BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC KINH TẾ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Tên đề tài:
Nghiên cứu đề xuất chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng
giá trị, giảm đầu vào trên địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk
Người thực hiện: Ngô Thị Huệ
GVHD: TS. Tuyết Hoa Niê Kdăm
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Khóa: 2016- 2018
Đắk Lắk 6/2017
Danh mục viết tắt
Stt
1
2
3
4
5
6
Chữ viết tắt
UBND
KHKT
KHCN
TSCĐ
2.2.1. Điểm mạnh......................................................................................................22
2.2.2. Điểm yếu..........................................................................................................23
2.3. Hệ thống cung cấp dịch vụ cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của địa
bàn huyện Krông Năng.................................................................................................24
2.3.1. Mạng lưới cung cấp dịch vụ đầu vào...............................................................24
2.3.2. Mạng lưới thu mua sản phẩm..........................................................................25
2.3.3. Cơ sở chế biến.................................................................................................25
2.3.4. Những hạn chế trong quá trình tiêu thụ nông sản............................................26
2.3.5. Nguyên nhân dẫn đến giá trị nông sản thấp....................................................26
2.3.6. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống cung cấp dịch vụ sản xuất và hệ
thống tiêu thụ sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Krông Năng
................................................................................................................................... 27
Phần III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG GIÁ TRỊ, GIẢM ĐẦU VÀO CHO
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NĂNG...............28
3.1. Bối cảnh tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng giá trị giảm
đầu vào.......................................................................................................................... 28
3.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm thức đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo
hướng tăng giá trị, giảm đầu vào trên địa bàn huyện....................................................29
3.2.1. Giải pháp chung..............................................................................................29
3.2.2. Giải pháp cụ thể..............................................................................................31
Phần IV KẾT LUẬN......................................................................................................33
Phần V TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….34
Danh mục bảng biểu
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Krông Năng
Bảng 2. Diện tích cây hằng năm trên địa bàn huyện Krông Năng
Bảng 3. Sản lượng cây hằng năm trên địa bàn huyện Krông Năng
hồi phục và tăng trưởng cao.
Để đảm bảo được vai trò to lớn của mình đòi hỏi ngành nông nghiệp phải phát
triển cao, với một cơ cấu hợp lý, sử dụng mọi nguồn lực một cách tối ưu nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nền kinh tế
nước ta đã có những thay đổi đáng kể và đạt được nhiều thành tưu. Hiện nay nền nông
nghiệp nước ta không những đáp ứng được nhu cầu lương thực cho đất nước mà còn đáp
ứng xuất khẩu. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nhiều nhất thế
giới về gạo, cà phê, cao su và hạt điều. Tuy nhiên hiện nay trong nền sản xuất nông
nghiệp nước ta vẫn còn rất nhiều những mặt hạn chế. Một trong những hạn chế đó là
việc sản xuất nông nghiệp của nước ta còn sử dụng quá nhiều yếu tố đầu vào vào trong
sản xuất nông nghiệp.
Krông Năng là một huyện nằm ở phía Đông bắc tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm
thành phố Buôn Ma Thuột 50 km theo đường Quốc lộ 29 và Quốc lộ 14. Trung tâm
huyện có tuyến đường Quốc lộ 29 và đường tỉnh lộ 3 đi qua (Krông Năng – EaKar.
Krông Năng với lợi thế có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với nông nghiệp, trong đó có gần 20
ngàn ha đất đỏ bazan, với điều kiện sinh thái khá thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp có
giá trị kinh tế cao, nhất là cây cà phê, cao su, ca cao, hồ tiêu v.v. Trong đó cà phê là loại cây
công nghiệp chủ lực, có diện tích 25.662 héc ta, sản lượng hàng năm đạt trên 50.000 tấn nhân
xô. Mục tiêu đến năm 2020 được huyện Krông Năng đề ra, sản lượng lương thực có hạt đạt
trên 35 nghìn tấn, phấn đấu đạt giá trị trên 80 triệu đồng/ ha canh tác, tăng giá trị sản phẩm
chăn nuôi lên 55%, tỷ lệ lao động trong nông thôn được qua đào tạo nghề chiếm trên 50%,
đẩy nhanh tốc độ cơ giới hóa trong nông nghiệp từ các khâu làm đất, vận chuyển và thu
hoạch. Các ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 63%, công nghiệp - xây dựng chiếm 18%,
dịch vụ chiếm từ 19%. Trong đó Huyện chú trọng phát triển nông nghiệp theo hướng nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp đã được các
địa phương đẩy mạnh. Để hiểu rõ thực trạng về cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện
Krông Năng nên tôi chọn đề tài : “Nghiên cứu đề xuất chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
b. Địa hình.
Địa hình của Krông Năng là địa hình cao nguyên tương đối bằng phẳng, xen kẽ
những đồi thấp lượn sóng, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp; đất đai, khí hậu, thời tiết
khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp hàng hoá, phát triển dịch vụ, du lịch, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành sản xuất kinh doanh.
c. Khí hậu.
Có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm
dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng
ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với
phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.
Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến
hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau, lượng mưa không đáng kể.
d. Về tài nguyên khoáng sản.
Đá xây dựng: Bao gồm có đá bazan và đá granite; đá bazan đã được khai thác ở
khá nhiều điểm, song việc điều tra, quản lý còn nhiều hạn chế, đây là nguồn tài nguyên
khá phong phú trên địa bàn.
Đá granite có rất nhiều ở phía Bắc và Đông bắc tuy vậy điều kiện khai thác còn
khó khăn về giao thông, nhu cầu hiện tại không lớn nên chưa đầu tư khai thác. Sét làm
gạch ngói cũng đã có những kết luận ban đầu về trữ lượng và chất lượng ở một số điểm
nhưng chưa được nghiên cứu đánh giá về giá trị công nghiệp và khả năng khai thác sử
dụng.
Ngoài ra, huyện Krông Năng còn có vàng sa khoáng liên quan đến các trầm tích
hiện đại ở thượng nguồn các suối lớn, tuy nhiên nhìn chung đây là huyện có tiềm năng
khoáng sản không lớn, trên thực tế không phải là thế mạnh trong tương lai của Krông
Năng. Riêng đá xây dựng có thể quy hoạch, quản lý khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng
phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn.
e. Về tài nguyên rừng.
năm qua được thể hiện ở bảng dưới.
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Krông Năng
Stt
2013
2014
2015
So sánh diện tích giữa các năm
Diện tích Diện
Diện
Danh mục
1
2
3
Cây hàng năm
Cây lâu năm
Tổng
(ha)
14,854
31,930
46783.99
tích (ha) tích (ha) 2014/2013
16,668
32,138
48806
2015/2014
102.4
101.3
0
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Sử dụng phương pháp tính tốc độ phát triển liên hoàn để tính toán số liệu bảng 3
ta thấy: Đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện trong ba năm từ 2013- 2015 có
biến động nhẹ. Trong ngành trồng trọt, diện tích đất trồng cây lâu năm là chủ yếu với
12.254 ha, cây hàng năm là 905 ha tại năm 2013 và tăng lên 15.466 ha đối với cây lâu
năm và cây hàng năm 919 ha vào năm 2015.Theo từng năm cơ cấu diện tích thay đổi
mạnh theo chiều hướng tăng lên đối với cây lâu năm năm 2014 tăng 12.2% so với năm
2013 và năm 2015 thì diện tích cây lâu năm giảm xuống do có nhiều nơi trên địa bàn
huyện đã phá cà phê để trồng hồ tiêu, đã làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp
giảm 132 ha .
2.1.2. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
Cây hằng năm được trồng nhiều trên đia bàn huyện chủ yếu như lúa, ngô, khoai
sắn, cây rau đậu. Các cây trồng hàng năm được trồng chủ yếu ở những nơi có địa hình
tương đối bằng phẳng hoặc những nơi đất sình, ven suối và có mốt số ít được trồng xen
trong vườn của các hộ dân.
Bảng 2. Diện tích cây hằng năm trên địa bàn huyện Krông Năng
Stt
2013
2014
+/-
%
2014/2013
2015/2014
1
Lúa
2,231
2,564
2,570
332.7
114.9
6
100.2
2
3
4
96.7
70.4
108.1
59
107
100
48
181.4
-7
93.5
229
213
253
-16
93.0
40
5
-2
0.0
5
0
-8
68.0
-2
88.2
15
463
124.4
154
106.5
2,514
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Sử dụng phương pháp tính Tốc độ phát triển liên hoàn theo phương pháp thống
kê. Khi quan sát bảng 2 ta thấy tất cả các loại cây trồng ngắn ngày đều có sự tăng – giảm
không ổn định. Diện tích cây hàng năm có biến động nhỏ không đáng kể. Có một số loại
cây biến động mạnh như cây ngô, khoai diện tích tăng đều trong giai đoạn 2015/2014
đến 2016/2015. Trong các loại cây hằng năm thì diện tích của cây bông đã không còn
được trồng trên địa bàn huyện. Theo diễn biến thực tế tại địa phương, cứ loại cây trồng
nào cho sản phẩm có giá cao ở năm trước, thì người dân lại ồ ạt gieo trồng loại cây đó
vào năm sau, ngoài cây chủ lực là lúa và ngô thì gần như các cây trồng còn lại người dân
tự phát, trồng với diện tích quy mô nhỏ. Diện tích cây trồng hàng năm có tăng nhẹ và
đều theo từng năm từ năm 2013-2016.
Qua các năm, diện tích của các cây hàng năm có biến động kéo theo đó là sự biến
(Tấn)
Lúa
12475 12,367 16,221
-108
99.1
3854
131.2
Ngô
5956
113.4
891
101.8
44,334 50,290 51,181
Khoai
2125
139.7
-2212
70.4
5,359
7,484
5,272
Sắn
2871
150.8
-1688
80.2
5,656
8,527
6,839
Cây có củ
9
424
17,423
415
0
6
363
16,522
-131
-3
-2
-175
2640
70.8
75.0
0.0
70.8
117.9
97
-9
6
-61
-901
130.5
0.0
suất
suất
suất
trồng
+/%
+/%
(tạ/ha) (tạ/ha) (tạ/ha)
1
Lúa
55.92
48.23
63.12
-7.68
86.26
14.88
130.86
2
Ngô
51.64
54.23
57.10
2.59
105.02
2.87
105.29
3
Khoai
110.95
114.61
114.61
1.47
109.87
7
Bông
5.22
15.00
9.78
287.50
8
Vừng
9
Mía
239.60
249.41
242.00
9.81
104.10
-7.41
97.03
10 Rau, đậu
77.93
73.83
65.72
-4.10
94.74
-8.11
89.02
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Bảng 3 thể hiện năng suất cây trồng hằng năm của huyện, qua bảng cho ta thấy
+/%
+/%
1
3
4
5
6
7
8
Cà Phê
26,012
Cao Su
3,375
Tiêu
1,335
Điều
235
Chè
15
Cây ăn quả
848
Khác
140
25,190
3,370
2,270
-31
793
-3
0
323
2
99.5
99.1
134.9
97.6
100.0
135.1
101.4
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Bảng 5 thể hiện diện tích trồng cây lâu năm, áp dụng theo phương pháp tính trên,
qua bảng 5 cho ta thấy được rõ diện tích của cây trồng lâu năm có biến động , trong đó
biến động mạnh nhất là diện tích trồng tiêu tăng lên còn diện tích trồng cà phê giảm
mạnh. Những năm qua do giá cả của tiêu tăng mạnh nên người dân trên địa bàn huyện ồ
ạt mở rộng diện tích trồng tiêu, gây nên phá vỡ quy hoạch vùng. Diện tích cây ăn quả
tăng lên, biết được giá trị của từng loại cây ăn quả như bơ, sầu riêng nên người dân trên
địa bàn huyện đã trồng xen thêm các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao vao trong
vườn cà phê, tiêu. Các loại cây lâu năm khác thì có biến động nhẹ về diện tích.
Sự biến động về diện tích của cây lâu năm trên địa bàn huyện đã kéo theo sự biến
động về sản lượng của cây lâu năm, cụ thể:
Stt
1595
102.2
75,423
72,397
73,992
Cao Su
-958
77.6
-114
96.6
4,286
3,328
3,214
Tiêu
1030
134.8
784
119.7
2,959
3,989
4,773
Điều
-33
85.5
31
116.0
227
194
225
Chè
Stt
1
3
4
5
6
7
Bảng 7. Năng suất cây trồng lâu năm trên địa bàn huyện Krông Năng
2013
2014
2015
So sánh sản lượng giữa các năm
Năng
Năng
Năng
2015/2014
2014/2013
Tên cây
suất
suất
suất
trồng
+/%
+/%
(tạ/ha)
(tạ/ha)
(tạ/ha)
Cà Phê
Cây ăn quả
132.31
121.96
151.16 -10.35 92.17 29.20 123.94
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Qua bảng số liệu về năng suất cây trồng lâu năm, cho ta thấy được năng suất của
cây trồng theo từng năm có biến động. Trong đó có năng suất của cây cà phê là 28.95 tạ/
ha đến năm 2015 năng suất đã tăng lên 29.51 tạ/ha, năng suất của cây điều là 9.65 tạ/ha
đã tăng lên 18.44 tạ/ ha tăng lên năm 2014 là tăng lên 60.67%, nhờ điều kiện thời tiết
thuận lợi và việc phòng chống bọ xít trên cây điều tốt đã làm cho năng suất cây điều
tăng lên. còn lại các cây trồng lâu năm khác năng suất năm 2014 có giảm so với năm
2013, sang năm 2015 thì năng suất của các cây trồng lâu năm có tăng lên, trong đó có
năng suất của cây chè tăng rất cao. Nhờ áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật và
công nghệ vào trong sản xuất đã góp phần làm tăng năng suất cây trồng lâu năm trên địa
bàn huyện trong những năm qua.
2.1.3. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện
Trên địa bàn huyện, chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ , theo quy mô hộ gia
đình. Trong năm 2016, tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện có dấu hiệu phục hồi tuy
nhiên chưa đồng bộ.
Bảng 8. Số lượng gia súc gia cầm trên địa bàn huyện Krông Năng
Đvt: Con
So sánh
2013
2014
6,833
892
118.6
1133
119.9
Lợn
35,488
34,933
35,927
-555
98.4
994
102.8
Gia cầm
430,960
35927 con năm 2015 giảm xuống còn 27300 con , nguyên nhân phần lớn là do chi phí
chăn nuôi lợn quá lớn, mà giá cả của lợn hơi bấp bênh nên nhiều bà con nông dân đã
chuyển đổi sang chăn nuôi các loại con khác mang lại giá trị kinh tế hơn.
Số lượng gia súc gia cầm trên địa bàn huyện chăn nuôi chủ yếu là để lấy thịt, có
một số ít trâu, bò được dùng làm sức kéo được phân bố tập trung chủ yếu ở những vùng
bằng phẳng trồng lúa nước ở trên địa bàn.
Bảng 9. Sản lượng gia súc gia cầm trên địa bàn huyện Krông Năng
So sánh
2014
2015/2014
Năm
2013
2015
2014/2013
+/%
+/%
Thịt trâu hơi xuất
chuồng (tấn)
Thịt bò hơi xuất
67.00
57.00
74.00
-10
85.1
2652
149.5
-225
97.2
bán (tấn)
1735
1700
1303
-35
98.0
-397
76.6
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Bảng 9 thể hiện sản lượng gia súc gia cầm trên địa bàn huyện, dựa theo số liệu
bảng trên ta thấy được sản lượng gia súc gia cầm có biến động theo từng năm. Cụ thể,
thịt bò hơi tăng mạnh từ 122 tấn năm 2013 đến 7784 tấn năm 2016, thịt lơn hơi thì có xu
110.13
81.17
191.13
Năm 2014
111.24
116.12
227.36
Năm 2015
127
83
210
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Giá trị sản phẩm trên 1 đơn vị diện tích đối với từng loại đất như bảng 8 ta có thể
thấy: Tổng giá trị sản phẩm thu được trên 1 hecta trồng trọt và nuôi trồng thủy sản là
191.13 triệu đồng, tăng lên 227.36 triệu đồng năm 2014 và giảm xuống còn 210 triệu
đồngnăm 2016. Do năm 2016 thời tiết diễn biến thất thường, hạn hán kéo dài và giá cả
của các mặt hàng nông sản lên xuống thất thường dẫn đến giá trị sản phẩm nông nghiệp
giảm Đất trồng trọt có giá trị tăng đều theo từng năm từ 110.13 triệu đồng năm 2013
đến năm 2015 là 127.00 triệu đồng. Đất nuôi trồng thủy sản chủ yếu dọc các con suối,
ao hồ nhỏ và các hồ chứa nước tưới cho cà phê nên sản phẩm thủy sản ở đây chủ yếu là
các loại cá trắm, cá mè, cá rô phi. Những loại cá này có chu kì phát triển phù hợp với
thời tiết cũng như lịch nông vụ nên người dân tận dụng. Tuy nhiên giá trị kinh tế của các
loại cá này không cao, thậm chí thuộc mức thấp so với các loại cá được nuôi trồng ở các
khu vực khác. Vì vậy giá trị sản xuất của đất nuôi trồng thủy sản chỉ đạt ở mức thấp.
0
104.6
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Krông Năng
Qua bảng 11 cho ta thấy giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện có tăng
lên theo từng năm . Cụ thể năm 2013 giá trị sản xuất nông nghiệp là 3,238,053 triệu
đồng đến năm 2014 giá trị sản xuất nông nghiệp là 3,317,385 triệu đồng, giá trị sản xuất
nông nghiệp năm 2014 tăng lên 79,332 triệu đồng và tăng 2.45% so với năm 2013. Năm
2015 giá trị sản xuất nông nghiệp toàn huyện là 3,469,985 triệu đồng, giá trị sản xuất
nông nghiệp tăng lên 152,600 triệu đồng và tăng 4.06% so với năm 2014 .
2.1.5. Chất lượng và chủng loại sản phẩm
Chủng loại sản phẩm nông nghiệp ở huyện rất đa dạng và phong phú. Về trồng
trọt có các cây trồng nông nghiệp chủ yếu của huyện vẫn là cây công nghiệp dài ngày có
giá trị hàng hóa xuất khẩu như cà phê, cao su, điều, ca cao, hồ tiêu, cây ăn quả; cây công
nghiệp ngắn ngày có tiềm năng như bông vải, mía, lạc, đậu tương; cây lương thực và các
loại cây hằng năm như lúa, ngô, khoai, sắn... Trong chăn nuôi chủ yếu của huyện là chăn
nuôi lợn, gà , bò, trâu và một số con lấy thịt khác như thỏ, nhím… và chất lượng của
các sản phẩm nông nghiệp ngày càng được cải tiến, năng suất , sản lượng tăng lên nhờ
áp dụng các loại giống mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản
xuất nông nghiệp đã được các địa phương đẩy mạnh, hình thành được nhiều vùng sản
xuất tập trung có giá trị kinh tế cao như: vùng chuyên canh ngô giống ở xã Tam Giang;
cà phê chè xen canh cao su tiểu điền ở xã Cư Klông, Ea Tân, Ea Tam... Các hình thức tổ
chức sản xuất được đổi mới đa dạng và linh hoạt hơn, lực lượng lao động trong nông
nghiệp được sắp xếp ngày càng hợp lý, giảm lao động trồng trọt, tăng lao động ngành
nghề, dịch vụ, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
nông nghiệp.
Lực lượng cán bộ khuyến nông ở địa phương ngày càng được củng cố về số
lượng và chất lượng, bên cạnh đó huyện đã tổ chức rất nhiều các chương trình nhằm trau
dồi thêm kiến thức cho đội ngũ cán bộ để họ có thể hỗ trợ cho người nông dân một cách
tốt nhất.
Đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Người dân đã biết và tiếp thu
những cái mới trong sản xuất nông nghiệp, họ đã biết được sự quan trọng của máy móc,
của các sản phẩm sinh hóa khi áp dụng một cách hợp lý vào sản xuất nông nghiệp thì lợi
ích mạng lại sẽ rất cao.
2.2.2. Điểm yếu
Khí hậu phân hoá theo mùa, gây nên tình trạng thiếu nước về mùa khô, gây ảnh
hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.
Đối với các vùng đất dốc, địa hình bị phân cắt mạnh hiện tượng xói mòn rửa trôi
đang diễn ra nghiêm trọng, cần đặc biệt chú trọng các biện pháp canh tác thích hợp cho
đất đồi, chú ý bảo vệ thảm thực vật rừng, đẩy mạnh mô hình sản xuất nông - lâm kết
hợp.
Tài nguyên đất đã khai thác trong nhiều năm nên khả năng mở rộng diện tích đất
canh tác rất khó khăn, do đó đối với việc phát triển kinh tế đầu tư theo chiều sâu bằng
các biện pháp thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất là yếu tố quyết
định cho sự phát triển của địa bàn.
Nền kinh tế còn tiềm ẩn nhiều yếu tố không ổn định, thiếu bền vững do phụ thuộc
phần lớn vào đầu tư từ ngân sách nhà nước, chưa gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế với lao
động.
Lực lượng lao động dồi dào nhưng lao động ở đây có trình độ phổ thông không
được đào tạo bài bản, suy nghĩ của họ khá đơn giản chỉ biết làm theo những khuôn mẫu
có sẵn trong các khâu sản xuất, họ không có những ý kiến, sáng kiến gì trong quá trình
làm việc mặc dù họ là những người lao động trực tiếp và là những người hiểu về cây
trồng, vật nuôi nhất.
Thường xuyên có các lớp tập huấn, hội thảo thuốc bảo vệ thực vật, dự báo về tình
hình sâu bệnh hại trên cây trồng để nông dân chủ động và kịp thời xử lý , hạn chế sâu
bệnh hại trên cây trồng
Trong chăn nuôi, đã thực hiện các phương án chủ động phòng chống dịch bệnh trên
gia súc gia cầm. Tiếp tục khuyến khích đầu tư đảm bảo các điều kiện về giống, kỹ thuật,
an toàn dịch bệnh, đồng thời từng bước chủ động nguồn thức ăn và các điều kiện cần thiết
khác để phát triển chăn nuôi theo hướng hiệu quả, an toàn vệ sinh thực phẩm
2.3.2. Mạng lưới thu mua sản phẩm
Từ những bảng số liệu trên chúng ta thấy được sản lượng sản phẩm nông nghiệp
tại địa bàn huyện Krông Năng là khá cao nhưng mạng lưới thu mua còn rất lỏng lẻo
không có hệ thống, đa phần người dân vẫn chưa chịu ký các hợp đồng cụ thể về tiêu thụ
sản phẩm, họ chỉ thấy nơi nào thuận tiện cho mình họ sẽ bán cho nơi đó vì vậy nên tiêu
thụ sản phẩm vẫn phụ thuộc rất nhiều vào các lái buôn, người buôn bán nhỏ lẻ. Giá trị
sản xuất ngành nông nghiệp tăng lên qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng có xu hướng
giảm dần. Thực tế cho thấy giá cả tác động rất lớn đến giá trị sản phẩm nông sản như cà
phê, hồ tiêu. Những năm qua người trồng các loại cây trồng này cả nước bị ảnh hưởng
rất lớn từ giá cả.
2.3.3. Cơ sở chế biến
Hiện nay trên địa bàn huyện đã hình thành các cơ sở chế biến các sản phẩm chủ
yếu từ gỗ và sản xuất đồ mộc như HTX nông nghiệp Ea Dah và dự án xây dựng nhà máy
chế biến tinh bột sắn. Huyện đang tiếp tục kêu gọi các doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh
đầu tư thực hiện dự án xây dựng nhà máy chế biến phân bón từ rác thải và phế phẩm nông
nghiệp…Với việc hình thành CCN Ea Dah, Krông Năng kỳ vọng sẽ tạo cú hích cho sản
xuất CN của địa phương, tận dụng nguồn nguyên vật liệu, lao động sẵn có, qua đó vực dậy
kinh tế các xã cánh đông của huyện.
2.3.4. Những hạn chế trong quá trình tiêu thụ nông sản
Trên địa bàn huyện hiện nay chỉ các các doanh nghiệp nhỏ lẻ thu mua nông sản
như cà phê, tiêu. Chưa có các công ty lớn thu mua chế biến sản phẩm nông sản, vì vậy sản