TÌNH HÌNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT MỘT SỐ LOẠI RAU ĂN LÁ VỤ ĐÔNG XUÂN 2010 – 2011 TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT
MỘT SỐ LOẠI RAU ĂN LÁ VỤ ĐÔNG XUÂN 2010 – 2011
TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN VỊ QUỐC
Ngành
: BẢO VỆ THỰC VẬT
Niên khóa
: 2007 – 2011

TP. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2011
1


TÌNH HÌNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT NÔNG NGHIỆP TRONG SẢN XUẤT
MỘT SỐ LOẠI RAU ĂN LÁ VỤ ĐÔNG XUÂN 2010 – 2011
TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH

Tác giả
NGUYỄN VỊ QUỐC

Luận văn tốt nghiệp được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư
ngành Bảo vệ Thực vật

Giáo viên hướng dẫn:

3


TÓM TẮT
Nguyễn Vị Quốc, tháng 7 năm 2011. “Tình hình sử dụng hóa chất nông nghiệp
trong sản xuất một số loại rau ăn lá vụ Đông Xuân 2010 – 2011 tại huyện Bình Chánh,
thành phố Hồ Chí Minh”, đề tài được tiến hành từ ngày 15 tháng 2 năm 2011 đến ngày 15
tháng 6 năm 2011, trên 3 loại rau ăn lá Rau dền, cải xanh và hành lá tại huyện Bình
Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả điều tra ghi nhận:
Lao động chính chủ yếu là nam giới chiếm 72%. Số lao động chính đa số nằm
trong độ tuổi 41 – 50 (42 người) và 51 đến 60 tuổi (35 người). Trình độ học vấn của
những người được phỏng vấn chủ yếu là cấp 2 (57 người). Có 50 người có kinh nghiệm
trồng rau từ 8 – 15 năm. Diện tích canh tác phổ biến nhất là 208,5 – 311,6 m2 chiếm 37%.
Có 92 hộ cơ giới hóa khâu làm đất, 82 hộ tiến hành phơi ải. 70 hộ sử dụng giống
mua có nguồn gốc rõ ràng. 22 hộ tiến hành xử lý thuốc kiến đối với hạt giống trước khi
gieo trồng.
Công thức bón lót phổ biến tại các hộ điều tra là phân chuồng + super lân (100%),
trong đó có 25 hộ trồng hành lá kết hợp thêm kali để bón lót. Đa số các hộ bón lót theo
kinh nghiệm không theo khuyến cáo.
Có 4 loại phân vô cơ dùng để bón thúc cho rau dền, hành lá và cải là urea (66 hộ sử
dụng); kali (44 hộ sử dụng); NPK 20 – 20 – 15 (41 hộ sử dụng); NPK 16 – 16 – 8 (26 hộ
sử dụng). Trên rau dền có 8 hộ sử dụng urea quá liều lượng khuyến cáo (400 – 450
kg.ha-1). Trên hành lá có 7 hộ sử dụng urea quá liều lượng khuyến cáo (50 – 60 kg.ha-1);
có 14 hộ sử dụng kali quá liều lượng khuyến cáo. Trên cải xanh có 4 hộ sử dụng NPK 20
– 20 – 15 quá liều lượng khuyến cáo.
Có 5 loại phân bón lá được sử dụng tại các hộ điều tra. Trong đó được sử dụng phổ
biến nhất là phân bón lá Đầu trâu 005 (43 hộ sử dụng).
Có 5 loại thuốc trị bệnh được sử dụng tai các hộ điều tra, trong đó Antracol 70WP
được sử dụng nhiều nhất (42 hộ sử dụng). Có 16 loại thuốc trừ sâu được sử dụng, trong đó

Tóm tắt

iii

Mục lục

v

Danh sách các hình

viii

Danh sách các bảng

ix

Danh sách các chữ viết tắt

xi

Chương 1 Mở đầu

1

1.1 Đặt vấn đề

1

1.2 Mục đích và yêu cầu


2.1.2.1 Phân loại theo đặc tính thực vật học

3

2.1.2.2 Phân loại theo bộ phân sử dụng

4

2.1.2.3 Phân loại theo phương pháp sinh học nông nghiệp

4

2.1.3 Giới thiệu về cây rau ăn lá được chọn điều tra

6

2.1.3.1 Rau dền

7

2.1.3.2 Cây hành ta

7

2.1.3.3 Cải xanh

9

2.1.4 Sâu bệnh hại thường gặp trên rau ăn lá


17

2.2 Tình hình sử dụng hóa chất nông nghiệp hiện nay

18

2.2.1 Một số khuyến cáo sử dụng HCNN khi trồng rau an toàn

18

2.2.1.1 Về phân bón

18

2.2.1.2 Về thuốc bảo vệ thực vật

20

2.2.2 Vấn đề lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong SXNN

21

2.2.2 Tình hình sử dụng phân bón lá ở nước ta

22

2.3 Sơ lược về khí hậu thành phố Hồ Chí Minh

23


28

3.6 Xử lý số liệu

28

Chương 4 Kết quả và thảo luận

29

4.1 Về kinh tế, xã hội các hộ điều tra

29

4.2 Kỹ thuật canh tác

31

4.3 Tình hình sử dụng phân bón

33

4.3.1 Tình hình sử dụng phân bón trên rau dền

33

4.3.2 Tình hình sử dụng phân bón trên hành lá

35


Chương 5 Kết luận và đề nghị

51

5.1 Kết luận

51

5.2 Đề nghị

52

Tài liệu tham khảo

53

Phụ lục

54

8


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ huyện Bình Chánh

26

9



Bảng 4.6 Phương pháp làm đất của các hộ điều tra

32

Bảng 4.7 Cách xử lý giống ở các hộ điều tra

32

Bảng 4.8 Cách xuống giống ở các hộ điều tra

33

Bảng 4.9 Bón lót phân chuồng cho rau dền

33

Bảng 4.10 Bón lót phân super lân cho rau dền

34

Bảng 4.11 Bón thúc phân urea cho rau dền

34

Bảng 4.12 Các loại phân bón lá được sử dụng trên rau dền

35

Bảng 4.13 Bón lót phân chuồng cho hành lá


Bảng 4.21 Bón thúc đợt 2 cho hành lá (tt)

38

Bảng 4.22 Bón thúc đợt 3 cho hành lá

39
10


Bảng 4.23 Bón thúc đợt 3 cho hành lá (tt)

39

Bảng 4.24 Bón thúc đợt 3 cho hành lá (tt)

39

Bảng 4.25 Các loại phân bón lá sử dụng trên hành lá

40

Bảng 4.26 Bón lót phân chuồng trên cải xanh

40

Bảng 4.27 Bón lót super lân trên cải xanh

41


44

Bảng 4.36 Biện pháp quản lý cỏ dại

44

Bảng 4.37 Tình hình bệnh hại trên hành lá

45

Bảng 4.38 Các loại thuốc trị bệnh sử dụng trên hành lá

45

Bảng 4.39 Tình hình sâu hại trên hành lá

45

Bảng 4.40 Các loại thuốc trừ sâu sử dụng trên hành lá

46

Bảng 4.41 Bệnh hại trên cải xanh

46

Bảng 4.42 Thuốc trừ bệnh sử dụng trên cải xanh

47

EU: Liên minh châu Âu
HCNN: Hóa chất Nông nghiệp
MRL: Giới hạn dư lượng tối đa
NN – PTNT: Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn
NXB: Nhà xuất bản
SXNN: Sản xuất nông nghiệp

12


Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Rau giữ một vai trò quan trọng trong chế độ dinh dưỡng của con người. Do lượng
protid và lipid trong rau tươi không đáng kể (dao động từ 0,5 – 1,5%) rau cung cấp cho cơ
thể nhiều muối khoáng có tính kiềm (kali, canxi, magiê), các vitamin, axit hữu cơ. Trong
rau tươi có các loại đường đơn dễ hấp thu, tinh bột, xenluloza và các chất pectin. Ngoài
ra, rau tươi còn ảnh hưởng tốt đến quá trình tiêu hóa và kích thích sự thèm ăn.
Bên cạnh những giá trị dinh dưỡng, cây rau còn mang lại những lợi ích về kinh tế
cho nông dân cũng như đóng góp vào tổng thu nhập của đất nước. Theo Tấn Trực (2010),
trồng rau muống cho thu nhập cao tại Phú Yên; theo Chu Trinh (2010), người trồng rau
diếp cá ở Tiền Giang có thu nhập 300 triệu đồng.ha-1. Về xuất khẩu, ước tính trong tháng
12 năm 2010, xuất khẩu rau hoa quả đạt 48 triệu USD, tăng 1,3% so với cùng kỳ 2009,
nâng tổng kim ngạch cả năm lên 471,5 triệu USD, tăng 7,4% so với năm 2009. Các thị
trường đạt kim ngạch cao nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Nga và Hoa Kỳ (chiếm
59,5% tổng kim ngạch).
Trước nhu cầu lớn của thị trường trong cũng như ngoài nước, việc thúc đẩy gia
tăng năng suất, sản lượng là cần thiết và hết sức quan trọng. Đi liền với việc tăng năng
suất, sản lượng là sử dụng hóa chất nông nghiệp để phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất,
kéo dài thời gian bảo quản. Tuy nhiên hiện nay, với việc chạy theo lợi nhuận trước mắt

Xuân 2010 – 2011 tại Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh.

14


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về cây rau
2.1.1 Khái niệm
Rau là tên gọi chung của các loại cây thường thuộc loại thân cỏ, có thể làm thức ăn
cho người (Từ điển Tiếng Việt, 1992).
Rau là cây trồng thân thảo, hàng năm hay lưu niên, trồng để lấy toàn cây hay một
bộ phận làm thức ăn, thường thu hoạch xanh trước khi thành thục, phân biệt với các loại
cây hạt cốc, đỗ đậu và cây ăn quả lâu năm (Từ điển Bách khoa Nông nghiệp, 1991).
2.1.2 Phân loại cây rau
2.1.2.1 Phân loại theo đặc tính thực vật học
Đây là phương pháp phân loại thông dụng nhất và dựa vào đặc điểm thực vật học
của rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt, và quan hệ họ hàng giữa chúng mà phân loại thành: Bộ, họ,
giống, loài. Trong các chủng loại rau thì phần lớn thuộc họ thực vật bậc cao, ngành hạt
kín, có 5 họ thuộc cây 1 lá mầm, 20 họ thuộc cây 2 lá mầm và các loài rau trồng phổ biến
tập trung ở các họ này (Phạm Hữu Nguyên, 2010).
 Lớp thực vật hạ đẳng
+ Họ nấm tán – Agricaceae (nấm rơm – Volvaria esculenta)
+ Họ mộc nhĩ – Aurieulariaceae (nấm mèo – Auricularia)
 Lớp thực vật thượng đẳng
+ Lớp phụ đơn tử diệp (cây 1 lá mầm)
 Họ hòa bản – Gramineae (bắp rau – Zea mays)
 Họ bạch huệ – Liliaceae (hành ta – Allium fistulosum L.)
+ Lớp phụ song tử diệp (cây 2 lá mầm)
 Họ thập tự – Crucifereae (cải bắp – Brassia oleracae var. capitata)

khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên. Hiện nay, phương pháp này được
16


coi là phương pháp hoàn chỉnh nhất, phù hợp với yêu cầu sản xuất (Phạm Hữu Nguyên,
2010).
a. Rau ăn rễ củ
Cây đại diện: cải củ, cà rốt
Dùng hạt để gieo trồng, yêu cầu điều kiện khí hậu ôn hòa. Bộ phận sử dụng chủ
yếu là rễ phình to, thời kì đầu rễ còn nhỏ, tốc độ rễ phát triển chậm, khi chuyển sang giai
đoạn sinh trưởng, sinh dưỡng tích lũy thì cây phát triển mạnh. Muốn cây ra hoa kết quả
tốt, đòi hỏi nhiệt độ thấp, ẩm độ đất cao và thời gian chiếu sáng dài.
b. Rau ăn lá
Có 2 nhóm:
- Nhóm ưa khí hậu ôn hòa: cải bắp, cải thảo, xà lách cuốn, cải bẹ trắng. Nhóm rau
này dùng hạt để sản xuất, chúng thuộc loại rau 2 năm. Trong thời gian sinh trưởng, cây
yêu cầu ẩm ướt và nhiệt độ thấp để thông qua giai đoạn xuân hóa và yêu cầu thời gian
chiếu sáng ngày dài để thông qua giai đoạn ánh sáng.
- Nhóm ưa nhiệt độ cao: rau muống, rau dền, mồng tơi. Thuộc loại rau 1 năm, yêu
cầu ánh sáng không nghiêm ngặt, bộ phận sử dụng chủ yếu là thân lá non mềm.
c. Loại cà
Cây đại diện: cà chua, ớt
Yêu cầu khí hậu ôn hòa ấm áp, không chịu được rét, thời vụ chính là Đông Xuân,
Xuân Hè và đòi hỏi chế độ luân canh triệt để.
d. Loại đậu
Cây đại diện: đậu cô ve, đậu đũa
Bộ phận sử dụng chủ yếu là quả non, yêu cầu điều kiện chiếu sáng không nghiêm
khắc, không chịu được nhiệt độ cao, vì vậy vụ Đông Xuân gieo trồng thuận lợi hơn vụ
Xuân Hè. Cần lưu ý rằng, phần lớn các cây thuộc họ này có khả năng cố định được đạm
khí trời, do vậy ở các giai đoạn sau cần phải giảm lượng đạm bón cho cây.

Rau ăn lá có nhiều loài được xếp trong nhiều họ thực vật khác nhau như: họ bạch
huệ, họ thập tự, họ hoa tán, họ dền, họ húng, họ cúc và một số loại khác như: lá dang, rau
răm, rau đay, bồ ngót. Những loại rau này xuất hiện thường xuyên trong bữa cơm hàng
ngày của người dân, nhưng mức độ an toàn của rau là một nghi vấn khi mà hiện nay vấn
để lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp để bảo vệ năng suất ngày càng phổ biến. Để có
18


những số liệu chính xác và điển hình cần chọn điều tra những loại rau có mức độ sử dụng
hóa chất cao, những loại rau điển hình cho vùng trồng rau Bình Chánh, và đó là lí do đề
tài được thực hiện trên tra trên 3 loại rau: rau cải, rau dền, hành lá.
2.1.3.1 Rau dền
Rau dền thuộc bộ cẩm chướng (Caryophyllales), họ dền (Amaranthaceae) là loại
rau mùa hè, nó có bộ rễ rất khỏe, ăn sâu vì vậy chịu hạn và chịu nước tốt. Hạt rau dền
nhỏ, vỏ sừng nên giữ được sức nảy mầm rất lâu kể cả khi bị vùi sâu trong đất.
Yêu cầu ngoại cảnh: Rau dền phát triển tốt ở nhiệt độ 25 – 30oC kết hợp với độ ẩm
không khí và độ ẩm đất cao cho nên nhiều cành lá, ít sâu bệnh phá hoại do sức chống sâu
bệnh của cây khỏe.
Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc (Hạ Vân, 2004)
Gieo hạt từ tháng 2 đến tháng 7, khi cây con được 25 – 30 ngày với độ cao từ 10 –
15cm thì nhổ cấy. Hạt dền rất nhỏ nên cần làm đất kỹ, trộn hạt với tro bếp để gieo cho
đều. Đất trồng cần bón lót 3 – 4 tạ phân chuồng trên 1 sào, lên luống rộng 0,9 – 1 m.
Khoảng cách trồng 15 x 15 cm nếu thu hoạch một lần và 30 x 30 cm nếu hái tỉa. Khi cây
hồi xanh có thể bón thúc bằng nước giải hoặc nước phân chuồng pha loãng.
Sau khi trồng 25 – 30 ngày cây sẽ cho thu hoạch, thông thường nhổ cả cây, nếu hái
tỉa thì dùng dao cắt ngang cây cách gốc 7 – 10 cm để sau cây ra nhánh lại thu hoạch. Rau
dền ít bị sâu bệnh, chủ yếu là bị các loại sâu ăn lá: sâu róm, sâu xanh.
Tháng 6 dền ra hoa đậu quả, tháng 7 thu hoạch hạt. Cắt cả cây đem về để héo 3
ngày, sau đó đem phơi khô và vò lấy hạt, làm sạch chọn những hạt có màu đen nhánh để
làm giống.

khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 10. Đến mùa thu, trời khô hanh, hành ra hoa.
+ Gieo hạt: Trong các tháng 1 – 2. Trên 1m2 gieo 4 – 5 gam hạt. Gieo hạt xong,
phủ rạ, trấu lên. Tưới nước, giữ ẩm thường xuyên. 7 – 10 ngày sau, hành mọc mầm. Thời
gian này, nếu có sương muối, cần làm mái che cho hành. Sau 45 – 50 ngày nhổ cây để
trồng.
+ Trồng: Đất được làm tơi như đối với hành củ. Khi trồng chú ý cắt bớt 1 phần rễ
và ngọn lá. Khoảng cách trồng là 10 x 10 (cm). Sau khi trồng tưới nước đủ ẩm. Có thể kết
20


hợp với bón thúc bằng cách tưới nước phân hữu cơ pha loãng hoặc phân đạm pha vào
nước.
+ Thu hoạch: Sau khi trồng hơn 1 tháng là thu hoạch. Có thể nhổ tỉa bằng cách
tách nhóm để thu nhiều lần, hoặc nhổ luôn 1 lần. Năng suất trung bình là 13 – 15 (tấn/ha).
+ Để giống: Hành được thụ phấn nhờ côn trùng do vách bầu có tuyến mật nên thu
hút côn trùng. Hoa hành ra vào tháng 8, tháng 9. Nếu gặp mưa và thiếu côn trùng hoa
hành khó thụ phấn. Có thể sử dụng ong mật để thụ phấn.
2.1.3.3 Cải xanh (Brassica juncea L.)
Cải xanh thuộc họ thập tự (Brassicaceae) là loại rau ăn lá ngắn ngày, có thể trồng
quanh năm, được trồng phổ biến ở nhiều nơi. Tuy nhiên, cải xanh lại dễ gây ngộ độc cho
người tiêu dùng bởi nhiều sâu bệnh hại khó trừ, thời gian sinh trưởng ngắn mà phần lớn
các thuốc hóa học lại có thời gian cách ly dài trong khi thuốc vi sinh và điều hòa sinh
trưởng kém tác dụng với một số sâu. Hơn nữa, nông dân hòa phân đạm tưới nhiều lần để
cây sinh trưởng nhanh. Đó chính là nguyên nhân khiến dư lượng thuốc trừ sâu và dư
lượng nitrat thường cao ở loại rau này và dẫn đến tình trạng ngộ độc cho người tiêu dùng.
Quy trình gieo trồng và chăm sóc
- Làm đất: Chọn đất cát pha, thịt nhẹ tơi xốp, giàu dinh dưỡng, độ pH 6,0 – 6,5, tỷ
lệ mùn 1,5% trở lên, gần nguồn nước tưới tiêu, xa khu công nghiệp, nơi dễ gây ô nhiễm
đất, không khí. Ðất được luân canh triệt để, cày bừa kỹ, vệ sinh đồng ruộng. Lên luống
rộng 1,0 – 1,2 m, cao 20 – 25 cm, rãnh rộng 30 – 40 cm.

2.1.4.1 Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua)
Họ: Noctuidae
Bộ: Lepidoptera
Triệu chứng
Sâu xanh da láng là một loài sâu đa thực, ngoài cây hành chúng còn gây hại khá
nhiều loại cây trồng khác thuộc họ đậu đỗ, họ bầu bí, họ thập tự, họ cà, cây bông vải, cây
bắp, cây nho vì thế việc phòng trị chúng vốn đã khó (vì loài này kháng thuốc rất nhanh)
lại càng khó hơn. Sâu non ăn lá, lúc nhỏ chừa lại biểu bì, sâu tuổi lớn ăn thủng lỗ trên lá,
không hình dạng, mật độ sâu cao có thể làm ảnh hưởng đến năng suất.
Thiên địch
+ Nhóm ký sinh có 2 loài ong kén nhỏ thuộc họ Braconidae
22


+ Loài ruồi thuộc họ Tachinidae.
Một số biện pháp phòng trừ (Chi cục BVTV TP. HCM)
+ Biện pháp canh tác
- Cày ải phơi ruộng để diệt sâu và nhộng.
- Vệ sinh đồng ruộng hủy bỏ tàn dư cây trồng.
- Mật độ trồng thích hợp.
- Bón phân cân đối hợp lý cũng là biện pháp hạn chế bớt sâu bệnh phát
triển.
+ Biện pháp cơ học
Ở những thửa ruộng nhỏ có thể ngắt bỏ ổ trứng và thu sâu non khi sâu non đang
sống tập trung quanh ổ.
+ Biện pháp hóa học
Dùng chế phẩm NPV đặc hiệu trừ sâu xanh da láng có hiệu quả cao. Nên kết hợp
dùng thuốc thảo mộc Rotenone hay Azadirachtin. Thuốc vi sinh như: Biocin 16WP;
Olong 55WP; Biocin 8000SC; Vi-BT; Xentari 15FC; Delfin WG. Ngoài ra có thể dùng
các loại thuốc nhóm Pyrethroid, Abamectin. Lưu ý dùng luân phiên thuốc.

thuốc thảo mộc như Rotenone hoặc Neem. Có thể dùng thuốc gốc Cúc tổng hợp như
Karate 2.5 EC (Lambda – Cyhalothrin) , SecSaigon 5 EC (Cypermethrin).
2.1.4.3 Ruồi đục lá (dòi đục lá) (Lyriomyza sp.)
Họ: Agromyzidae
Bộ: Diptera
Triệu chứng
Dòi đục lá còn được gọi là sâu vẽ bùa, đây là loài dịch hại gây hại nặng trên cây cà
chua, dưa, bầu bí, đậu đỗ. Ấu trùng dòi đục lá đục vào trong lá ăn mô lá, chừa lại biểu bì
tạo ra những đường ngoằn ngoèo trên lá.
Thiên địch
+ Thiên địch ăn mồi: Loài ruồi ăn dòi có vai trò quan trọng hạn chế dòi đục lá.
+ Nhóm ong ký sinh: Encarsia formosa, Dacnusa sibirica, Opium pallipes, và
Diglyphus isaea

24


Biện pháp phòng trừ (Chi cục BVTV TP. HCM)
+ Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, dọn dẹp các loài cỏ lá rộng (ký chủ
phụ) một tháng trước khi trồng, gieo cấy đồng loạt.
+ Biện pháp sinh học: Dòi đục lá có nhiều loại ký sinh, nên theo dõi mật độ và tỷ
lệ lá bị hại trước khi sử dụng thuốc hóa học.
+ Biện pháp hóa học: Khi tỷ lệ lá bị hại lớn hơn hoặc bằng 30% hoặc có 5 – 10 con
trưởng thành/cây, có thể sử dụng các loại thuốc Ofunack (Pyridaphenthion) Polytrin
(Cypermethrin + Profenofos).
2.1.4.4 Sâu tơ (Plutella xylostella)
Họ: Yponomeutidae
Bộ: Thysanoptera
Triệu chứng
Sâu tơ chỉ gây hại các cây thuộc họ cải. Sâu non ăn lá, khi mật số sâu tơ cao ăn tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status