SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN XÂY DỰNG
MÔI TRƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở LỚP MẪU GIÁO GHÉP THÔN QUANG ÁO
TRƯỜNG MẦM NON CẨM QUÝ NĂM HỌC 2017 - 2018
Người thực hiện: Bùi Thị Hương
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Cẩm Quý
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HOÁ NĂM 2018
MỤC LỤC
0
NỘI DUNG
TRANG
I - MỞ ĐẦU
1
1.1.Lý do chọn đề tài
2.3.1. Biện pháp 1: Chỉ đạo giáo viên cách xây dựng thiết kế môi
trường tiếng việt.
6
2.3.2. Biện pháp 2: Tham mưu, phối hợp với địa phương và các tổ
chức đoàn thể về cơ sở vật chất
8
2.3.3. Biện pháp 3: Chỉ đạo hướng dẫn xây dựng môi trường tiếng
Việt trong và ngoài lớp học tại lớp mẫu giáo ghép thôn Quang Áo.
9
2.3.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ làm quen tiếng
Việt trong môi trường thiết kế:
11
2.3.5. Biện pháp 5: làm tốt công tác tuyên truyền:
15
2.3.6. Biện pháp 6: Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục:
16
2.4 .Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
quốc dân của nước ta là tiếng Việt. Vì vậy, việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ
mầm non vùng dân tộc thiểu số có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm nâng cao
khả năng sử dụng tiếng việt của trẻ, đảm bảo cho trẻ có kỹ năng cơ bản trong
việc sử dụng tiếng việt, để hoàn thành chương trình Giáo dục Mầm non, tạo tiền
đề cho việc học tập, lĩnh hội kiến thức của cấp học tiểu học, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số
Trong môi trường hoạt động của trẻ mầm non mà cụ thể là môi trường tiếng
việt cho trẻ dân tộc thiểu số, đối tượng hoạt động của trẻ là những giá trị kinh
nghiệm đựơc chọn lọc sư phạm mà trẻ cần được chiếm lĩnh các hình thức chuẩn
mực như: Tri thức, kỹ năng, mẫu hành vi, cách ứng xử, (ngôn ngữ) tiêu chuẩn
đạo đức. Để làm cho các đối tượng hoạt động này được động cơ hóa. Điều này
chỉ được thực hiện khi người lớn quan tâm đến việc tổ chức môi trường hoạt
động của trẻ.
Thiết kế và tổ chức tốt môi trường tiếng việt thì mới tạo cho trẻ không gian
và thời gian độc lập hành động, suy nghĩ phát triển các kỹ năng nhận thức, giao
tiếp, cảm xúc, xã hội… Đồng thời giáo viên có cơ hội để thỏa mãn nhu cầu và
sở thích học tiếng việt của trẻ, có nhiều thời gian quan sát trẻ, đánh giá kết quả
phát triển từ thông qua hoạt động với môi trường tiếng việt.
Việc thiết kế môi trường tiếng việt cho trẻ hoạt động có tác dụng tốt đối với
sự phát triển của trẻ mầm non là người dân tộc thiểu số, là phương tiện giáo dục
phù hợp tâm lý trẻ nhỏ. Vì hoạt động đó chính là nơi trẻ có thể chơi và tự hoạt
động trong nhóm nhỏ nhất là ở lớp mẫu giáo ghép, qua đó phát huy tính độc lập,
chu động của trẻ, khuyến khích trẻ tự chọn góc chơi mình thích…Giúp trẻ học
cách cùng chơi, cùng cộng tác phát triển từ một cách nhanh chóng hơn.
Trên thực tế ở địa phương tôi còn một lớp mẫu giáo ghép 2 độ tuổi cách xa
khu trung tâm tại thôn đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135, trẻ ở đây đa số
là trẻ dân tộc mường, không có cơ hội giao tiếp tiếng việt thường xuyên, vì vậy
việc xây dựng môi trường tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở lớp
ghép hiện nay là vô cùng quan trọng và cấp bách
2
thực tế tôi đã nắm được số lượng trẻ có khả năng phát âm được tiếng việt qua
hoạt động với môi trường, số trẻ không hiểu tiếng việt và không nói được tiếng
việt để có biện pháp chỉ đạo giáo viên thiết kế, xây dựng môi trường phù hợp.
Phương pháp thực nghiệm: Bản thân đã đưa ra các biện pháp khác nhau để
chỉ đạo giáo viên thiết kế xây dựng môi trường tiếng việt, thực hành hướng dẫn
trẻ và đã thực hiện ngay tại lớp ghép Thôn Quang áo do cô Bùi Thị Hạnh phụ
trách trong năm học 2017 – 2018
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
3
Qua nghiên cứu cho thấy việc thiết kế xây dựng môi trường tiếng việt cho
trẻ hoạt động có tác động rất lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ em dân tộc
thiểu số cùng với chuyên đề xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
là đưa trẻ vào cùng tạo môi trường cùng cô được hoạt động, trải nghiệm. Cùng
cô thiết kế góc chơi như cùng làm đồ chơi với cô, đồ chơi bằng nguyên vật liệu
thiên nhiên sẵn có như vỏ cây, lá cây làm đồ dùng- đồ chơi có gắn các từ tương
ứng…Nhờ đó mà trí tưởng tượng của trẻ ngày càng được phong phú dần lên,
vốn từ của trẻ ngày càng được phát triển
Xây dựng môi trường tiếng việt để trẻ được hoạt động, với tư cách trẻ cũng
là một chủ thể tích cực hoạt động, tích cực giao tiếp với bạn bè, và chủ động
giao tiếp.
Vậy muốn có môi trường tiếng Việt thật thân thiện gần gũi với trẻ để cho
trẻ được hoạt động thì trước hết cô cần phải tạo ra không gian phản ánh nội dung
cơ bản của chủ đề, chủ điểm để cô và trẻ hướng vào để thực hiện.
Riêng đối với lớp mẫu giáo ghép, môi trường tiếng Việt đã quan tâm đến
tính phù hợp với sự khác biệt về nội dung giáo dục của các độ tuổi, về văn hóa
của dân tộc có trong lớp. Đặc biệt là môi trường giao tiếp tiếng Việt, tăng cường
sự giao tiếp các độ tuổi với nhau (cùng độ tuổi, khác độ tuổi) và có sự đan xen
đồng chí cán bộ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ ,trình
độ đạt chuẩn trở lên trường có 37 cán bộ giáo viên (Trong đó giáo viên có trình
độ Đại học là: 31 giáo viên; Cao đẳng: 3 giáo viên; Trung cấp: 3 giáo viên)
Giáo viên là người dân tộc thiểu số (dân tộc mường): 30 đồng chí.
Trường có 26 nhóm/lớp: 22 lớp mẫu giáo và 4 nhóm trẻ với tổng số học sinh
là: 563 học sinh được phân theo độ tuổi 21 lớp mẫu giáo, 01 lớp học ghép 2 độ tuổi
cách xa khu trung tâm 5 km.
Đối chiếu với tình hình đội ngũ thì cũng đã đủ tiêu chuẩn cho hoạt động
chuyên môn của nhà trường.
* Khó khăn:
+ Tình hình địa phương:
Cẩm Quý là một xã vùng cao, vừa mới thoát khói chương trình 135 năm
2014, đời sống kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp nhất là
ở các thôn bản cách xa khu trung tâm, nên các biện pháp tạo môi trường tiếng
việt cho trẻ hoạt động chưa đặt ra thành điều kiện thiết yếu.
Về nhận thức của người dân địa phương: Một số người dân nhận thức chưa
đầy đủ về vị trí, vai trò của việc dạy tiếng Việt trẻ ở lứa tuổi mầm non.
+ Tình hình nhà trường:
Về cơ sở vật chất phòng học đang còn thiếu, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho
các hoat động đang còn ít, chưa đảm bảo cho trẻ hoạt động trải nghiệm, còn có
lớp đang phải học ghép 2 độ tuổi vào một phòng
Giáo viên dạy lớp ghép chương trình giảng dạy cùng một nội dung, các đồ
dùng học liệu chuẩn bị như nhau nhưng giáo viên phải xây dựng mục đích yêu
cầu theo từng độ tuổi trong cùng một lớp vì vậy rất khó khăn cho giáo viên khi
xây dựng kế hoạch xác định mục tiêu cần đạt ở các chủ đề thực hiện.
+ Về chỗ hoạt động học và chơi của trẻ ở lớp ghép thôn Quang áo:
Khuôn viên, diện tích trong và ngoài lớp chưa đảm bảo cho việc tạo môi trường,
và thực hiện các hoạt động của trẻ, trang thiết bị trong phòng học còn nghèo nàn
đơn điệu, đặc biệt là đồ dùng đồ chơi và cách thiết kế góc chơi và tạo môi trường
học tập ở lớp chưa có tính sáng tạo, đồ chơi ở các góc đang còn ít chưa đảm bảo
Do những nguyên nhân trên. Nên hiệu quả tổ chức học tiếng Việt thông qua
các hoạt động của trẻ chưa cao
+ Kết quả của thực trạng:
Từ thực trạng trên dẫn đến phần nào hạn chế các quá trình hoạt động của
trẻ. Điều đó được thể hiện rõ khi tiếp xúc với trẻ, ta thấy trẻ nhút nhát, cảm nhận
về ngôn ngữ chưa tốt, không linh hoạt, không tích cực hoạt động ít giao tiếp, ít
hòa nhập, giao tiếp không mạch lạc…
Cụ thể tôi đã tiến hành chỉ đạo giáo viên khảo sát thực trạng mức độ phát
triển của trẻ giai đoạn đầu năm như sau:
T
T
Kết quả khảo sát
Tiêu chí
Đạt
6
Tốt
Khá
TB
Tổng
số
25
3=12%
Kỹ năng hoạt động
25
3=12%
4=16%
8=32%
10= 40%
5
Thường xuyên giao
tiếp bằng tiếng Việt
hàng ngày
25
4=16%
3=12%
6=24%
12= 48%
Là một người trực tiếp chỉ đạo và hướng dẫn nên việc xây dựng môi
trường học thân thiện, Học sinh tích cực” cùng với các chuyên đề như: “ Chuyên
đề tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số”. Chuyên đề Xây
dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” đặc biệt là vận dụng chuyên đề
“Hướng dẫn thiết kế - Tổ chức hoạt động trong môi trường giáo dục ở trường
Mầm Non”.
Tác động nhận thức để giáo viên thấm nhuần cách thức xây dựng môi
trường, trang trí lớp học theo chủ điểm, chủ đề. Các quy định về thực hiện
chương trình…
Hướng dẫn tạo góc tiếng Việt theo hướng mở để trẻ được hoạt động
Chỉ đạo xây dựng môi trường xanh, sạch an toàn, ngoài lớp học tạo môi
trường thân thiện gần gũi, chỉ đạo giáo viên các lớp phối hợp với phụ huynh
trồng cây xanh, bồn hoa cây cảnh, tạo góc thiên nhiên ở mỗi nhóm lớp… để tạo
khuôn viên đẹp, quán triệt công tác giữ gìn vệ sinh trong trường/lớp. Phòng
chống tai nạn thương tích cho trẻ. tổ chức hoạt động hiệu quả phù hợp với đặc
điểm từng lứa tuổi, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và từng lớp.
( Hình ảnh nhà trường triển khai chuyên đề tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân
tộc thiểu số)
8
Tổ chức giám sát cách thiết kế môi trường hoạt động cho trẻ, cách phân
chia diện tích phòng, phân chia ranh giới, sử dụng mảng tường các giả tủ để
ngăn cách, lối đi lại giữa các góc có đủ rộng cho trẻ di chuyển không, bố trí bàn
ghế có phù hợp với góc lớp chưa? và đồ chơi học liệu vừa tầm với của trẻ, cách
đặt tên góc dễ hiểu với trẻ chưa?
Sau mỗi chủ đề có thay đổi bố trí và hoạt động ở các góc để tạo mới lạ và
hấp dẫn đối với trẻ hay chưa? Và cô cho phép trẻ được cùng làm đồ dùng đồ
chơi, cho phép trẻ tham gia chơi các trò chơi kích thích việc phát triển ngôn ngữ.
đẹp có giá trị sử dụng, mang tính giáo dục cao để thu hút sự chú ý của các bé
trong các giờ hoạt động góc chơi tự tạo, kết hợp với phụ huynh sáng tạo góc
9
thiên nhiên có bể cát nước, trồng hoa nhiều màu ở góc bố trí hợp lý giữa các góc
chơi, đóng góp nguyên vật liệu từ thiên nhiên cho cô và trẻ cùng xây dựng môi
trường tiếng việt và làm đồ chơi.
(
Hình ảnh đoàn thanh niên tình nguyện của các thôn trong xã và giáo viên nhà trường
đang xây dựng môi trường tiếng Việt ở lớp ghép)
2.3.3. Biện pháp 3: Chỉ đạo hướng dẫn xây dựng môi trường tiếng Việt
trong và ngoài lớp học tại lớp mẫu giáo ghép thôn Quang Áo.
Về môi trường trong lớp học:
Bám sát bộ tiêu chí xây dựng môi trường tiếng việt cho trẻ dân tộc trong
chuyên đề năm học 2017-2018. Cụ thể hóa để xây dựng môi trường tiếng Việt
phù hợp với tình hình thực tế của lớp học và của địa phương
Chia diện tích phòng thành các góc hoặc các khu vực chơi khác nhau
Bố trí góc chơi yên tĩnh (góc tạo hình, sách…) xa các góc ồn ào (xây dựng,
gia đình, bán hàng…), có góc di động hoặc thay đổi tùy theo chủ đề chính của
lớp trong thời gian đó.
Có ranh giới giữa các góc (Sử dụng mảng tường các giá, tủ để ngăn cách). Có
lối đi lại giữa các góc, đủ rộng cho trẻ di chuyển, bố trí bàn ghế phù hợp với
từng góc, đồ chơi học liệu để vừa tầm với của trẻ. Có góc để lưu sản phẩm tạo
hình của trẻ sau mỗi giờ hoạt động.
Đặt tên góc dễ hiểu đối với trẻ. Sau mỗi chủ đề cần thay đổi cách bố trí và
hoạt động ở các góc để tạo cảm giác mới lạ hấp dẫn đối với trẻ. Ví dụ: Chủ đề
quê hương đất nước, tái hiện trong trí tưởng tưởng của trẻ về. Cây đa, bến nước,
băng tiếng Việt trong quá trình trẻ chơi
Thiết kế góc địa phương:
11
Các sản phẩm, đặc sản địa phương như: Ớp, sọt, giỏ, quả còn, hạt mẳng,
măng, ngô, khoai sắn...và bố trí tương tự như trong lớp. Riêng với việc xây dựng
góc thư viện ngoài trời: xây dựng một không gian mở, tạo cơ hội cho trẻ được
tiếp cận thường xuyên với sách, truyện đồng thời hình thành ở trẻ thói quen xem
sách hàng ngày, giáo viên có thể lựa chọn vị trí có không gian thoáng, yên tĩnh,
đảm bảo ánh sáng, trang trí góc mang tính thẩm mĩ, không rườm rà gây rối mắt.
Có đủ giá kệ để sách, truyện, có bàn, ghế cho trẻ
(Hình ảnh cô hướng dẫn trẻ lớp ghép chơi ở góc địa phương được thiết kế ngoài lớp học)
Với việc xây dựng góc "Chợ quê" trong trường mầm non là một ý tưởng rất
hay mà trường đã thực hiện. Góc Chợ quê giúp tái hiện lại giá trị truyền thống
dân tộc, bản sắc văn hóa của địa phương. Giáo viên lựa chọn một góc nhỏ tại
sân trường. Tận dụng các nguyện liệu tự nhiên, có sẵn và gần gũi với trẻ như tre,
rơm, lá cọ... để tạo các giá bày hàng, các sạp bán hàng... Các mặt hàng cho trẻ
chơi cần phong phú, nhiều chủng loại. Có gắn chữ cái và các từ. Bố trí sắp xếp
khoa học, đẹp mắt làm nổi bật lên một mô hình Chợ quê lạ mà quen.
Ngoài ra rèn kỹ năng sống cho trẻ qua việc tạo môi trường giáo dục trong
nhà trường. Qua các hoạt động còn được lồng các trò chơi dân gian, và làm đồ
chơi dân gian từ những vật liệu sẵn có phù hợp với truyền thống của địa phương.
Ví dụ: Trò chơi dân gian, chơi đánh mẳng, đánh e, đánh khẳng, chơi u… của dân
tộc mường nơi trẻ sinh sống.
2.3.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ làm quen tiếng
Việt trong môi trường thiết kế:
Về chọn giáo viên đứng ở lớp ghép có đa số trẻ dân tôc. Trước hết phải là
có tư duy hình ảnh gắn với ngôn ngữ được khắc sâu hơn.
Ngoài ra giáo viên còn giới thiệu cho trẻ bằng tiếng Việt về các vật liệu có
tại góc; tổ chức cho trẻ sử dụng tiếng Việt để nêu tên gọi đặc điểm công dụng
của các vật liệu có tại góc đó.
Ví dụ: Bằng tiếng mường là. Quyển thảch của cảc ùn dịch là: Quyển sách
của các em; hay quyển vở ní dúng để vẻ; dịch là: Quyển vở này dùng để vẽ các
hoạt động lễ hội, nét văn hóa của dân tộc, các sách, thơ, truyện... từ đó, giúp trẻ
tăng khả năng giao tiếp, rèn khả năng diễn đạt mạch lạc cho trẻ. Tổ chức cho trẻ
hoạt động để giao lưu tiếng Việt thông qua các trò chơi, kể chuyện, đọc thơ...
Với các đồ dùng: Giáo viên hướng dẫn trẻ phân nhóm, phân loại đồ dùng,
dụng cụ của dân tộc mình, dạy trẻ nói bằng tiếng Việt về tên gọi, công dụng,
chất liệu, cách sử dụng của các đồ dùng đó...Với góc thư viện giáo viên hướng
dẫn trẻ cách lật sách; gợi ý cho trẻ tự chọn lựa theo ý thích; hướng dẫn các trẻ
trong nhóm, rủ bạn cùng kể theo những hình ảnh, câu chuyện mà trẻ đã biết
bằng ngôn ngữ của trẻ hoặc trẻ có thể kể sáng tạo theo ý thích của mình. Ngoài
ra góc thư viện còn giúp phụ huynh được tham gia đọc chuyện cùng con trong
13
những giờ đón trả trẻ góp phần phát triển mối quan hệ thân ái, cởi mở tích cực
giữa trẻ với trẻ trong thư viện.
* Tôi đã bày cách hướng dẫn một số góc:
Thư viện đồ chơi: Hướng dẫn cho Giáo viên sưu tầm và tuyên truyền với
các bậc phụ huynh sưu tầm tất cả các loại tranh, họa báo cũ, các hình ảnh để
ghép thành tranh cho trẻ tập kể chuyện sáng tạo, các loại bàn xoay kể chuyện
không những xem tranh, ngắm những tranh trong góc sách mà trẻ còn được chơi
và hoạt động với đồ vật, chơi đồ chơi và tự kể theo ngôn ngữ của trẻ, giúp trẻ
phát triển từ mới, trẻ có thể tự làm sách truyện từ tranh ảnh do tay trẻ vẽ hoặc
sưu tầm để rèn luyện khéo tay, như ghép và kể về những món ăn, cách chế biến,
ngoài ra với đồ chơi nước trẻ tưởng tượng ra thuyền lướt sóng, bộ tranh lô tô
Cách làm: Cùng thiết kế các loại hình dáng của bưu thiếp, sau đó cô cho trẻ
tự trang trí theo những gì trẻ thích trẻ có thể làm trong giờ hoạt động góc, hoặc
hoạt động chiều, có thể thiết kế môi trường hoạt động mở ở một số góc như: góc
xây dựng, góc Bé tập làm nội trợ; góc tổ ấm gia đình, góc tạo hình…
Khi kết thúc chủ đề giáo viên chủ nhiệm cùng tổ chuyên môn cần nhận xét
cách thiết kế và hướng dẫn trẻ hoạt động, để có kế hoạch cho chủ đề sau. Lập kế
hoạch chuẩn bị chu đáo chi tiết cụ thể về sáng tạo môi trường tiếng việt trong
lớp, góc thiên nhiên, cảnh quan, tủ, giá đựng đồ chơi. Triển khai đến các bậc phụ
huynh để đóng góp nguyên vật liệu cùng tạo môi trường tiếng việt, làm đồ dùng
đồ chơi.
Cô phải có nhật ký để quan sát nhận thức và kỹ năng hoạt động của trẻ
trong từng giai đoạn và từng chủ điểm. Qua đó đã thấy được sự ngôn ngữ tiếng
Việt và và nhận thức của trẻ thông qua hoạt động với môi trường một cách
nhanh chóng.
Ngoài ra tôi còn chỉ đạo giáo viên đứng lớp tạo ra môi trường giao tiếp
bằng tiếng Việt tích cực thông qua nhiều hình thức như: tổ chức các giờ học
tiếng Việt cho trẻ mẫu vào các buổi chiều trong tuần, tổ chức các trò chơi ngôn
ngữ, các hoạt động giáo dục khác có tăng cường sự giao lưu, giao tiếp bằng
tiếng Việt giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô và những người xung quanh.
Riêng đối với lớp mẫu giáo ghép tại thôn Quang Áo, môi trường tiếng Việt đã
quan tâm đến tính phù hợp với sự khác biệt về nội dung giáo dục của các độ
tuổi, về văn hóa của dân tộc mường có trong lớp. Đặc biệt là môi trường giao
tiếp tiếng Việt tăng cường sự giao tiếp giữa trẻ các độ tuổi với nhau (cùng độ
tuổi, khác độ tuổi) và có sự đan xen về độ tuổi cũng như trình độ tiếng Việt
để trẻ có nhiều cơ hội học tập và chia sẻ, không kỳ thị hoặc phân biệt đối xử
(Hình ảnh phụ huynh lớp ghép đang học tiếng việt ở góc thư viện cùng các bé)
15
khác tôi còn chỉ đạo xây dựng các hoạt động chơi thông qua môi trường tiếng
Việt đã thiết kế ở lớp kết hợp sử dụng đồ dùng đồ chơi tự tạo vào trong giờ học
của trẻ để cho các bậc cha mẹ tham dự để xem con em mình học như thế nào? và
môi trường tiếng Việt được sử dụng ra sao? thông qua giờ hoạt động các bậc cha
mẹ thấy con em mình hứng thú, hăng say hơn, trẻ được hoạt động tích cực, phát
triển từ tiếng Việt tốt hơn và thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng môi
trường tiếng Việt ở lớp.
2.3.6. Biện pháp 6: Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục:
Chỉ đạo giáo viên lên kế hoạch xây dựng môi trường tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số, tổ chức hoạt động một cách mềm dẻo linh hoạt sáng tạo phù hợp
với tình hình trẻ ở lớp và độ tuổi của trẻ. Tạo được sự hỗ trợ của các lực lượng
giáo dục khác như: Hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh
niên, mặt trận tổ quốc xã nhà và các thôn bản, các nhà hảo tâm, các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn xã Cẩm Quý… Đóng góp tiền hoặc mua ủng hộ thêm
đồ dùng, đồ chơi cho các lớp, góp công sức tạo khuôn viên trường / lớp xanh sạch
đẹp, an toàn cho trẻ hoạt động.
Đẩy mạnh việc phối hợp tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt ngay
trong nhà trường và trong gia đình trẻ, phối hợp chặt chẽ với cha mẹ trẻ, thường
xuyên giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt ngay tại gia đình. Đồng thời, có các biện
pháp tuyên truyền để khuyến khích cộng đồng nơi trẻ đang sinh sống tăng cường
giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt
Từ những biện pháp trên sau khi đã tiến hành:
Về đội ngũ giáo viên: Đã có tinh thần tự giác trách nhiệm cao, nhiệt tình;
đã nhận thức sâu sắc thống nhất quan điểm “Cần tạo môi trường tiếng Việt”. một
cách gần gũi thân thiện với trẻ, cần tổ chức cho trẻ hoạt động trong môi trường
tiếng Việt được thiết kế, cho trẻ cùng làm đồ dùng đồ chơi với cô, giáo viên chủ
nhiệm cần chuẩn bị chu đáo cho một chủ đề cụ thể
Với cơ sở vật chất trang thiết bị đồ dùng đồ chơi phục vụ cho từng chủ đề
đã đáp ứng được phần nào cho các hoạt động của trẻ. Bên cạnh đó môi trường
thiên nhiên, cảnh quan sư phạm cũng từng bước được nâng lên.
Lớp mẫu giáo ghép thôn Quang Áo đã áp dụng một số biện pháp phù hợp
vào xây dựng môi trường tiếng Việt ở lớp về từng chủ đề chủ điểm đã thu được
những kết quả tốt. Kết quả đó được thể hiện trong việc chăm sóc giáo dục trẻ
mầm non nói chung và kết quả cô và trẻ cùng tạo môi trường hoạt động, mà nhất
là xây dựng môi trường tiếng Việt ở lớp. Thông qua đó đã giúp trẻ phát triển
nhiều mặt như: Trí tuệ, ý chí, tư duy, thể chất. Đặc biệt là ngôn ngữ
Để phục vụ tốt công tác xây dựng môi trường tiếng Việt trong và ngoài lớp
học được gần gũi, thân thiện nhà trường đã cùng với cha mẹ trẻ, các tổ chức xã
hội đóng góp để mua sắm các đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho nhóm lớp. Tập
thể giáo viên trong nhà trường đã tổ chức làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi ở
từng lớp trong năm học đạt kết quả tốt. Cách xây dựng môi trường tiếng Việt
của từng lớp có nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau, phong phú mang ý
nghĩa giáo dục cao, phù hợp với chủ đề chủ điểm, đồ dùng đồ chơi khá bền đẹp,
sử dụng an toàn.
+ Đối với trẻ:
Trẻ hưởng ứng tốt, hứng thú khi tham gia cùng cô,trẻ mạnh dạn, tự tin, hồn
nhiên, cởi mở trong giao tiếp
Trẻ tích cực tham gia vào hoạt động khám phá, trải nghiệm, lĩnh hội ngôn
ngữ một cách bền vững, chính môi trường hoạt động phong phú đã giúp trẻ chủ
động, tích cực trong việc nêu ý tưởng và hoạt động trải nghiệm, biết chia sẻ, trao
đổi ,hợp tác trong hoạt động, qua đó phát triển các mặt: xúc cảm, tình cảm, giao
tiếp xã hội, ngôn ngữ …
18
Phụ huynh học sinh rất vui mừng được cùng các con sưu tầm họa báo tranh
ảnh, nguyên vật liệu, phế liệu …qua đó tăng cường mối quan hệ kết hợp giữa
gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ
Kết quả cụ thể trong đợt khảo sát lần hai như sau: Tổng số lớp 25 cháu
T
0=0%
2
Trẻ phát âm và trả lời
được bằng Việt
25
13=52%
10=40%
2=0,8%
0=0%
3
Kỹ năng hoạt động
25
17=68%
5=20%
3=12%
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trên thực tế việc chỉ đạo xây dựng môi trường tiếng Việt tại trường, và thực
nghiệm lớp mẫu giáo ghép Thôn Quang Áo, đã đem lại kết quả như trên. Nên
Bản thân tôi đã rút ra những kinh nghiệm như sau:
Quán triệt sâu sắc đến toàn bộ giáo viên trong nhà trường; về các cuộc vận
động và các phong trào như: Cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương
19
đạo đức tự học và sáng tạo.” Và đặc biệt là phong trào “ Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” cùng với chuyên đề: “ Tăng cường tiếng Việt cho
trẻ dân tộc thiểu số”; chuyên đề “ Hướng dẫn thiết kế - Tổ chức hoạt động trong
môi trường giáo dục ở trường Mầm Non”
Nhà trường mầm non cần giáo dục toàn diện lấy việc "thiết kế và xây dựng
môi trường cho trẻ hoạt động” trong đó có môi trường tiếng Việt làm trọng tâm
cho việc tổng kết chuyên đề năm học về “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ
làm trung tâm”. Qua đó nắm vững được kinh nghiệm học tiếng Việt của trẻ về
mỗi chủ đề, chủ điểm để thiết kế môi trường hoạt động phù hợp.
Thường xuyên cung cấp mở rộng vốn kinh nghiệm cho giáo viên qua việc
đi thăm quan học tập kinh nghiệm và rút kinh nghiệm qua mỗi chủ đề. Mở rộng
vốn từ, vốn kinh nghiệm cho trẻ qua các buổi trò chuyện, thảo luận với môi
trường, các buổi tham quan với môi trường ngoài lớp học…
Luôn phối kết hợp với phụ huynh bổ xung nguyên liệu mở để kích thích trẻ
hoạt động, nên sử dụng sản phẩm của trẻ vào việc thiết kế môi trường tiếng Việt,
tạo được càng nhiều cơ hội cho trẻ hoạt động với môi trường càng tốt.
Có được kết quả như trên là do ban giám hiệu nhà trường mầm non và đội
ngũ giáo viên trong nhà trường đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của thiết
kế môi trường hoạt động trong các nhóm lớp. Đã phát triển toàn diện về các mặt
ở trẻ như: Trí tuệ, tư duy, tình cảm, thẩm mỹ…Đặc biệt là ngôn ngữ của trẻ Đấy
mường ở địa phương tôi thì vô cùng mới mẻ và có tác dụng tốt. Tuy nhiên
những nghiên cứu này của tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
được sự góp ý, bổ sung của hội đồng sáng kiến kinh nghiệm các cấp.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Cẩm quý, ngày 20 tháng 03 năm 2018
........................................................
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
........................................................
Người viết sáng kiến kinh nghiệm
.......................................................
......................................................
......................................................
Bùi Thị Hương
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Xây dựng môi trường giáo dục ở lớp mẫu giáo ghép
2- Nghị quyết cải cách giáo dục của Bộ Chính trị
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
1.
Một số biện pháp hướng dẫn
Trẻ làm quen với toán qua các
trò chơi
Phòng
GD&ĐT
Cẩm Thủy
B
2005 - 2006
2.
Một số biện pháp hướng dẫn
giáo viên lớp mẫu giáo 3 tuổi
trò chơi đóng vai theo chủ đề
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
23
Ý KIẾN NHẬN XÉT XẾP LOẠI CỦA HĐKH TRƯỜNG MN CẨM QUÝ
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….
Thống nhất xếp loại : ……………………
24