QUAN NIỆM của IMMANUEL KANT về cái đẹp TRONG tác PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG lực PHÁN đoán” - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VIẾT NGHỊ

QUAN NIỆM CỦA IMMANUEL KANT VỀ CÁI ĐẸP TRONG
TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN”

Ngành: Triết học
Mã số: 8 22 90 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thu Nghĩa

Hà Nội, năm 2018


MỤC LỤC


75

Kết luận chương 2

KẾT LUẬN................................................................................................................ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

79




chia ra hai thời kỳ; thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán. Trong thời kỳ tiền phê
phán, vấn đề được Kant nghiên cứu nhiều là tự nhiên, còn thời kỳ phê phán, Kant cố
gắng xây dựng một hệ thống triết học để tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi lớn: Tôi có thể
tri thức được gì? Tôi cần phải làm gì? Và tôi có thể hy vọng gì? Câu hỏi đầu tiên được
ông giải đáp trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý năm 1781. Câu hỏi thứ hai được
ông diễn giải trong Phê phán lý tính thực tiễn năm 1788. Với câu hỏi thứ ba liên quan
đến các quan điểm mỹ học của ông được đề cập đến trong Phê phán năng lực phán
đoán năm 1790.
Tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” của I. Kant nghiên cứu mỹ học và
cái đẹp từ học thuyết tự nhận thức, mở ra một cách tiếp cận mới trong lịch sử mỹ học.
Các tư tưởng mỹ học và cái đẹp trong tác phẩm này đã được nhiều nhà mỹ học trên thế
giới phân tích sâu sắc. Ở Việt Nam, các tư tưởng mỹ học và cái đẹp trong tác phẩm này
đã được biên soạn trong nhiều giáo trình mỹ học trình độ đại học và sau đại học, cũng
như có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu. Các tác giả khi nghiên cứu về tác
phẩm này đã có những kiến giải, nhận thức khác nhau về các quan điểm, giá trị và các
đánh giá của Kant về cái đẹp tự nhận thức. Song, tất cả những nghiên cứu đó đều khẳng
định được những đóng góp to lớn của mỹ học nói chung, tư tưởng về cái đẹp nói riêng
của Kant đối với lịch sử mỹ học nhân loại. Với mong muốn góp một cách tiếp cận và
nhận thức mới về cái đẹp của Kant trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán, tôi đã
chọn vấn đề này làm đối tượng nghiên cứu của mình trong luận văn này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Triết học Kant nói chung và mỹ học Kant nói riêng đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu này có nhiều đóng góp to lớn trong việc nghiên
cứu tư tưởng triết học và mỹ học của I. Kant.
Ở nước ta, đã có nhiều tác giả đi vào nghiên cứu triết học I. Kant. Về phương
diện lịch sử, người đề cập đến triết học I. Kant sớm nhất là GS. Trần Đức Thảo trong
tác phẩm: “Lịch sử tư tưởng trước Marx”. Trong đó, GS. Trần Đức Thảo đã trình bày



6


thần của con người như một cái cao cả nhất trong những cái cao cả hiện có. Con người
đồng thời là những giá trị đẹp nhất trong những giá trị hiện có. Thông qua phép phân
tích các phạm trù cơ bản của mỹ học, Kant đã tiến gần tới phép biện chứng về mối quan
hệ giữa yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan trong những khái niệm thẩm mỹ. Lý
luận về hoạt động nghệ thuật của Kant là phần đóng góp đáng kể trong mỹ học của ông.
Bằng lý luận đó, ông đã đề cao năng lực sáng tạo đặc biệt của con người nói chung, văn
nghệ sĩ nói riêng. Nghệ thuật là lĩnh vực sáng tạo của sáng tạo, khả năng sáng tạo nghệ
thuật chỉ có ở con người có lý tính...
Trong cuốn “Lịch sử triết học”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 do
Nguyễn Hữu Vui chủ biên có viết: Hoạt động nghệ thuật là một trong những lĩnh vực
cơ bản để con người gắn liền lý luận và thực tiễn. Ở đây, con người chủ yếu sử dụng
khả năng cảm thụ và đánh giá sự vật. Nghệ thuật là hoạt động tự do của con người theo
chuẩn mực của cái đẹp. Vì vậy, phạm trù trung tâm của thẩm mỹ học là cái đẹp. Kant
không quan tâm xem xét vấn đề có tồn tại cái 5 đẹp khách quan trong tự nhiên hay
không, mà chỉ nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa con người với tư cách chủ thể hoạt động
với các sự vật tự nhiên, nhất là với những thành quả hoạt động của con người.
Từ điển Triết học I. Kant (A I. Kant Dictionary) của Howard Caygill. Không chỉ
những khái niệm đơn thuần như cái Đẹp, cái Cao cả, cái Đức... mà cả những khái niệm
khó hiểu của I. Kant như: tiên nghiệm, hậu nghiệm, siêu nghiệm, võng luận,... đều được
tác giả Howard Caygill lý giải một cách công phu và đặt trong lịch sử hình thành phát
triển của nó. Chính điều này giúp những người nghiên cứu về triết học I. Kant tiếp cận
với tư tưởng của ông dễ dàng hơn.
Đặc biệt là bộ ba tác phẩm phê phán của I. Kant, đó là “Phê phán lý tính thuần túy”
(1781), “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788) và “Phê phán năng lực phán đoán” (1790),
nhưng tập trung chủ yếu vào tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” đã được dịch giả
Bùi Văn Nam Sơn dịch ra tiếng Việt, do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2007.

đoán ".
Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản về cái đẹp trong tác phẩm “Phê phán
năng lực phán đoán ’’ của Kant.
Thứ ba, đưa ra những nhận xét, đánh giá quan niệm về cái đẹp trong tác phẩm
“Phê phán năng lực phán đoán ".
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.

Đối tượng nghiên cứu

8


Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm của Kant về cái đẹp được trình
bày trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán ".
4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Tác giả đi sâu nghiên cứu về cái đẹp theo quan niệm của Kant. Để hoàn thành
luận văn tác giả tiến hành nghiên cứu bộ ba tác phẩm phê phán của I. Kant, đó là “Phê
phán lý tính thuần túy " (1781), “Phê phán lý tính thực tiễn " (1788) và “Phê phán
năng lực phán đoán " (1790), nhưng tập trung chủ yếu vào tác phẩm “Phê phán năng
lực phán đoán " (1790), đã được dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch ra tiếng Việt, do Nhà
xuất bản Văn học xuất bản vào năm 2007.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời, luận văn dựa trên những
nghiên cứu của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lịch sử triết học nói chung, về triết
học I. Kant nói riêng; các sách, bài nghiên cứu của các tác giả về triết học cổ điển Đức,

1.1.1.

Điều kiện kinh tế

Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nước Đức vẫn còn là một quốc gia
phong kiến điển hình, lạc hậu cả về kinh tế và chính trị. Việc tiếp tục tăng cường quyền
lực duy trì chế độ quân chủ của triều đình vua Phổ Phriđrich Vin Hem đã cản trở đất
nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, khiến cho công nghiệp, thủ công
nghiệp, nông nghiệp bị hạn chế, khiến người dân Đức cảm thấy bất bình trước tình cảnh
đất nước thời bấy giờ. Nhiều sử gia đánh giá, nước Đức thế kỷ XVIII là một trong
những nước lạc hậu bậc nhất châu Âu, cuộc chiến tranh Ba mươi năm (1618 - 1648) với
nước láng giềng đã làm tiêu hao sinh lực của nó. Suốt thời gian dài nước Đức nằm
trong tình trạng trì trệ, bảo thủ, bị chia năm xẻ bảy bởi nạn cát cứ. Bộ máy nhà nước
của chế độ quân chủ tỏ ra hà khắc, nhưng kém năng động và hết sức quan liêu, đàn áp
tư tưởng tự do và dân chủ. Xét theo mức độ cách mạng thì Đức lạc hậu hơn so với Anh
200 năm, so với Pháp 50 năm. Đó là sự cách biệt quá lớn. Song quy luật phát triển của
tri thức triết học cho thấy rằng chính khi trong đời sống xã hội và sinh hoạt tinh thần
nảy sinh những tình huống có vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết, thì khi ấy, tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể, vào khả năng chủ quan của tư duy con người, truyền thống văn hóa,
mà xuất hiện hàng loạt phương án khác nhau nhằm giải quyết chúng. Nước Đức nửa
sau thế lỷ XVIII hội đủ các đặc điểm ấy. Hơn nữa giai cấp tư sản Đức sinh sau đẻ muộn
đã biết tiếp thu kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, kết thừa có chọn lọc và phát triển
chúng trong điều kiện của mình, bất chấp tình trạng trì trệ của hiện thực vật chất. Tính
vượt trước của tri thức, tư tưởng chính là ở đây. Vậy là trên bản đồ Tây Âu lúc đó xuất
hiện ba cường quốc với ba thế mạnh khác nhau: nước Anh với ưu thế vượt trội về kinh


tế, nước Pháp được xem là diễn đàn các tư tưởng và phong trào chính trị, nước Đức với
cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý trí.
Nói về thời kì lịch sử đó, Ăngghen đã nói như sau: không một ai cảm thấy mình


Những chuyển biến về kinh tế dẫn đến sự thay đổi về phân bố lực lượng giai cấp
trong xã hội. Giai cấp quý tộc phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị trong bộ máy nhà
nước và ngoan cố tăng cường quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến.
Do đó, tình trạng đất nước bị chia cắt với quyền lực vô hạn của các tiểu vương quốc là
một trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Do sự chuyển biến về kinh tế và chính trị, những mâu thuẫn cơ bản của xã hội
Đức ngày càng bộc lộ rõ. Bước vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, mâu thuẫn
giữa giai cấp tư sản với chế độ quân chủ chuyên chế và mâu thuẫn giữa giai cấp công
nhân cùng đông đảo quần chúng nhân dân lao động với giai cấp quý tộc phong kiến
càng trở nên sâu sắc. Điều đó phản ánh mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản chủ
nghĩa ngày càng phát triển với quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu đang kìm hãm sức
sản xuất.
Rõ ràng khi phân tích xã hội tư bản có thể thấy rằng trong thực tiễn lẫn nhận
thức phương pháp biện chứng thâm nhập khắp nơi, thể hiện tính chất của thời đại mới
năng động và phát triển. Phép biện chứng của triết học cổ điển Đức, theo nghĩa này, là
sự kế thừa, hệ thống hóa, cụ thể hóa, làm sâu sắc thêm tinh thần biện chứng của thời
đại. Nó là tinh thần của thời đại được trình bày bởi phong cách Đức. Vì thế, bên cạnh
những nét tiêu biểu, độc đáo, sáng tạo, phụ thuộc vào năng lực chủ quan của những
người sáng tạo ra tri thức, vào điều kiện của gia đình, xã hội ở những chặng đường nhất
định, sự hình thành phong cách tư duy Đức không thoát khỏi quy luật phổ biến, chi
phối diện mạo sinh hoạt tinh thần chung.
Hiện thực của nước Đức và bối cảnh của thời đại in đậm dấu ấn của mình trong
cuộc hành trình tư tưởng của các nhà triết học, làm nổi bật mâu thuẫn giữa hệ thống và
phương pháp, thậm chí giữa các thời kỳ khác nhau ở cùng một nhà triết học. Có thể lấy
Kant, Fichte, Schelling và Hegel làm sáng tỏ mâu thuẫn khó vượt qua này : phương
pháp biện chứng tồn tại trong hệ thống duy tâm, tư tưởng tiến bộ, cách mạng đan xen
với các yếu tố bảo thủ; hoặc sự xung đột giữa hai thời kỳ (thời kỳ “tiền phê phán” và



quá khứ để làm sống lại các giá trị thời vàng son. Kant, Fichte, Hegel, Goethe,
Schiller... đã từng ngợi ca cách mạng Pháp, xem nó như sự trỗi dậy của bình minh, biểu
tượng của tự do, đánh dấu sự khởi sắc của thời đại mới. Voltaire và Rousseau được tôn
vinh thành những hiệp sỹ của công lý. Tuy nhiên, nước Pháp giai đoạn chuyên chế cách
mạng, tức giai đoạn Jacobin, đã làm cho các nhà triết học và các nhà thơ Đức hoảng sợ.
Họ liên tưởng đến nước Đức tương lai tắm trong máu và nước mắt qua những cuộc tàn
sát và bạo loạn. Bây giờ, trong suy tư của họ hình ảnh quá khứ thay thế cho tương lai,
đóng vai trò của sức mạnh an ủi và dẫn dắt. Mâu thuẫn là ở chỗ một mặt các triết gia
Đức thừa nhận tiến trình lịch sử là không thể đảo ngược, mặt khác họ không thể chấp
nhận cái giá quá đắt cho tự do và dân chủ. Sự yếu đuối và dao động là đặc trưng chính
trị của những người thị dân Đức, nó thể hiện khá rõ nét trong hệ thống duy tâm Đức,
điển hình là Hegel, phần nào trong yếu tố bất khả tri của triết học Kant, trong “tồn tại
tuyệt đối” của Fichte thời kỳ B e r l i n . .
1.1.3.

Điều kiện văn hóa

Về mặt văn hóa, có thể nói các cuộc cách mạng xã hội thế kỉ XVII - XVIII mở
đường cho sự phát triển các tư tưởng xã hội tiến bộ. Hầu hết các đại biểu của nó như I.
Kant, Hegel . đều xuất thân từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội.
Đức vốn là quốc gia có truyền thống văn hóa phát triển cao. Đất nước này đã
sản sinh ra nhiều nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Chính
trong thời kì này đã xuất hiện những thiên tài lỗi lạc. Nền văn hóa Đức một mặt đã tiếp
thu đầy đủ các di sản quý báu của nền văn hóa Đức truyền thống. Mặt khác, nền văn
hóa ấy còn chịu sự tác động của văn hóa thời kì Phục hưng và tư tưởng Khai sáng ở
Châu Âu thế kỉ XVIII.
Những nhà khai sáng đánh giá cao tiếng nói mỗi dân tộc Đức và chỉ trích tập
quán thời Trung cổ, bắt buộc rằng những tư tưởng khoa học và triết học phải được trình
bày bằng tiếng Latinh. Làm cho số đông nhân dân không hiểu được. Họ công kích thần
học, chống lại triết học kinh viện và bênh vực cho sự suy nghĩ độc lập như các nhà khai

nữa trong các tác phẩm của Schiller và Goethe. Theo Sécnưsepxki thì hai ông đã hoàn


thành sự nghiệp của Lessing, là những đại biểu ưu tú nhất của dân tộc Đức và của nền
văn hóa nhân loại.
Schiller (1759 - 1805) là nhà thơ, nhà soạn kịch lỗi lạc không chỉ với nước Đức
mà còn với văn học thế giới. Ông đã kiên quyết vạch mặt chế độ chuyên chế phong
kiến, những đặc quyền đẳng cấp. Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Schiller đã tấn công
vào những quan niệm lạc hậu của chế độ phong kiến, đóng vai trò tiến bộ trong sự
nghiệp văn hóa nhân đạo chủ nghĩa Đức và góp phần thúc đẩy tinh thần chống phong
kiến trong các tầng lớp tiên tiến của giới tri thức Đức. Cũng như những nhà khai sáng
tư sản khác, Schiller tin tưởng sâu sắc rằng có thể hủy bỏ chế độ phong kiến nông nổ
bằng sức mạnh của lý trí và giáo dục. Trong mỹ học của ông những quan điểm siêu
hình trà trộn với những yếu tố biện chứng duy tâm.
Johann Wolfgang von Goethe (1749 -1832) được biết đến là một tên tuổi lỗi lạc
của lịch sử triết học và lịch sử văn hóa Đức. Ông là lãnh tụ của thi ca Đức và là nhà
bách khoa xuất chúng. Goethe đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ như kêu gọi mọi người
nên sống một cách tự nhiên, giản dị và nên từ bỏ những tập quán phong kiến lỗi thời.
Những quan điểm về mỹ học của ông thể hiện sự cố gắng của mình để xây dựng chủ
nghĩa hiện thực trong nghệ thuật. Goethe cũng nêu lên nhiều dự đoán có tính biện
chứng trong lĩnh vực mỹ học.
Ngoài ra những tác phẩm của Goethe về mặt khoa học tự nhiên cũng rất đặc sắc.
Những nghiên cứu của ông về thực vật học chứa đựng những dự đoán xuất sắc đối với
sự phát triển của giới thực vật. Trong khoa học giải phấu so sánh, ông đã có một phát
minh xuất sắc. Goethe khám phá ra xương giữa hai xương hàm của người. cái đó chứng
minh sự liên hệ giữa người với động vật... Goethe chống lại những nhà kinh viện và
đưa ra đề xuất phải nghiên cứu hiện thực bằng cách xuất phát từ những quy luật sẵn có
của nó. Điều này chứng tỏ ông đã đứng trên lập trường duy vật.
Bên cạnh những thành tựu về văn hóa, Tây Âu thời kì này còn đạt nhiều thành
tựu về khoa học tự nhiên. Việc phát minh ra điện, bản chất về sự sống sau sự sụp đổ của

của tầng lớp quý tộc đã bắt đầu thi hành trong nước Đức.
Những nhà lý luận của giai cấp tư sản Đức vẫn đặt hy vọng của họ vào sự tiến
triển tự phát của các biến cố và sáng kiến của “những tầng lớp trên” trong xã hội. Điều


đó đẩy tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thống nhất nước Đức một cách
khách quan. Nhưng lý luận Đức của cách mạng Pháp lại khác quan điểm của những nhà
khai sáng Pháp bởi vì: Những triết gia Đức khi phản ánh quá trình phát triển của cách
mạng Pháp trong quan điểm của họ, lại coi rằng những kết quả chính trị thực tiễn và
luật pháp mà cuộc cách mạng 1789 - 1794 đã giành được, về căn bản không thực hiện
được ở Đức. Ví dụ như trong triết học Kant thì nền cộng hòa chỉ là một định đề của lí
tính thực tiễn, chỉ là một nghĩa vụ mà những người có thiện chí phải noi theo, nhưng
trên thực tế thì nền cộng hòa lại là lý tưởng không thể đạt được. Cách giải thích cuộc
cách mạng tư sản Pháp như vậy đã phản ánh một sự yếu ớt thực sự về kinh tế và chính
trị của nước Đức, đã phản ánh sự phát triển độc đáo của giai cấp đó.
Không chỉ những quan điểm chính trị xã hội mà cả những quan điểm triết học
của các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVIII cũng đã khác về căn
bản với những quan điểm xã hội chính trị và về căn bản với những nhà lý luận của giai
cấp tư sản cách mạng Pháp. Nếu như những quan điểm của những nhà khai sáng Pháp
hồi thế kỷ XVIII thường dẫn tới sự hủy bỏ chế độ cũ bằng con đường cách mạng thì
những nhà lý luận tư sản Đức hồi cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX lại đặt lí tưởng của
họ vào chỗ hòa giải giữa chế độ cũ với chế độ mới bằng con đường cải lương.
Các nhà khai sáng Pháp và triết học duy tâm Đức về căn bản thừa nhận phải có
những cải cách xã hội nhưng phương pháp thực hiện của họ lại hoàn toàn khác nhau.
Những nhà duy vật Pháp tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không có sự can thiệp một cách có
ý thức vào quá trình lịch sử thì trật tự xã hội mới không thể thắng lợi được. Tất cả hi
vọng của họ đều đặt vào sự cải tổ lại xã hội về mặt chính trị cho phù hợp với những
“yêu cầu của lí trí và của bản chất con người”. Còn những nhà tư tưởng khai sáng Đức
thế kỉ XVIII thì lại đặt hi vọng của họ vào sự phát triển “tự nhiên” của đời sống xã hội
bằng cách mạng. Thái độ phản đối dùng con đường cách mạng để cải cách nước Đức

tảng của chủ nghĩa duy tâm thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII, mà Hume, Leibniz và
Wolff xứng đáng được gọi là những bậc tiền bối trực tiếp. Nếu ở các nhà duy tâm Đức


có đủ hai biểu hiện phổ biến của nó là duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan, thì
chủ nghĩa duy vật Feuerbach lại kết hợp với thuyết nhân bản, lấy con người làm điểm
xuất phát và nền tảng, nhằm khắc phục phần nào tính chất phiến diện trong lý luận về
con người của thế kỷ trước. Hegel đưa chủ nghĩa duy tâm lên trình độ chủ nghĩa duy
tâm tuyệt đối, còn Feuerbach lại lấy tự nhiên và con người - sản phẩm hoàn thiện nhất
của nó - làm đối tượng chủ yếu, loại bỏ Thượng đế ra khỏi sự quan tâm triết học.
Có thể nói, tư tưởng Triết học Đức nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là sự kế
tục và phát triển tất yếu của những trào lưu tư tưởng triết học tiên tiến của thế kỉ XVII XVIII. Những nhà tiền bối về mặt lịch sử của triết học Đức là những nhà tư tưởng lỗi
lạc như nhà triết học toán học Pháp, Decartes, nhà duy vật Hà Lan Spinoza, nhà triết
học và khoa học Đức Leibniz, những nhà khai sáng Đức cuối thế kỉ XVIII như Fichte,
Schelling, Goethe...
1.2. Khái quát chung về tác giả, tác phẩm
1.2.1. Khái quát chung về tác giả
Tất cả những yếu tố khách quan nêu trên đều tác động đến mọi người như nhau,
nhưng tại sao chỉ có I. Kant mới hình thành tư tưởng về chủ thể nhận thức theo một
cách riêng của ông. Chúng ta cần phải xét đến nhân tố chủ quan ở đây, đó chính là: trí
tuệ uyên bác của I. Kant và cuộc đời bình lặng nhưng ẩn chứa nhiều khác biệt của ông.
Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 trong một gia đình trung lưu gốc
Scottland tại Königsberg - một thành phố nhỏ thuộc vùng đông bắc nước Phổ (nay là
Kaleningrad thuộc Nga), là con trưởng của gia đình 11 người con. Thành phố bến cảng
Königsberg thời kỳ này khá phát triển về thương mại, buôn bán, thông thương cho nên
Kant có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Thành phố hẻo lánh này
không chỉ là kinh đô của Đông Phổ mà còn là trung tâm của trí thức và khu vực nói
tiếng Đức (lớn hơn cả Béclin). Một thành phố như vậy, có thể được xem là một nơi
thuận tiện để mở rộng kiến thức về con người cũng như về thế giới mà không cần phải
viễn du. Điều này lý giải vì sao I. Kant suốt đời không rời khỏi thành phố quê hương

năng lực phán đoán chắc chắn nhất, Kant đã trình bày nguyên tắc sống của mình: Đối


với chúng ta, điều đáng quý nhất không phải là đi theo lối mòn đã có, mà phải biết đi
theo con đường mà loài người cần đi[31,24]. Quả thực cả cuộc đời ông đã hành động
theo nguyên tắc đó. Sau khi tốt nghiệp đại học, I. Kant đã làm gia sư trong các gia đình
quý tộc gần 10 năm. Đây cũng là thời gian quý báu để Kant tích lũy tri thức cho sự
nghiệp khoa học sau này. Năm 1755, sau 10 năm chuẩn bị, I. Kant bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ với đề tài “Cách nhìn mới về các nguyên tắc của tri thức siêu hình ”,
nhờ đó ông nhận được danh hiệu phó giáo sư của trường đại học tổng hợp Königsberg.
Trong 10 năm, hai lần ông xin làm giáo sư thực thụ đều bị từ chối. Vị phó giáo sư vẫn
phải kiếm sống bằng cách làm phụ việc cho thư viện Hoàng gia Königsberg trong vòng
15 năm với số lương ít ỏi. Mãi tới năm 1770 khi đã 46 tuổi I. Kant mới được bổ nhiệm
làm giáo sư lôgic siêu hình học của trường Đại học Tổng hợp Königsberg. Ở đây trong
gần 30 năm, với lòng hăng say, đức tính cần mẫn và tư chất thông minh của mình, ông
đã giảng dạy nhiều môn khoa học khác nhau và viết nhiều tác phẩm triết học cơ bản.
Ông luôn cố gắng tìm hiểu những điểm yếu của đối thủ để có thể phản bác lại trong quá
trình tranh luận, đồng thời phát triển các quan điểm riêng của mình. Trong giảng dạy,
ông cũng hướng dẫn sinh viên theo lối tư duy tự do, chính vì vậy, các bài giảng của ông
thường rất hấp dẫn đối với sinh viên, gợi mở cho họ nhiều ý tưởng mới. Thời bấy giờ,
các giảng viên tại các trường đại học vẫn thường lấy các kiến thức trong sách giáo khoa
để giảng cho sinh viên. Còn Kant chỉ coi sách giáo khoa như là sự gợi mở. Trong các
bài giảng của mình, Kant tìm cách khơi gợi để sinh viên thấy rõ được tư tưởng của ông
qua những khái niệm ấy và tự rút ra kết luận.
Năm 1789, ở Pháp diễn ra cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Là người chịu ảnh
hưởng sâu sắc từ tư tưởng khai sáng Pháp, I. Kant tỏ ý đồng tình với cuộc cách mạng
này. Để tránh đụng chạm đến chính quyền nhà nước Phổ, trong các bài viết I. Kant giữ
thái độ ôn hòa, song sự bất đồng là không thể tránh khỏi. Trong sự nghiệp khoa học, I.
Kant là người gặt hái được nhiều thành công: năm 1786 ông được bầu làm viện sỹ Viện
Hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Béclin; năm 1794 ông trở thành viện sỹ danh dự

của các quan điểm duy tâm thần bí của triết học Leibniz, Wolf và quan niệm duy vật


siêu hình của Newton, Descartes. Sau này ông đi đến xây dựng thế giới quan độc lập
của mình. Vì vậy, bên cạnh nhiều quan niệm duy tâm thần bí về cơ bản Kant thể hiện
như một nhà duy vật khoa học tự nhiên.
Về phương diện thế giới quan, triết học I. Kant thời kỳ tiền phê phán được xây
dựng trên luận điểm nổi tiếng: Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó,
nghĩa là hãy cho tôi vật chất tôi sẽ chỉ cho bạn thấy thế giới được sinh ra như thế nào. I.
Kant nhận thấy rằng cần phải giải phóng triết học khỏi cái vỏ học thuật tư biện và chủ
nghĩa giáo điều. Những luận điểm triết học cần phải được chứng minh bằng các tri thức
khoa học tự nhiên. Chính vì vậy trong tác phẩm đầu tay “Ý tưởng về việc đánh giá
đúng các hoạt lực ”, I. Kant đã dựa trên quan điểm vật lý học để giải quyết cuộc tranh
luận giữa phái Descartes và phái Leibniz về vấn đề nguồn gốc và thước đo của sự vận
động.
Descartes khi giải thích về nguồn gốc của vận động đã đồng nhất vật chất với
quảng tính. Ông không coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, mà coi vận động
chỉ là biểu hiện cụ thể, bên ngoài của các sự vật. Cách giải thích của ông đã rơi vào
quan điểm siêu hình về nguồn gốc của vận động. Leibniz thì cho rằng, mỗi sự vật đều
có một lực bản chất tiềm ẩn bên trong bản thân nó. Lực đó ở bên ngoài quảng tính,
thậm chí có trước quảng tính. Leibniz gọi đó là “hoạt lực”. Hoạt lực này rất đa dạng
trong tính cá thể, nhưng lại thuần nhất trong tính bản chất. Chúng sinh ra năng lượng
làm nguồn gốc của vận động. Theo dõi cuộc tranh luận đó, Kant đứng về phía Leibniz,
nhưng loại bỏ lớp vỏ duy tâm huyền bí, thay các khái niệm “lực bản chất”, “hoạt lực”
của Leibniz bằng các khái niệm cụ thể và dễ hiểu hơn như “lực tích cực”, “sự tự vận
động”. Kant viết: “Vật thể có lực của mình không phải do nguyên nhân bên ngoài làm
cho nó vận động. Vật thể vận động được là nhờ có một lực, nhưng lực đó không phải
do nguyên nhân bên ngoài, sau sự kích thích bên ngoài; lực đó xuất hiện từ bản chất của
vật thể” [15, 80]. Tuy không nhìn thấy sự khác nhau giữa quan điểm của Descartes
(thước đo số lượng vận động) và của Leibniz (thước đo động năng), song nét mới mà

toàn hệ thống. Nếu có sự xê dịch của một yếu tố nào đó, sẽ dẫn đến tình trạng mất cân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status