VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIẾT NGHỊ
QUAN NIỆM CỦA IMMANUEL KANT VỀ CÁI ĐẸP
TRONG TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN”
Ngành: Triết học
Mã số: 8 22 90 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thu Nghĩa
Hà Nội, năm 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1 .............................................................................................................. 8
IMMANUEL KANT VỚI TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN
ĐOÁN” ................................................................................................................. 8
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và những tiền đề cho sự
hình thành triết học I. Kant ............................................................................... 8
1.1.1. Điều kiện kinh tế .................................................................................... 8
1.1.2. Điều kiện chính trị - xã hội.................................................................. 10
1.1.3. Điều kiện văn hóa ................................................................................ 12
1.1.4. Tiền đề lý luận, tư tưởng...................................................................... 16
1.2. Khái quát chung về tác giả, tác phẩm ...................................................... 19
tất cả các quan niệm đều chưa đi đến một quan điểm thống nhất do xuất phát từ
những cơ sở triết học khác nhau về cái đẹp. Việc tìm ra bản chất của cái đẹp có
một ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu các quy luật khác của đời sống
thẩm mỹ. Cái đẹp như là một thước đo hoạt động của con người và cũng là cái
chuẩn để chỉ ra phẩm giá của con người. C.Mác đã viết: “Súc vật chỉ nhào nặn
vật chất theo thước đo và nhu cầu giống loài của nó, còn con người thì có thể áp
dụng thước đo thích dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn
vật chất theo quy luật của cái đẹp. Nhờ quá trình lao động cải tạo tự nhiên và cải
tạo bản thân, con người dần dần phát triển và nhận thức ra quy luật phổ biến cái
đẹp” [26, 17]. Cái đẹp xuất hiện ở mọi quan hệ thẩm mỹ của con người: quan hệ
với tự nhiên, với xã hội và đặc biệt là trong nghệ thuật. Cái đẹp làm cho cuộc
sống của con người thêm sinh động, đa dạng và phong phú. Chính vì vậy, chúng
ta cần xây dựng một hệ thống lý luận các giá trị về thẩm mỹ mà đặc biệt về cái
đẹp nhằm định hướng cái đẹp, sáng tạo ra cái đẹp mới nhằm phục vụ đời sống
tinh thần nhân dân, hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong sáng.
Immanuel Kant - người mở đầu nền triết học cổ điển Đức với quan điểm
duy tâm chủ quan đã đưa ra một góc nhìn mới về mỹ học. Nghiên cứu quan
niệm của Kant về cái đẹp chúng ta mới thực sự bừng tỉnh trước sự đa dạng,
phong phú của nó. Cái đẹp không thể bị gò ép, rập khuôn máy móc như quan
niệm trước đây mà hơn hết cần phải giải thoát cho cái đẹp, vì chính sự tự do của
cái đẹp mới giúp con người giải thoát lối tư duy khuôn mẫu và tự do sáng tạo
nghệ thuật, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người.
1
Với những đóng góp của mình, Kant được đánh giá là một trong những
nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử triết học trước Mác. Quá trình nghiên cứu
của Kant có thể chia ra hai thời kỳ: thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán.
Trong thời kỳ tiền phê phán, vấn đề được Kant nghiên cứu nhiều là tự nhiên, còn
Đức Thảo đã trình bày các luận điểm của phép biện chứng theo cấu trúc tác phẩm
“Phê phán lý tính thuần túy”. Đây là những đánh giá đúng đắn và khách quan
đối với triết học I. Kant. Tuy nhiên, những đánh giá của ông còn sơ lược, chưa
đi sâu vào một vấn đề cụ thể.
Năm 1962, Nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội) đã cho dịch cuốn “Giáo trình
lịch sử triết học - Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện Triết học thuộc Viện
Hàn lâm khoa học Liên Xô biên soạn. Bản dịch đã đem đến cho độc giả những
nét khái lược về triết học cổ điển Đức, trong đó triết học I. Kant chiếm một vị trí
quan trọng.
Trần Thái Đỉnh trong cuốn “Triết học I. Kant” đã nêu lên một cách khá
toàn diện các vấn đề triết học I. Kant. Riêng đối với triết học lý luận, tác giả
cũng đưa ra những luận giải khá sâu sắc. Ông cho rằng khi phê phán lý tính
thuần túy, I. Kant không nhằm phá hủy siêu hình học mà trái lại cố gắng xây
dựng một siêu hình học mới. Tác giả dành khá nhiều tâm huyết trình bày các
nhận thức triết học I. Kant. Đây là một công trình khá đầy đủ và phong phú về
triết học I. Kant.
Trong cuốn “Triết học Immanuen Kant” của tác giả Nguyễn Văn Huyên
Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1996, , tác giả đã trình bày những nét tổng
quát về triết học nhận thức và triết học thực tiễn của I. Kant.
Năm 1997, Viện Triết học đã biên soạn và xuất bản cuốn sách: “I. Kant người sáng lập nền triết học cổ điển Đức”. Cuốn sách tập hợp bài viết của các
tác giả nghiên cứu về lĩnh vực khác nhau của triết học I. Kant. Công trình này đề
cập đến toàn bộ triết học I. Kant cả thời tiền phê phán và phê phán, nhưng đi sâu
vào phần phê phán hơn. Trong triết học phê phán của I. Kant, các tác giả nghiên
cứu trên cả ba mảng nhận thức, đạo đức và thẩm mỹ.
3
Trong cuốn “Triết học cổ điển Đức”, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006, tác giả
Lê Công Sự trên cơ sở phân tích những quan niệm về các phạm trù mỹ học của
Kant đã đi đến kết luận: Mỹ học Kant chứa đựng nội dung nhân bản sâu sắc và
Đặc biệt là bộ ba tác phẩm phê phán của I. Kant, đó là “Phê phán lý tính
thuần túy” (1781), “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788) và “Phê phán năng lực
phán đoán” (1790), nhưng tập trung chủ yếu vào tác phẩm “Phê phán năng lực
phán đoán” đã được dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch ra tiếng Việt, do Nhà xuất
bản Văn học xuất bản năm 2007.
Như vậy, việc nghiên cứu về triết học I. Kant luôn thu hút sự chú ý của
nhiều học giả. Các công trình nghiên cứu trên đã có nhiều đóng góp to lớn trong
việc nghiên cứu tư tưởng mỹ học của I. Kant. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó
phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, nghiên cứu những nội dung cơ bản
của mỹ học và được trình bày trong các giáo trình triết học lịch sử, lịch sử mỹ
học nói chung hoặc trong các tập bài giảng dùng cho sinh viên chuyên ngành mỹ
học nói riêng mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về mỹ học.
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả đã có những tiếp thu, kế thừa
những thành tựu của những công trình nghiên cứu trên. Trên cơ sở đó, tác giả
muốn tìm hiểu sâu hơn vấn đề những giá trị tư tưởng mỹ học cơ bản của I. Kant,
đặc biệt là tư tưởng của ông về phạm trù phán đoán thẩm mỹ, cái đẹp và bản
chất của nghệ thuật.. được trình bày trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán
đoán”
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những tư tưởng về cái đẹp của I. Kant trong tác
phẩm "Phê phán năng lực phán đoán", luận văn khẳng định những giá trị tư
tưởng về cái đẹp trong tác phẩm nhằm kế thừa, phát huy những yếu tố hợp lý
góp phần xây dựng cơ sở lý luận cũng như phát huy khả năng sáng tạo ra cái đẹp
của con người.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
Để đạt được mục đích trên nhiệm vụ của luận văn sẽ là:
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ quan điểm về cái đẹp trong mỹ học I. Kant.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên,
học viên, người nghiên cứu về mỹ học, nghệ thuật, triết học I. Kant. Luận văn
cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiên cứu
mỹ học nói chung.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 2 chương 4 tiết.
7
Chương 1
IMMANUEL KANT VỚI TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN
ĐOÁN”
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và những tiền đề cho sự
hình thành triết học I. Kant
1.1.1. Điều kiện kinh tế
Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nước Đức vẫn còn là một quốc
gia phong kiến điển hình, lạc hậu cả về kinh tế và chính trị. Việc tiếp tục tăng
cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ của triều đình vua Phổ Phriđrich Vin
Hem đã cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, khiến cho
công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp bị hạn chế, khiến người dân Đức
cảm thấy bất bình trước tình cảnh đất nước thời bấy giờ. Nhiều sử gia đánh giá,
nước Đức thế kỷ XVIII là một trong những nước lạc hậu bậc nhất châu Âu, cuộc
chiến tranh Ba mươi năm (1618 - 1648) với nước láng giềng đã làm tiêu hao
sinh lực của nó. Suốt thời gian dài nước Đức nằm trong tình trạng trì trệ, bảo
lay sắp sửa đổ và cũng không thể hy vọng được một sự thay đổi tốt, vì rằng
trong dân tộc không có một lực lượng nào đủ sức để có thể dọn đi được cái tử thi
đã rữa của cái chế độ đã lỗi thời ấy [20, 561 - 562].
Về kinh tế, giai cấp tư sản Đức chủ trương ưu tiên phát triển ngành
thương mại, thủ công nghiệp và trong sản xuất theo lối công trường thủ công
(những xí nghiệp lớn tư bản chủ nghĩa) ở Đức hầu như chưa có vào nửa cuối thế
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) bắt buộc phải phục vụ cho bọn phong kiến đang thống
trị ở Đức lúc bấy giờ. Trong khi thị trường bên trong phát triển còn rất yếu, và
việc buôn bán trên thị trường còn rất hạn chế thì khách hàng chủ yếu là tầng lớp
thống trị và số đông quan lại, giai cấp tư sản trong mỗi nhà nước Đức nhỏ ấy đã
bị ràng buộc vào những khách hàng ấy. Nền kinh tế chủ yếu ở trình độ thủ công
lạc hậu, những di tích của chế độ nông nô, phường hội, chuyên chế phản động
đều là những lực cản kìm hãm sự phát triển lên tư bản chủ nghĩa của Đức. Ngoài
9
ra, nước Đức còn chịu sự tác động của những mối liên hệ từ bên ngoài làm cho
nước Đức không có điều kiện để phát triển thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa
trong lòng chế độ phong kiến và làm cho nước Đức rơi vào tình trạng cực kỳ bi
đát về kinh tế chính trị - xã hội.
1.1.2. Điều kiện chính trị - xã hội
Những chuyển biến về kinh tế dẫn đến sự thay đổi về phân bố lực lượng
giai cấp trong xã hội. Giai cấp quý tộc phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị trong
bộ máy nhà nước và ngoan cố tăng cường quyền lực của chế độ quân chủ
chuyên chế phong kiến. Do đó, tình trạng đất nước bị chia cắt với quyền lực vô
hạn của các tiểu vương quốc là một trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế tư
bản chủ nghĩa.
Do sự chuyển biến về kinh tế và chính trị, những mâu thuẫn cơ bản của xã
hội Đức ngày càng bộc lộ rõ. Bước vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến,
mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với chế độ quân chủ chuyên chế và mâu thuẫn
phê phán đối với chủ nghĩa giáo điều và bảo thủ cả trong khoa học lẫn trong
chính trị. C. Mác xem triết học Kant là lý luận Đức của cách mạng Pháp
[17,131] Hiện thực nước Đức được thể hiện ở hệ thống triết học Kant, Fichte,
Schelling, Hegel, Feuerbach bằng tính hai mặt của nó. Một mặt triết học cổ điển
Đức phản ánh khát vọng chiến thắng của lý trí trước cái phi lý, nỗ lực vượt qua
sự ngưng đọng của đời sống hiện thực; mặt khác, các nhà triết học Đức, từ Kant
đến Hegel, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đức, chịu sự quy định của hiện thực
đó, buộc phải chấp nhận những giới hạn của tự do; sự tuân phục các chuẩn mực
phổ biến đã trở thành “mệnh lệnh tuyệt đối”, sức mạnh cưỡng chế mang ý nghĩa
của tính tất yếu không cưỡng được; những câu hỏi được nêu ra chưa hẳn tìm
thấy lời giải đáp thỏa đáng, mặc dù, nói như Kant, đó chỉ là lời giải đáp hình
thức. Mâu thuẫn của triết học cổ điển Đức cũng chình là mâu thuẫn của thực tại
được tái hiện lại trong các hệ thống lý luận.
Những va chạm mang tính chất giai cấp gay gắt ở đêm trước cách mạng
đã thể hiện trong triết học dưới dạng mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực, giữa
11
“cái hợp lý” và “cái phi lý”. Sau khi hoàn thành cách mạng, giai cấp tư sản lại
giảng hòa với thực tiễn, bởi vì bây giờ thực tiễn đã trở thành “cái hợp lý”. Mâu
thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực đều mạnh như nhau cả ở Đức lẫn ở Pháp. Ở
Đức tính chất lạc hậu về kinh tế và chính trị khiến cho mâu thuẫn này khó được
giải quyết triệt để. Cách mạng ở Đức chỉ diễn ra thành công trong lĩnh vực lý trí,
vì bản thân thực tiễn chưa đủ chín muồi để làm bùng nổ cách mạng như đã từng
thấy tại Anh và Pháp. Xuất phát từ tình trạng xã hội ngưng đọng, triết học và
nghệ thuật Đức hướng về hoặc nước Pháp cách mạng, hoặc quá khứ để làm sống
lại các giá trị thời vàng son. Kant, Fichte, Hegel, Goethe, Schiller… đã từng
ngợi ca cách mạng Pháp, xem nó như sự trỗi dậy của bình minh, biểu tượng của
tự do, đánh dấu sự khởi sắc của thời đại mới. Voltaire và Rousseau được tôn
vinh thành những hiệp sỹ của công lý. Tuy nhiên, nước Pháp giai đoạn chuyên
sự phê phán của họ đối với tôn giáo đã đóng vai trò tiến bộ và góp phần làm sụp
đổ hệ tư tưởng và những đặc quyền của đẳng cấp phong kiến. Họ chống lại một
cách kiên quyết những đại biểu phản động của chủ nghĩa lãng mạn, những người
đã tâng bốc thời trung cổ, tuyên truyền chủ nghĩa thần bí và thần học. Những
nhà Ánh sáng Đức đã gắn liền nghệ thuật với đời sống và cho nghệ thuật là sự
thể hiện thế giới quan nhân đạo chủ nghĩa.
J.G. Hécde (1744 - 1803) là nhà tư tưởng, nhà nghệ thuật vĩ đại của Đức.
Những tư tưởng của ông đã góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị tư tưởng
cho trào lưu khai sáng Đức. Ông là một trong những người đầu tiên đã đấu tranh
cho sự hình thành và phát triển ý thức dân tộc của nhân dân Đức, chống lại
khuynh hướng tôn giáo chủ nghĩa “chỉ ưa sùng ngoại” của giai cấp quý tộc.
Chính Hécde đã nêu lên tư tưởng rất quan trọng coi thi ca dân gian có ý nghĩa
lớn lao đối với sáng tác văn học. Nguyện vong của Hécde khi nghiên cứu lý luận
nghệ thuật theo quan điểm hiện thực là nhìn thấy mối liên hệ giữa nghệ thuật và
đời sống.
13
Bên cạnh Hécde, những nhà đại diện cho các ngành văn nghệ, soạn kịch
và sân khấu như Lessing, Schiller và Goethe là niềm kiêu hãnh cho nhân dân
Đức nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Là những nhà bách khoa, các ông
không chỉ thành công trong những lĩnh vực như khoa học và triết học Đức.
Gotthold Ephraim Lessing (1729 - 1781) là nhà văn hóa lớn của dân tộc
Đức. Ông đã có công lao to lớn trong việc đấu tranh chống hệ tư tưởng phong
kiến và phát triển nền văn hóa nhân đạo nửa cuối thế kỷ XVIII. Không những
vậy, ông còn công kích những đặc quyền đẳng cấp, đã kêu gọi đấu tranh chống
lại chế độ nông nô và đã phát triển những quan điểm mỹ học tiên tiến. Cũng như
mọi nhà khai sáng khác, Lessing tuyên bố rằng quyền của con người là được
hưởng đời sống vui sướng và hạnh phúc trên trái đất. Tuy chưa đạt tới chủ nghĩa
sánh, ông đã có một phát minh xuất sắc. Goethe khám phá ra xương giữa hai
xương hàm của người. cái đó chứng minh sự liên hệ giữa người với động vật…
Goethe chống lại những nhà kinh viện và đưa ra đề xuất phải nghiên cứu hiện
thực bằng cách xuất phát từ những quy luật sẵn có của nó. Điều này chứng tỏ
ông đã đứng trên lập trường duy vật.
Bên cạnh những thành tựu về văn hóa, Tây Âu thời kì này còn đạt nhiều
thành tựu về khoa học tự nhiên. Việc phát minh ra điện, bản chất về sự sống sau
sự sụp đổ của học thuyết Phlogiston khoa học tự nhiên mặc dù vẫn chưa bác bỏ
được những “vật chất không có trọng lượng” khác như là nhiệt, ánh sáng, tiếng
động nhưng đã bắt đầu tiến tới chỗ khám phá ra được rằng: nhiệt, ánh sáng, điện
nói chung là tính muôn vẻ về chất của tự nhiên, đều là những hình thức độc đáo
của sự vận động của vật chất.
Quan niệm về sự phát triển ngày càng thâm nhập vào khoa học tự nhiên.
Năm 1755, I. Kant đã nêu ra giả thuyết nổi tiếng về sự phát sinh ra vũ trụ.
Ăngghen cho rằng, theo giả thuyết đó thì trái đất và hệ thống mặt trời được coi
như đã xuất hiện trong thời gian, phát minh của Kant đã khởi điểm cho sự tiến
bộ sau này. Nếu trái đất đã là kết quả của một quá trình phát triển, thì trạng thái
địa chất, địa lý và khí hậu ngày nay của nó, giới thực vật và động vật của nó
15
cũng phải như thế và trái đất phải có lịch sử không chỉ trong không gian dưới
hình thức cái này xếp cạnh cái kia - mà còn cả trong thời gian - dưới hình thức
cái này sau cái khác.
1.1.4. Tiền đề lý luận, tư tưởng
Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 có ảnh hưởng lớn đến nước Đức, những
người Đức tiên tiến đã rất phấn khởi chào đón. Sinh viên đại học Tubingơ (trong
số này có cả Hegel) đã trồng cây Tự do. Schiller đã dịch bài Mácxâye ra tiếng
Đức. Đến khi cách mạng tư sản Pháp đưa Lui XVI lên đoạn đầu đài, dựng lên
chính quyền của những người Giacôbanh, thì những người tư sản Đức lúc đầu là
những nhà khai sáng Pháp hồi thế kỷ XVIII thường dẫn tới sự hủy bỏ chế độ cũ
bằng con đường cách mạng thì những nhà lý luận tư sản Đức hồi cuối thế kỉ
XVIII đầu thế kỉ XIX lại đặt lí tưởng của họ vào chỗ hòa giải giữa chế độ cũ với
chế độ mới bằng con đường cải lương.
Các nhà khai sáng Pháp và triết học duy tâm Đức về căn bản thừa nhận
phải có những cải cách xã hội nhưng phương pháp thực hiện của họ lại hoàn
toàn khác nhau. Những nhà duy vật Pháp tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không có
sự can thiệp một cách có ý thức vào quá trình lịch sử thì trật tự xã hội mới không
thể thắng lợi được. Tất cả hi vọng của họ đều đặt vào sự cải tổ lại xã hội về mặt
chính trị cho phù hợp với những “yêu cầu của lí trí và của bản chất con người”.
Còn những nhà tư tưởng khai sáng Đức thế kỉ XVIII thì lại đặt hi vọng của họ
vào sự phát triển “tự nhiên” của đời sống xã hội bằng cách mạng. Thái độ phản
đối dùng con đường cách mạng để cải cách nước Đức theo lối tư sản là một
trong những đặc điểm chủ yếu của những quan điểm xã hội và cách mạng thủ
cựu của những nhà triết học tư sản Đức.
Vào thời kì hoạt động cuối cùng của những nhà tư tưởng Đức (Schelling,
Hegel) khi mà họ trở thành kẻ thù của lí tưởng cách mạng Pháp thì trong những
quan điểm xã hội chính trị phản động của họ, đã bộc lộ rõ rệt rằng: những nhà tư
tưởng bảo thủ của giai cấp tư sản hèn nhát Đức đã phục tùng lợi ích và tâm trạng
17
của bọn địa chủ quý tộc phản động. Do giai cấp tư sản Đức yếu hèn, không đủ
năng lực nắm chính quyền, nên những nhà lý luận của giai cấp này không những
nhà duy vật Pháp mà là những nhà duy tâm sáng tạo ra hệ thống triết học rất
trừu tượng, thuần túy, tách khỏi đời sống hiện thực, phủ nhận con đường cách
mạng cải tạo hiện thực. địa vị hèn kém về kinh tế và chính trị của giai cấp tư
sản, sự sợ hãi của họ trước những cuộc đấu tranh cách mạng kiên quyết chống
chế độ phong kiến… tất cả những biểu hiện trên được phản ánh trong hệ thống
triết học duy tâm của Kant, Fichte, Schelling, Hegel
của thế kỉ XVII - XVIII. Những nhà tiền bối về mặt lịch sử của triết học Đức là
những nhà tư tưởng lỗi lạc như nhà triết học toán học Pháp, Decartes, nhà duy
vật Hà Lan Spinoza, nhà triết học và khoa học Đức Leibniz, những nhà khai
sáng Đức cuối thế kỉ XVIII như Fichte, Schelling, Goethe…
1.2. Khái quát chung về tác giả, tác phẩm
1.2.1. Khái quát chung về tác giả
Tất cả những yếu tố khách quan nêu trên đều tác động đến mọi người như
nhau, nhưng tại sao chỉ có I. Kant mới hình thành tư tưởng về chủ thể nhận thức
theo một cách riêng của ông. Chúng ta cần phải xét đến nhân tố chủ quan ở đây,
đó chính là: trí tuệ uyên bác của I. Kant và cuộc đời bình lặng nhưng ẩn chứa
nhiều khác biệt của ông.
Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 trong một gia đình trung
lưu gốc Scottland tại Königsberg - một thành phố nhỏ thuộc vùng đông bắc
nước Phổ (nay là Kaleningrad thuộc Nga), là con trưởng của gia đình 11 người
con. Thành phố bến cảng Königsberg thời kỳ này khá phát triển về thương mại,
buôn bán, thông thương cho nên Kant có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa
trên thế giới. Thành phố hẻo lánh này không chỉ là kinh đô của Đông Phổ mà
còn là trung tâm của trí thức và khu vực nói tiếng Đức (lớn hơn cả Béclin). Một
thành phố như vậy, có thể được xem là một nơi thuận tiện để mở rộng kiến thức
về con người cũng như về thế giới mà không cần phải viễn du. Điều này lý giải
19
vì sao I. Kant suốt đời không rời khỏi thành phố quê hương nhưng ông lại có
hiểu biết sâu sắc về thế giới và con người.
Immanuel Kant chịu ảnh hưởng lớn từ người mẹ giàu tình cảm. Mẹ của
ông đã ảnh hưởng sâu đậm trên sự phát triển thời niên thiếu của ông, Mẹ của
Kant là một người Thanh giáo Đức, những người theo giáo phái này có sự
nghiêm ngặt, kỷ luật chặt chẽ trong đức tin và sự hành đạo. I. Kant có tuổi thơ
điều đáng quý nhất không phải là đi theo lối mòn đã có, mà phải biết đi theo con
đường mà loài người cần đi[31,24]. Quả thực cả cuộc đời ông đã hành động theo
nguyên tắc đó. Sau khi tốt nghiệp đại học, I. Kant đã làm gia sư trong các gia
đình quý tộc gần 10 năm. Đây cũng là thời gian quý báu để Kant tích lũy tri thức
cho sự nghiệp khoa học sau này. Năm 1755, sau 10 năm chuẩn bị, I. Kant bảo vệ
thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Cách nhìn mới về các nguyên tắc của tri
thức siêu hình”, nhờ đó ông nhận được danh hiệu phó giáo sư của trường đại
học tổng hợp Königsberg. Trong 10 năm, hai lần ông xin làm giáo sư thực thụ
đều bị từ chối. Vị phó giáo sư vẫn phải kiếm sống bằng cách làm phụ việc cho
thư viện Hoàng gia Königsberg trong vòng 15 năm với số lương ít ỏi. Mãi tới
năm 1770 khi đã 46 tuổi I. Kant mới được bổ nhiệm làm giáo sư lôgic siêu hình
học của trường Đại học Tổng hợp Königsberg. Ở đây trong gần 30 năm, với
lòng hăng say, đức tính cần mẫn và tư chất thông minh của mình, ông đã giảng
dạy nhiều môn khoa học khác nhau và viết nhiều tác phẩm triết học cơ bản. Ông
luôn cố gắng tìm hiểu những điểm yếu của đối thủ để có thể phản bác lại trong
quá trình tranh luận, đồng thời phát triển các quan điểm riêng của mình. Trong
giảng dạy, ông cũng hướng dẫn sinh viên theo lối tư duy tự do, chính vì vậy, các
bài giảng của ông thường rất hấp dẫn đối với sinh viên, gợi mở cho họ nhiều ý
tưởng mới. Thời bấy giờ, các giảng viên tại các trường đại học vẫn thường lấy
các kiến thức trong sách giáo khoa để giảng cho sinh viên. Còn Kant chỉ coi
sách giáo khoa như là sự gợi mở. Trong các bài giảng của mình, Kant tìm cách
khơi gợi để sinh viên thấy rõ được tư tưởng của ông qua những khái niệm ấy và
tự rút ra kết luận.
21
Năm 1789, ở Pháp diễn ra cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Là người chịu
ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng khai sáng Pháp, I. Kant tỏ ý đồng tình với cuộc
cách mạng này. Để tránh đụng chạm đến chính quyền nhà nước Phổ, trong các
bài viết I. Kant giữ thái độ ôn hòa, song sự bất đồng là không thể tránh khỏi.