VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN QUANG NĂM
TRANG PHỤC CỦA NGƢỜI Ê ĐÊ Ở XÃ EATU,
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
HÀ NỘI - 2018
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN QUANG NĂM
TRANG PHỤC CỦA NGƢỜI Ê ĐÊ Ở XÃ EATU,
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Ngành: Dân tộc học
Mã số: 8 31 03 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ MAI LAN
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Bảo tàng tỉnh nơi tác giả
công tác đã tạo điều kiện thuận lời về mọi mặt để tác giả yên tâm học tập,
nghiên cứu.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất sự giúp đỡ quý báu
của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Ea Tu, Ban tự quản
hai buôn: Buôn Kmrơˇng Prŏng A và nhất là bà con Ê Đê nơi tác giả đến
nghiên cứu và điền dã, sự giúp đỡ nhiệt tình cũng như cung cấp thông tin
cho tác giả để hoàn thành luận văn.
Sau cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người thân trong
gia đình cũng như đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện thời gian,
vật chất cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Quang Năm
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết thƣờng
NxB
Nhà xuất bản
Tr
1.1.3. Lý thuyết nghiên cứu
11
1.2. Khái quát về thành phố Buôn Ma Thuột và tộc ngƣời nghiên cứu
12
1.2.1. Khái quát về Ďịa bàn nghiên cứu
12
1.2.2. Khái quát lịch sử tộc người
14
1.2.2.1. Một số đặc điểm kinh tế của người Ê Đê
16
1.2.2.2. Một số đặc điểm xã hội của người Ê Đê
18
1.2.2.3. Một số đặc điểm văn hóa của người Ê Đê
19
Tiểu kết Chương 1
36
2.2.2. Y phục lễ hội, lễ cư i, lễ tang
37
2.2.3. Y phục trẻ em
42
2.2.4. Y phục thầy cúng
43
2.2.5. Y phục thầy xử kiện
45
2.2.6. Y phục tù trưởng
46
2.2.7. Đồ trang sức
47
2.3. Những giá trị văn hóa tộc ngƣời thể hiện qua trang phục truyền thống
6
3.1.1. Biến Ďổi trong chất liệu, màu sắc
57
3.1.2. Biến Ďổi trong công cụ tạo sản phẩm
58
3.1.3. Biến Ďổi trong loại hình sản phẩm
59
3.1.4. Biến Ďổi trong nghệ thuật trang trí
60
3.1.5. Xu hư ng biến Ďổi của trang phục
60
3.2. Nguyên nhân của sự biến đổi
62
3.2.1. Tác Ďộng của việc giao lưu tiếp biến văn hoá
62
3.2.2. Tác Ďộng của sự phát tri n kinh tế
74
Tiểu kết chƣơng 3
75
KẾT LUẬN
77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
PHỤ LỤC
85
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nhắc đến văn hóa tộc người ở Tây Nguyên chắc hẳn chúng ta đều nghĩ ngay
tới một số tộc người tiêu biểu như: người Ê Đê, người Mnông, người Gia Rai,
Ba Na hay Xê Đăng…Các tộc người này mang những đặc trưng, bản sắc văn
hóa riêng, phong phú và đa dạng trong đó phải kể đến tộc người Ê Đê. Người Ê
Đê là một trong 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, cư trú và sinh sống lâu đời ở tỉnh
Đắk Lắk. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2016, người Ê Đê ở
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ
hiện nay, những giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa vật chất đang
ngày bị mai một, đặc biệt là trang phục. Chính vì thế việc nghiên cứu về trang
phục nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là rất cấp thiết. Bởi
lẽ, trang phục là một trong những dấu hiệu quan trọng thể hiện đặc trưng văn
hóa và bản sắc văn hóa. Trang phục dề bị tác động, biến đổi và mai một , nhất là
trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ
trong cả nước nói chung và ở khu vực Tây Nguyên nói riêng. Nghiên cứu về
trang phục nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, làm cơ sở cho việc xây dựng
và thực hiện các chính sách văn hóa.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn vấn đề “Trang phục của người Ê Đê ở
xã EaTu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” để làm đề tài luận văn
Thạc sĩ.
2 T nh h nh nghiên cứu đề tài
Cũng như các dân tộc ít người khác sinh sống trên nhiều vùng miền khác
nhau của đất nước Việt Nam, người Ê Đê là một trong những dân tộc thiểu số có
nền văn hóa lâu đời và đặc sắc, điều này được thể hiện qua nhiều yếu tố như
phong tục, tập quán, nghi lễ, lễ hội của tộc người và nhất là qua trang phục. Đây
cũng là yếu tố chính thể hiện sự khác biệt giữa dân tộc này với các dân tộc khác.
Từ hơn một thế kỷ qua, người Ê Đê ở Việt Nam đã được các nhà khoa học và
quản lý văn hóa xã hội quan tâm nghiên cứu. Đến nay, nhiều công trình nghiên
cứu về người Ê Đê đã được xuất bản. Các công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học được công bố trên sách báo cũng như các tạp chí đã nêu bật được tổng
thể bức tranh văn hóa của người Ê Đê về văn hoá vật chất cũng như văn hoá tinh
thần, trong đó có trang phục. Trong giới hạn của nội dung luận văn, chúng tôi
chỉ tập trung tổng quan các công trình có liên quan đến trang phục truyền thống
của người Ê Đê nói chung.
Công trình Đại cương về các dân tộc Ê Đê, Mnông ở Đắk Lắk do tác giả
Bế Viết Đẳng chủ biên, xuất bản năm 1982, là kết quả nghiên cứu trong khoảng
9
Hà Nội, tr 198-205.
1
2
Nhà Xuất bản Văn hóa dân tộc, 1996
10
Cuốn sách Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam, tác giả Ngô Đức
Thịnh (1991) cũng đã mô tả tóm lược trang phục của người Ê Đê bao gồm trang
phục nam và trang phục nữ, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu các mô típ hoa văn
và trang phục của trẻ em. [ 41].
Trong cuốn Những mảng m u văn hóa Tây
guyên, tác giả Ngô Đức
Thịnh (2007) đã mô tả ngắn gọn về các loại áo, khố của người Ê Đê. Tác giả đã
nêu ra ý kiến “trang phục người Ê Đê cơ bản đã như người Kinh”, nhưng chưa
đi sâu nghiên cứu về trang phục truyền thống của họ. [43].
Trong cuốn Văn hóa, văn hóa tộc người v văn hóa Việt Nam, tác giả
Ngô Đức Thịnh (2006) đã nêu lên được một số đặc trưng cơ bản của trang phục
Tây Nguyên trong đó có người Ê Đê nhưng chưa đi sâu nghiên cứu về các công
đoạn tạo ra trang phục. [42]
Tác giả Chu Thái Sơn chủ biên cuốn Hoa văn cổ truyền Đắk Lắk (2000)
đã đề cập khá chi tiết các họa tiết hoa văn và các loại hình hoa văn của người Ê
Đê và Mnông được trang trí trên các vật dụng hằng ngày, trên kiến trúc nhà dài
hay trên các đồ đan bằng mây tre… Tuy nhiên tác giả cũng không đề cập đến
các công đoạn tạo ra vải và các loại hình trang sức của người Ê Đê.
số ở Đắk Lắk trong đó có trang phục của người Ê Đê, nhưng bài viết mới chỉ
mang tính khái quát chung…
Có thể nói, tất cả các công trình nêu trên đã phản ánh một bước tiến lớn
trong nghiên cứu về tộc người Ê Đê. Đây cũng là nguồn tư liệu quý cung cấp
cho tác giả trong việc làm r hơn các giá trị văn hóa được thể hiện qua trang
phục của người Ê Đê ở tỉnh Đắk Lắk nói chung và người Ê Đê ở xã Ea Tu,
thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên biệt về
trang phục của người Ê Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột. Trong bối
cảnh đó, việc nghiên cứu trang phục của tộc người theo chế độ mẫu hệ như
trường hợp người Ê Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
không những có ý nghĩa khoa học mà nó còn có ý nghĩa thực tiễn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục Ďích nghiên cứu
Mục đích tổng quát áp dụng các lý thuyết, khái niệm nghiên cứu,
phương pháp nghiên cứu phù hợp để đánh giá các vấn đề về những quan niệm,
12
tập quán đối với trang phục và sự tác động của các yếu tố như: yếu tố kinh tế,
văn hóa, xã hội và môi trường liên quan đến trang phục. Luận văn phác họa bức
tranh tương đối toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về các bước tạo ra trang phục,
cách thức sử dụng trang phục của người Ê Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk, từ đó thấy được đặc điểm văn hóa của tộc người. Trong
đó, luận văn hướng tới 3 mục đích chính sau:
Một l , góp phần cung cấp một cách có hệ thống nguồn tư liệu về trang
phục, các đặc điểm văn hoá thể hiện qua trang phục và những tri thức làm ra
trang phục của người Ê Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột.
Hai là, tìm hiểu, phân tích những biến đổi trong trang phục của người Ê
Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột trong bối cảnh hiện nay và luận giải
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là trang phục của người Ê Đê
thuộc nhóm K pă ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của Ďề t i
Luận văn nghiên cứu về trang phục của người Ê Đê cư trú ở hai buôn:
buôn Ju và buôn Kmrơng Prǒng A trong phạm vi từ trước và sau năm 1986
trong bối cảnh đổi mới của đất nước.
5 Nguồn tƣ iệu, phƣơng ph p uận và phƣơng ph p nghiên cứu
5.1. guồn tư liệu
Ngoài nguồn tư liệu chủ yếu thu thập được trong quá trình điền dã của
tác giả tại địa bàn nghiên cứu, luận văn đã kế thừa, sử dụng các tài liệu từ sách
báo, tạp chí; kết quả của các đề tài nghiên cứu của các nhà dân tộc học, nhân học
ở trong và ngoài nước; báo cáo của các cơ quan trung ương và địa phương liên
quan. Bên cạnh đó luận văn đặc biệt chú ý khai thác các tư liệu hiện vật của
người Ê Đê đang được lưu giữ tại Bảo tàng Đắk Lắk.
5.2. Phương pháp luận
Đề tài căn cứ vào những quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng
của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Điền dã dân tộc học trên thực địa để quan sát tham dự cùng người dân
địa phương trong cách dệt và chế tác trang phục truyền thống của người Ê Đê ở
14
xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Đối tượng được tác giả
tham dự đó là các cơ sở dệt thổ cẩm, những hộ đang còn nghề dệt để qua đó, tác
giả có thể hiểu một cách tương đối về cách thức chế tác, tạo trang phục, cách sử
dụng và tính thẩm mỹ của trang phục để có cái nhìn tổng quát về trang phục
truyền thống của người Ê Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột.
tồn và phát triển những giá trị tốt đẹp của tộc người Ê Đê trong xu thế giao lưu
văn hoá giữa các tộc người, các quốc gia dân tộc đang được mở rộng.
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm cơ bản
Hiện nay có nhiều khái niệm về trang phục nhưng nhìn chung đều cho
rằng: “Trang phục là những phương tiện vật chất bao gồm y phục, trang sức
Ďược con người sử dụng trong sinh hoạt, lao Ďộng sản xuất, chiến Ďấu và các
hoạt Ďộng văn hóa xã hội khác; th hiện cách ứng xử văn hóa trong mối quan hệ
của con người v i môi trường tự nhiên v môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn
các chức năng: sinh học, xã hội và thẩm mỹ của con người” [45, tr. 48]
“Trang phục là một trong những thành tố văn hóa vật th cơ bản, không
chỉ có chức năng che Ďậy, bảo vệ con người về mặt sinh học mà còn là bi u hiện
của văn hóa, nếp sống, trình Ďộ kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo thủ công truyền thống
và quan niệm thẩm mỹ của tộc người. Ngoài ra, trang phục còn l cơ sở Ď nhận
biết và giúp cho sự phân biệt giữa tộc người này và tộc người khác ” [27, tr. 7].
Khi trình bày về trang phục tác giả Ngô Đức Thịnh trong công trình
Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam có viết: “Về bản chất, trang phục
các dân tộc ở Việt Nam... thường là váy, khố, áo ngắn, xẻ ngực, yếm... sau m i
dùng guốc dép. Trang sức thường nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình, cưa răng, bịt
răng” [41, tr. 12].
Các nhà Dân tộc học/ Nhân học Việt Nam như Lê Ngọc Thắng, Võ Mai
Phương, Trần Thị Thu Thủy cho rằng: trang phục bao gồm y phục và trang sức,
đồng thời trang phục cũng là một trong những khía cạnh thể hiện rõ nét nhất tính
tộc người, chứa đựng nhiều thông tin văn hóa mang bản sắc tộc người, thể hiện
cách ứng xử văn hóa trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên
16
nền văn hóa v con người Việt am phát tri n to n diện, hư ng Ďến chân - thiện
- mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ v khoa học. Văn hóa
17
thực sự trở th nh nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, l sức mạnh nội sinh
quan trọng bảo Ďảm sự phát tri n bền vững v bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục
tiêu dân gi u, nư c mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…”. Qua đó cho thấy
sự quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy các giá tri di sản văn hóa dân tộc
có một vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước ta nói chung và
m i một tộc người nói riêng mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
1.1.2. Lý thuyết nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu trang phục dựa trên cơ sở hai lý thuyết
chính là: thuyết chức năng và thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa.
ý thuyết chức năng
Nhà nhân học người Anh Bronislaw Malinowski (1922) đã sáng lập ra
thuyết chức năng và cho rằng các thiết chế xã hội, mở rộng ra là các thiết chế
văn hóa của loài người tồn tại được qua thời gian bỡi chúng có chức năng duy trì
sự ổn định của cả hệ thống xã hội. Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu nhân học
và dân tộc học là làm r các chức năng này của các thiết chế xã hội và văn hóa
của loài người. Chính vì thế tất cả cái gì tồn tại đều có chức năng.
“Trang phục luôn tồn tại và biến Ďổi vì nó không chỉ có chức năng sinh
học mà còn sản sinh thêm các chức năng khác trong quá trình phát tri n của xã
hội lo i người như chức năng phân biệt tộc người, chức năng thẩm mỹ, chức
năng xã hội...” [27, tr.20].
Trang phục là nhu cầu trực tiếp của đời sống xã hội, nó gắn bó chặt chẽ
và tồn tại trong đời sống hàng ngày của con người. Trong thực tế, trang phục đã
vượt xa giá trị vật chất thuần túy là che đậy, bảo vệ cơ thể, nó còn tham gia vào
những sinh hoạt xã hội, những hoạt động tinh thần của con người. Cũng như
những hiện tượng văn hóa khác, trang phục vừa có tính phổ biến lại vừa có tính
thống mà nên đặt chúng trong trạng thái động trong quá trình biến đổi văn hóa.
Ngày nay Đắk Lắk là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống đan xen.
Chính vì vậy, hiện tượng giao lưu, tiếp biến và biến đổi của văn hóa giữa người
Ê Đê và các tộc người đến sau là điều tất yếu.
1.2. Khái quát về thành phố Buôn Ma Thuột và tộc ngƣời nghiên cứu
1.2.1. Khái quát về Ďịa bàn nghiên cứu
19
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của
tỉnh Đắk Lắk, Theo người Ê Đê thì cụm từ Buôn Ma Thuột có nghĩa là buôn của
bố Y Thuột; Ama có nghĩa là bố (người ta thường hay gọi tắt là Ama = Ma
nghĩa là ba). Theo một số người già Ê Đê kể lại thì bố Y Thuột là một người ở
buôn khác đến đây lấy vợ ở lại đây, mẹ của Y Thuột là con của một tù trưởng
giàu có sau khi ông mất đi chức danh tù trưởng được giao lại cho bố của Y
Thuột, ông là một tù trưởng giàu có và là người được dân làng coi trọng có uy
tín trong buôn. Buôn của Ama Thuột trước đây chỉ có khoảng 50 nóc nhà, họ
sinh sống trên một dãy đồi thoải cạnh con suối có tên là suối Ea Tam, mãi đến
những năm đầu của thế kỷ XX thì Buôn Ma Thuột đã trở thành một buôn lớn.
Theo Niên giám thống kê năm 2014 của Tổng cục thống kê tỉnh Đắk
Lắk, thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay có diện tích là 137.125,37 ha gồm 8
xã, 13 phường và một thành phố, dân số 1.827.786 người [22, tr. 24], trong đó,
đồng bào dân tộc thiểu số có 11.494 hộ, với 55.413 nhân khẩu, chiếm 16,36%
dân số toàn thành phố Buôn Ma Thuột có 40 dân tộc anh em cùng sinh sống tại
33 buôn. Dân tộc thiểu số tại ch có khoảng 9.700 hộ. Buôn Ma Thuột hiện có
7 buôn nội thành với hơn 10.000 người Ê Đê đang sinh sống, như: Buôn Ako
Dhong, buôn Alê A, buôn Alê B, buôn Ea Bông, buôn Kmrơng A, buôn
Kmrơng B…Người Ê Đê ở đây vẫn duy trì canh tác nương rẫy và những nét văn
hóa mang bản sắc riêng của họ như: kiến trúc nhà dài, một số nghề thủ công
nhập góp phần xóa đói giảm nghèo; công tác văn hóa - xã hội cũng được đầu tư,
điện, đường, trường trạm từng bước được nâng cao. Bên cạnh những thuận lợi,
còn tồn tại một số khó khăn trong việc phát triển nghề dệt thổ cẩm của xã đó
chính là đầu ra của sản phẩm dệt và nguồn vốn đầu tư ban đầu cũng gặp nhiều
khó khăn.
1.2.2. Khái quát lịch sử tộc người
Người Ê Đê là tộc người tại ch của tỉnh Đắk Lắk với nhiều cách phiên
âm và gọi tên khác như: Rhadé, Rhađê, Rađê, Rơ đê, Đê,Thượng… xuất hiện
trong các công trình nghiên cứu của các học giả người Pháp, người Mỹ và người
Việt trước năm 1975. Trên các văn bản Nhà nước hay trong các công trình
nghiên cứu, các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay người ta chỉ sử dụng
tên gọi Ê Đê. Người Ê Đê có rất nhiều nhóm khác nhau ví như: Kpă, Krung,
Adham, Ktul, Drao, Mdhu…,trong đó nhóm Kpă là nhóm có số người đông nhất
so với các nhóm còn lại của người Ê Đê. Họ thường sống tập trung ở Buôn Ma
Thuột. Người Ê Đê ở xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột tự nhận mình là Anak
Ê Đê, có nghĩa là người Ê Đê. Về tên gọi tộc danh này, hiện có nhiều ý kiến giải
21
thích khác nhau: thứ nhất, đó là tên gọi của một loại tre, những người sống trong
rừng tre này tự gọi mình là Ê Đê; thứ hai, đó là tên gọi của một vị thần tối cao
trong tín ngưỡng của người Ê Đê - thần Ea Dliê; thứ ba, đó có nghĩa là "người
mới đến" từ hang đất H'drễnh.
Về nguồn gốc lịch sử, người Ê Đê ở xã Ea Tu thuộc nhóm địa phương
Kpă. Họ là dân tộc tại ch , sinh sống ở vùng đất này từ rất lâu đời và có sự khác
biệt với các nhóm địa phương khác được thể hiện qua tên gọi như cách gọi tên
một số nhạc cụ hay ví dụ: Từ “Khan”4, người Ê Đê Kpă gọi là Klei khan còn
nhóm Ê Đê Mdhu gọi Khan hay là Hgan còn Ê Đê nhóm Adham gọi là Khan
hay Gkhan; màu sắc và kiểu dáng của trang phục, người Ê Đê nhóm Kpă trang
phục sử dụng màu đỏ và màu đen làm hai mùa chủ đạo và pha thêm chút màu
thủy đã làm cho loài người bị xóa sạch, chỉ còn lại hai anh em Khốt và Kho.
Anh em Khốt, Kho nhờ thần giúp đỡ, nên chui vào ruột quả bầu khô và sống sót
được. Đến khi cơn lũ tan, nước rút hết, anh em Khốt, Kho tìm được trong ruột
quả bầu khô còn lại một hạt bầu duy nhất và đem gieo xuống đất. Cây bầu mọc
lên chỉ có một quả. Từ ruột quả bầu ấy đã sinh ra các dân tộc anh em, trong đó
có các tộc người Tây Nguyên.
1.2.2.1. Một số đặc điểm kinh tế của người Ê Đê
Cũng như các tộc người làm rẫy ở Đắk Lắk, nguồn sinh kế chủ yếu của
người Ê Đê ở xã Ea Tu trong truyền thống nhìn chung vẫn là phát rừng làm rẫy
theo hình thức luân khoảnh, kết hợp khai thác các nguồn lợi từ rừng và suối.
Xưa kia rừng bao phủ khắp vùng, người Ê Đê thường cư trú ở những vùng rừng
rậm cạnh suối thuận tiện cho việc canh tác nương rẫy và cuộc sống sinh hoạt của
mình. Sau khi chọn được một mảnh đất ưng ý, người ta sẽ tiến hành các nghi
thức xin phép các thần, kế đến mới là các công việc khai hoang. Sau 1975,
không gian sản xuất của người Ê Đê ở xã Ea Tu đã trải qua một quá trình biến
đổi rõ rệt. Việc chuyển từ chế độ sở hữu cộng đồng buôn làng sang sở hữu toàn
dân và sở hữu tư nhân đã thúc đẩy các cộng đồng tìm đến các chiến lược sinh
tồn mới nhằm thích nghi với điều kiện mới.
Những năm 1970 Buôn Ma Thuột là một thị xã nhỏ bé và còn nhiều khó
khăn đặc biệt là cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn lạc hậu. Ngoài nghề trồng trọt, họ
còn có một số loại hình kinh tế khác như vườn, làm ruộng nước. “…Không làm
vườn cạnh nhà như người Kinh, bởi một số nguyên do hợp lý nhất định, mà
vườn thường ở cách biệt với khu vực thổ cư. Đó là những mảnh đất nằm dọc bờ
sông, suối, hoặc ven chân đồi núi, thường tương đối bằng phẳng, màu mỡ, được
sử dụng lâu dài, mặc dù cũng như trên rẫy, dưới ruộng, người Thượng không
dùng phân bón. Loại đất này trong tiếng Kinh miền Bắc thường gọi là bãi, soi,
23
đất (trồng) màu, v.v. nhưng ta có thể gọi là vườn của người Thượng. Đồng bào
sinh sống. Các dân tộc cộng cư cũng đã mang đến sự thay đổi trên mọi phương
diện trong cuộc sống của người Ê Đê ở Buôn Ma Thuột nói riêng và tỉnh Đắk
Lắk nói chung, trong đó có loại hình buôn bán nhỏ. Mặc dù vậy, kinh tế của họ
vẫn dựa vào nông nghiệp là chủ yếu.
1.2.2.2. Một số đặc điểm xã hội của người Ê Đê
Xã hội truyền thống của người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ
là trụ cột trong gia đình và họ luôn là người chủ động trong việc lập gia đình,
còn người đàn ông sau khi lấy vợ thì về ở bên nhà vợ, con cái sinh ra bắt buộc
phải lấy họ mẹ và thuộc dòng họ của người mẹ. Việc thừa kế tài sản của gia đình
cũng thuộc về người con gái chứ không phải là người con trai. Hiện nay, xã hội
mẫu hệ của người Ê Đê được đánh giá là một xã hội mẫu hệ tương đối điển hình
ở nước ta. Tuy vậy, hình thái xã hội này đang ngày một biến đổi sâu sắc, gia
đình lớn dần giải thể, thay thế nó là các gia đình nhỏ theo đó vai trò người phụ
nữ cũng mờ nhạt dần. Đặc biệt, khi đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập và
phát triển như hiện nay thì việc chuyển biến của chế độ mẫu hệ ngày càng diễn
ra nhanh chóng hơn. Điều này được thể hiện khá rõ nét qua việc biến đổi trong
hôn nhân như: việc tìm hiểu của các đôi trai gái phần lớn vẫn do người đàn ông
chủ động, cùng với nó là các hình thức cư trú sau khi cưới nhau đôi trai gái có
thể ở bên nhà chồng hay ra ở riêng mà không ở cùng bố mẹ cô dâu như trước đây.
Đơn vị xã hội duy nhất của người người Ê Đê chính là buôn làng của họ.
Trong truyền thống buôn thường là tập hợp của từ 10 đến 15 nóc nhà cùng tụ cư
sinh sống gồm nhiều dòng họ khác nhau. Họ tự quản bằng các luật tục của buôn
và không có đơn vị trên hoặc dưới buôn. Luật tục chính là một dạng hình thái sơ
khai của pháp luật khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, luật tục bao gồm
một hệ thống những quy định tương đối chặt chẽ với nhiều cách thể hiện phong
phú, bao quát tất cả các vấn đề xã hội của buôn làng được mọi người chấp nhận
và tuân thủ một cách nghiêm ngặt. M i một buôn có một người đứng đầu được
gọi là buôn trưởng (Pô buôn hay Khoa buôn), buôn trưởng là người có uy tín, có