dạy học
HTHT
Học tập hợp tác
DHHT
Dạy học hợp tác
KN
Kỹ năng
TBDH
Thiết bị dậy học
ĐGKQHT
Đánh giá kết quả học tập
dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng
thực hành”. [14]
Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay, việc tổ chức dạy
học ở tiểu học được thực hiện theo hướng phát triển năng lực học sinh, giúp
học sinh chủ động, tích cực, tự học; chú trọng việc nhận xét, động viên, góp
ý cho học sinh trong quá trình học tập. Trên cơ sở đảm bảo mục tiêu giáo
dục tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường chủ động xây dựng
kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh như: Tăng
cường các hoạt động thực hành vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, chú
trọng giáo đạo đức, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội cho học sinh;
điều chỉnh nội dung, các hoạt động giáo dục một cách linh hoạt, đảm bảo
tính vừa sức, phù hợp với đối tượng học sinh hay điều kiện dạy học của địa
phương trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng
lực học sinh.
2
Chính vì thế mà một trong những giải pháp tích cực hiện nay là đổi mới
hình thức và phương pháp dạy học. Và một trong những lựa chọn tối ưu đó
chính là phát triển hình thức dạy học theo nhóm hay dạy học hợp tác để phát
huy năng lực và sự chủ động cho học sinh.
Học tập hợp tác hiện nay đang được áp dụng tại hầu hết các quốc gia
trên thế giới, đặc biệt với những quốc gia đang phát triển thì mô hình học
tập hợp tác càng ngày càng được sự quan tâm nghiên cứu của các chuyên
gia giáo dục cũng như sự áp dụng rộng rãi trong quá trình dạy học của các
nhà sư phạm.
Hình thức dạy học này tạo điều kiện cho người học phát huy khả năng
làm việc nhóm, một trong những kĩ năng rất cần phải trang bị cho học sinh,
đặc biệt là ở Tiểu học - cấp học nền tảng.
Hiện nay đã có một số đề tài nghiên cứu về dạy học hợp tác như luận
năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả
trong các tình huống đa dạng của cuộc sống. (Québec- Ministere de
l’Education, 2004)
Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng,
thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công
nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. (Nguyễn
Công Khanh, 2012)
Năng lực là khả năng vận dụng đồng bộ các kiến thức, kỹ năng, thái
độ, phẩm chất đã tích lũy được để ứng xử, xử lý tình huống hay để giải quyết
vấn đề một cách có hiệu quả. (Lê Đức Ngọc, 2014)
5
Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh
hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ,
nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt
động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu
hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kí thuật trong một tình
huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Bộ giáo dục và Đào
tạo, ngày 27/07/2017), năng lựclà thuộc tính cá nhân được hình thành, phát
triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người
huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như
hứng thú, niềm tin, ý chí,... thực hiện thành công một loại hoạt động nhất
định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
1.1.1.2. Năng lực hợp tác
Khái niệm hợp tác
Theo đại từ điển Tiếng Việt, hợp tác có nghĩa là “chung sức, giúp đỡ
qua lại đến nhau” [8]. Còn theo tác giả Nguyễn Lân, “hợp tác là cùng làm một
việc với nhau” [4].
hóa quá trình vận động từ thập đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn [15].
Theo từ điển xã hội học: Phát triển là sự biến đổi hợp quy luật theo
hướng không thể đảo ngược,được đặc trưng bởi sự chuyển biến chất lượng,
bởi sự chuyển biến sang một trình độ mới. Phát triển là đặc điểm cơ bản của
vật chất, là nguyên tắc để giải thích về sự tồn tại và hoạt động của các hệ
thống bất cân bằng, lưu động, biến đổi [16].
* Phát triển năng lực hợp tác
Kế thừa quan điểm trên, chúng tôi cho rằng phát triển năng lực hợp tác
(NLHT) là quá trình biến đổi, tăng tiến các NLHT của học sinh từ mức độ
thấp đến mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập
đạt hiệu quả.
7
Phát triển NLHT là biểu hiện sự tiến bộ trọng nhận thức, thái độ, hành
động và kỹ thuật học tập của học sinh (HS) trong nhóm, làm cho việc học tập
ngày càng hoàn thiện và có kết quả cao hơn.
Quá trình dạy học có mục tiêu hình thành năng lực hoạt động cho học
sinh, trong đó phát triển NLHT là một hướng đi tích cực, phù hợp với đổi mới
phương pháp dạy và học.
1.1.2. Các biểu hiện của năng lực hợp tác
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Bộ giáo dục và Đào
tạo, ngày 27/07/2017), năng lực hợp tác ở cấp tiểu học thể hiện ở các biểu
hiện như:
1.1.2.1. Xác định mục đích và
Có thói quen trao đổi, giúp đỡ nhau
phương thức hợp tác
việc được phân công.
8
1.1.2.5. Đánh giá hoạt động hợp tác
Báo cáo được kết quả thực hiện
nhiệm vụ của cả nhóm; tự nhận xét
được ưu điểm, thiếu sót của bản thân
theo hướng dẫn của giáo viên.
1.1.3. Quy trình phát triển năng lực hợp tác
Bước 1: Nhận thức rõ các biểu hiện của năng lực hợp tác. Xác định
công cụ đo năng lực hợp tác. Lập kế hoạch về phát triển năng lực hợp tác thể
hiện ở kế hoạch bài học.Giáo viên lựa chọn nội dung kiến thức và nhiệm vụ
học tập phù hợp để phát triển năng lực hợp tác cho HS.
Bước 2: Tạo tình huống, tổ chức cá nhân hoạt động, sử dụng các PPDH
và TBDH phù hợp để hình thành và phát triển năng lực hợp tác cho HS. Thiết
kế kế hoạch bài học áp dụng dạy học hợp tác, áp dụng các PP dạy học theo
góc, theo dự án.
Bước 3: Tổ chức dạy học hợp tác. Sử dụng các biện pháp phù hợp để
phát triển năng lực hợp tác cho HS.Theo dõi, hướng dẫn điều chỉnh cho HS
trong quá trình hoạt động.
Bước 4: Đánh giá sự phát triển năng lực hợp tác của HS thông qua các
công cụ:
- Bảng kiểm quan sát HS theo các tiêu trí năng lực.
- Hồ sơ học tập, phiếu đánh giá của HS.
- Các bài tập, các tình huống mô phỏng để kiểm tra đánh giá việc phát triển
năng lực hợp tác cho HS.
Bước 5: Rút kinh nghiệm, phát huy những kết quả tốt, đề xuất biện
quyết vấn đề của HS.
+ Trong quá trình thiết kế nhiệm vụ, GV phải thấu hiểu HS,phải dự
đoán trước được nhưng khó khăn vướng mắc của học sinh trong quá trình giải
quyết nhiệm vụ, dự đoán được kỹ năng hiện có của HS để giao nhiệm vụ
thích hợp, và kích thích sự phát triển, xác định nhiệm vụ đồng nhất hay khác
nhau giữa các nhóm.
- Nghiên cứu cách thức chia nhóm học tập hợp tác
10
- Điểm đặc trưng nhất của dạy học theo hướng phát triển NLHT là tổ
chức dạy học theo hình thức nhóm. Do đó nghiên cứu cách thức chia nhóm học
tập là một mặt HS - HS, mặt khác HS làm trung tâm của quá trình dạy học.
- GV nghiên cứu các cách thức chia nhóm để phân chia nhóm học tập
hợp tác sao cho khoa học và phù hợp. Số lượng thành viên, thời gian làm việc
cố định trong thời gian dạy hay tạm thời, kế hoạch làm việc, …trong nhóm
nên khác nhau về năng lực, trình độ, giới tính, …
+ Phân chia vai trò của các thành viên trong nhóm học tập
Sau khi chia nhóm học tập hợp tác, GV hướng dẫn HS phân chia vai trò
của các thành viên trong nhóm phù hợp với năng lực, sở trường như: Nhóm
tưởng, thư ký, ….các thành viên dựa nhau vào hoàn thành nhiệm vụ và tăng
cường hiệu quả hợp tác.
+ Bố trí không gian lớp học
Nét sáng tạo trong DH theo hướng phát triển NLHT là GV sắp xếp, bố
trí lại không gian lớp học, phá vỡ trạng thái “tĩnh” chuyển sang trạng thái
“động”. HS đối mặt tích cực hợp tác học tập nhằm hoàn thành nhiệm vụ học
tập.GV phải khéo léo sắp xếp các nhóm sao cho không ảnh hưởng tới nhau
trong lúc tham gia thảo luận, giữa các nhóm có khoảng cách thuận lợi cho
việc GV đi lại giám sát, kiểm tra.
+ Sử dụng phương pháp, kỹ thuật DH
nhất hình thành sản phẩm chung của nhóm.
+ Dưới sự hướng dẫn, điều khiển của GV, HS có thể nộp sản phẩm
nhóm hoặc trình bày sản phẩm của nhóm mình trước tập thể lớp.
+ Cuối cùng là cùng nhau nhận xét, đánh giá kết quả đạt được giữa
các nhóm với nhau, đánh giá kết quả học tập cũng như tinh thần, hành vi
hợp tác của từng cá nhân trong một nhóm, rút kinh nghiệm cho những bài
học tiếp theo.
* Kiểm tra đánh giá
12
Sau khi kết thúc hoạt động GV phải tổ chức cho HS tổng kết kinh nghiệm
và báo cáo kết quả, đồng thời đóng vai trò là người nhận xét, đánh giá.
Khác với dạy học truyền thống, dạy học theo hướng phát triển NLHT
không chỉ lấy thành tích cá nhân làm căn cứ đánh giá mà còn lấy thành tích
tổng thể của cả nhóm làm căn cứ nhận xét, đánh giá và khen thưởng.
Tuy nhiên, tính đa dạng của các thành viên trong nhóm cũng đặt ra yêu
cầu cần đa dạng trong kiểm tra đánh giá.GV phải chọn nhiều phương thức
đánh giá để tránh được tình trạng chỉ quan tâm đến nhóm mà không quan tâm
đến cá nhân, chỉ quan tâm đến kết quả học tập mà không quan tâm đến quá
trình tiến bộ của từng HS.
Kiểm tra đánh giá đưa ra phải nhằm động viên khuyến khích kịp thời
những HS tích cực, đồng thời lưu ý đến những HS có năng lực yếu để các em
có thêm lòng tự tin và phương pháp để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
1.1.4.2.Một số phương pháp dạy học hợp tác
- Sử dụng phương pháp dạy học (PPDH) theo góc và thiết bị dạy học
(TBDH): Khi cùng nhau hoạt dộng nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì
một số biểu hiện của năng lực hợp tác có cơ hội được bộc lộ. Cùng với sự
hướng dẫn, trợ giúp, động viên của GV các kĩ năng của HS được biểu hiện:
Biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của bạn, biết làm việc theo nhóm, theo cặp,
khi luyện tập, khi thực hành hóa học.
Với một số PP và kĩ thuật dạy học đã nêu đều có phối kết hợp học tập
hợp tác. Học theo góc khi nghiên cứu tính chất của một số loại chất hoặc chất
cụ thể sẽ hình thành góc theo phong cách học và ở mỗi góc HS cần hợp tác
với nhau để hoàn thành nhiệm vụ ở mỗi góc.
Ở mỗi góc HS có thể được tổ chức hợp tác theo kĩ thuật khăn trải bàn
hoặc sơ đồ tư duy để tăng cường khả năng hợp tác, tăng cường trách nhiệm
của mỗi cá nhân trong nhóm để tăng hiệu quả của PP.
Tuy nhiên cần chú ý tới tính phức tạp và độ khó của nhiệm vụ được
giao khi thực hiện học tập hợp tác thì mới có hiệu quả. Những nhiệm vụ quá
14
dễ hoặc quá khó sẽ gây nhàm chán, gây ỷ lại,… và không phát triển năng lực
hợp tác cho tất cả HS trong nhóm.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
Nhìn chung ở học sinh tiểu học hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu
thế, các em rất nhạy cảm vói các tác động bên ngoài điều này phản ánh nhiều
hoạt động nhận thức ở lứa tuổi học sinh tiểu học. Tuy nhiên, ở giai đoạn cuối
tiểu học hệ thống tín hiệu thứ hai đã phát triển nhưng còn ở giai đoạn thấp.
Khả năng phân tích của học sinh tiểu học còn kém, các em thường tri
giác trên tổng thể. Tri giác không gian chịu nhiều tác động của trường tri giác
gây ra các biến dạng, các ảo giác. So với học sinh ở đầu bậc tiểu học các em
học sinh ở lớp cuối tiểu học có các hoạt động tri giác đã phát triển và được
hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên xác định dần.
Sự chú ý không chủ định còn chiếm ưu thế ở học sinh tiểu học. Sự chú
ý này không bền vững nhất là đối với các đối tượng ít thay đổi. Do thiếu khả
năng tổng hợp, sự chú ý của học sinh tiểu học còn phân tán, lại thiếu khả năng
phân tích nên dễ bị lôi cuốn vào cái trực quan gợi cảm. Sự chú ý của học sinh
(trường hợp đơn giản, mẫu số của tổng hoặc hiệu không quá 100); Giới thiệu
quy tắc nhân, qui tắc chia hai phân số (mẫu số của tích không vượt quá 100);
Giới thiệu tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số, nhân
một tổng hai phân số với một phân số.
- Tỉ số: Khái niệm ban đầu về tỉ số; Tỉ lệ bản đồ và một số ứng dụng
của tỉ lệ bản đồ.
- Một số yếu tố đại số: Tính giá trị của biểu thức số (số tự nhiên hoặc
phân số) có đến ba dấu phép tính (có hoặc không có dấu ngoặc) và biểu thức
có chứa một, hai, ba chữ dạng đơn giản. Biết giải các bài tập dạng tìm một
thành phần chưa biết của phép tính (dạng tìm x).
- Một số yếu tố thống kê: Số trung bình cộng; biểu đồ; biểu đồ cột.
b) Mạch Đại lượng và đo đại lượng gồm các đơn vị đo khối lượng: Tạ,
16
tấn, đề-ca-gam (dag), héc-tô-gam (hg); Mối quan hệ giữa các đơn vị đo độ
dài, khối lượng, diện tích; Các đơn vị đo thời gian: Giây, thế kỉ, hệ thống hóa
các đơn vị đo thời gian.
c) Mạch Yếu tố hình học gồm: Góc nhọn, góc tù, góc bẹt; Hai đường
thẳng cắt nhau, song song với nhau; Hình bình hành, Hình thoi, Diện tích
hình bình hành và hình thoi.
c) Mạch Giải bài toán có lời văn gồm: Giải các bài toán có đến hai hoặc
ba bước tính, có sử dụng phân số. Giải các bài toán liên quan đến: Tìm hai số
biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của chúng; Tìm hai số biết tổng và hiệu của
chúng; Tìm số trung bình cộng; Tìm phân số của một số; Các nội dung liên
quan đến hình học đã học.
Hạt nhân của Toán 4 là nội dung số học; Nội dung của ba mạch còn lại
được sắp xếp xen kẽ với hạt nhân số học để có sự hỗ trợ lẫn nhau của các
mạch nội dung, tạo nên môn Toán thống nhất ở Tiểu học. Trong từng chủ đề
của nội dung của Toán 4, các kiến thức được sắp xếp từ đơn giản đến phức
môn Toán các lớp 4, 5 đã được nâng lên một bậc so với các lớp 1, 2, 3. Từ
đầu lớp 4, HS có thể nhận biết và vận dụng một số tính chất của số, phép tính,
hình hình học ở dạng khái quát và tường minh hơn so với lớp 3.
Nếu gọi giai đoạn của các lớp 1, 2, 3 là giai đoạn học tập cơ bản thì có
thể gọi giai đoạn các lớp 4, 5 là giai đoạn học tập sâu và Toán 4 mở đầu cho
giai đoạn học tập sâu với ý nghĩa là vẫn dạy học các kiến thức kĩ năng cơ bản
của môn Toán nhưng ở mức độ sâu sắc hơn, khái quát hơn, tường minh hơn.
Trong mỗi giai đoạn (nêu trên) đều có khoảng thời gian chuyển tiếp.
Mặc dù đến cuối lớp 3 đã có khoảng thời gian chuyển tiếp từ giai đoạn học
tập cơ bản sang giai đoạn học tập sâu, nhưng đối với một bộ phận học sinh,
đến đầu lớp 4 vẫn còn có sự chuyển tiếp giữa các giai đoạn học tập cơ bản và