A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài:
- Bắt đầu từ năm học 2011- 2012, Sở Giáo dục và Đào tạo Long An đã áp
dụng việc dạy hệ giáo dục thường xuyên trong trường Trung học phổ thông. Tính
đến nay ( năm 2018) đã trải qua gần 7 năm học. Một thời gian không quá dài nhưng
cũng khá đủ để nhìn lại, đánh giáo sơ nét về công tác giáo dục này.
- Vào năm học 2011-2012, khi lần đầu tiên đưa hệ giáo dục thường xuyên
trong trường Trung học phổ thông, chúng ta đã thấy được sự đón nhận và phản ứng
khác nhau của nhiều trường. Điều đó đã thể hiện phần nào sự lo lắng, băn khoăn
của những trường có áp dụng dạy chương trình này.
- Khách quan mà nói thì sự băn khoăn và lo lắng ấy là hợp lí. Bởi do rất
nhiều nguyên nhân. Mà nguyên nhân lớn nhất mà ta có thể nhìn thấy được đó là
nhà trường phải chấp nhận dạy cùng lúc hai đối tượng học sinh: Trung học phổ
thông và Giáo dục thường xuyên, điều đó cũng đồng nghĩa là cùng thực hiện quy
chế chuyên môn cũng khác nhau,...Chính điều đó đã phần nào nói lên được khó
khăn nhất định của các cơ sở giáo dục.
- Nhưng hiện nay, khi mà việc áp dụng dạy hệ giáo dục thường xuyên trong
trường Trung học phổ thông đã gần được 3 năm học thì việc nhìn nhận lại vấn đề
này đã có sự khác biệt. Nhìn chung tất cả các trường đã nhận thấy được tầm quan
trọng của việc giáo dục này. Thấy được ý nghĩa chính trị và nhân văn vô cùng to
lớn của nó trong công tác phổ cập giáo dục.
- Đạt được kết quả về mặt tư tưởng ấy là nhờ vào việc tuyên truyền sâu rộng
của các cấp có thẩm quyền. Đặc biệt là sự định hướng tư tưởng đúng đắn cho
nhiệm vụ giáo dục quan trọng này. Và kết quả ấy đã được thể hiện bằng việc hệ
giáo dục thường xuyên trong trường Trung học phổ thông đã bắt đầu hòa chung vào
guồng máy giáo dục và đạt được một số hiệu quả nhất định.
- Mặc dầu vậy, không thể nói rằng việc áp dụng việc dạy hệ giáo dục thường
xuyên trong trường Trung học phổ thông không còn gặp những khó khăn, vướng
mắc. Thực tế cho thấy vẫn còn một số cơ sở giáo dục phổ thông trong tỉnh còn đạt
chất lượng khá thấp ở hệ này. Điều đó, ta có thể thấy qua báo cáo sơ kết hai năm
thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên trong trường phổ thông vào tháng 6
nghiên cứu, viết sáng kiến kinh nghiệm này để có thể trao đổi với đồng nghiệp, từ
đó tôi có thể trao dồi, học hỏi nhiều hơn từ những kinh nghiệm quý báu của các
đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị.
III. Đối tượng ngiên cứu:
- Đối tượng cụ thể mà đề tài hướng đến đó là đối tượng học sinh thuộc hệ
giáo dục thường xuyên trong trường THCS & THPT Mỹ Quý. Cụ thể là các học
sinh thuộc khối lớp 10, 11, 12.
- Mặc dù vấn đề này ít nhiều đã có người nghiên cứu, song với lòng nhiệt
thành cùng với kinh nghiệm thực tế công tác giảng dạy, tôi đã cố gắng viết sáng
kiến kinh nghiệm này vì đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ và với mong
muốn tiếp tục được trao đổi và mong nhận được nhiều sự góp ý chân thành.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Để viết được sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã thu nhập thông tin, đúc kết
kinh nghiệm sau một thời gian giảng dạy. Cụ thể là lớp 10B ( năm học 2011- 2012),
lớp 10A5, 11A4 (năm học 2012-2013), lớp 11A4, 12A4 ( năm học 2013- 2014).
- Một số phương pháp chủ yếu được sử dụng: Phương pháp thu thập thông
tin, thống kê, tổng hợp, phân tích, pháp so sánh…
PHẦN B: PHẦN NỘI DUNG:
2
I. Cơ sở lý luận:
- Chúng ta biết rằng ở giai đoạn này các em học sinh có sự phát triển tâm lí
khá phức tạp. Chính điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến hành vi cũng như nhân
cách của các em.
- Hơn thế, ở các học sinh hệ giáo dục thường xuyên do đa số các em có sự
hạn chế về nhận thức nên dễ dàng dẫn đến việc lệch chuẩn về hành vi và nhân cách.
- Ở lứa tuổi các em, đặc biệt là các em hệ giáo dục thường xuyên rất cần có
sự tư vấn, hỗ trợ, giáo dục đúng mực của những người có năng lực và tâm huyết.
Và trong quá trình giáo dục rất cần có sự đầu tư, kiên trì và linh hoạt trong việc áp
- Còn riêng đối với các trường trung học phổ thông đóng trên địa bàn vùng
sâu thì điều ấy lại đáng lo ngại hơn. Hầu hết các em ở những vùng này có khả năng
học tập kém, chất lượng tuyển sinh lớp 10 không cao, cùng với việc hầu hết các em
có hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn. Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả học tập của các em nói chung và lại càng ảnh hưởng hơn đối với
các em học sinh hệ giáo dục thường xuyên trong nhà trường. Đơn cử như ở trường
THCS & THPT Mỹ Quý, hai năm qua, kết quả đào tạo ở hệ giáo dục thường xuyên
cũng còn khá thấp. Nó được cụ thể hóa thông qua hai bảng sau:
Bảng 1:
Thống kê kết quả học lực, hạnh kiểm của học sinh các lớp giáo dục thường xuyên
KẾT QUẢ GIÁO DỤC
Năm học
2011-2012
2012- 2013
Lớp
Sĩ số
Học lực
Hạnh kiểm
( Dưới Trung
bình)
0 ( 0.0 %)
1 ( 5.0 %)
Bảng 2:
Thống kê kết quả học sinh bỏ học của học sinh các lớp giáo dục thường xuyên
Năm học
Lớp
Sĩ số
đầu
năm
2011-2012
10B
39
34
0
5 ( 12.8 %)
10A5
- Điều này khiến cho tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường cũng như các
giáo viên đảm trách giảng dạy hoặc chủ nhiệm các lớp hệ giáo dục thường xuyên
phải băn khoăn và tìm hướng khắc phục có hiệu quả hơn.
IV. Một số đặc điểm của học sinh hệ giáo dục thường xuyên ở trường THCS &
THPT Mỹ Quý và các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục:
4
1. Một số đặc điểm học sinh hệ GDTX:
1.1. Đặc điểm gia đình:
1.1.1. Đặc điểm kinh tế:
Qua việc nắm bắt thông từ học sinh, phụ huynh học sinh, giáo viên chủ
nhiệm và đặc biệt là thông qua phiếu điều tra, ta có thể thấy được có rất nhiều học
sinh có hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn.
Bảng 3:
Thống kê hoàn cảnh kinh tế gia đình của học sinh các lớp giáo dục thường xuyên
Năm học
2013- 2014
Sĩ số học sinh
(10+11+12)
74
Hoàn cảnh kinh tế gia đình
Nghèo
Trung bình trở lên
29 (39.18 %)
- Cha mẹ là bậc sinh thành mà người con nào cũng xem là hình tượng thiêng
liêng. Chính cha mẹ là người che chắn, bảo vệ cho con suốt cuộc đời mình. Thế
nhưng có không ít một số em học sinh thật không may mắn khi trong cuộc sống
phải vắng bóng cha hoặc mẹ, thậm chí phải mồ côi cha lẫn mẹ. Trong đó, việc cha
mẹ ly hôn thật sự là nỗi bất hạnh lớn đối với con cái. Có những trường hợp sau khi
cha mẹ ly hôn, người con bị trầm cảm nặng, thậm chí rối loạn thần kinh. Đôi khi có
em bắt đầu có những hành vi thô bạo, hư hỏng.
- Có rất nhiều em học sinh ở các lớp thuộc hệ giáo dục thường xuyên phải
chịu sống trong cảnh vắng cha hoặc thiếu mẹ. Đơn cử như lớp 10A5 ( năm học
2012- 2013) là một trường hợp đặc biệt. Sĩ số đầu năm là 27 học sinh thì trong đó
có đến 11 em học sinh có hoàn cảnh gia đình cha mẹ ly thân, ly dị, mồ côi cha hoặc
mẹ (Chiếm tỉ lệ 40.74%) . Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của các em.
Dẫn đến kết quả học tập của các em là rất thấp. Còn ở năm học này ( 2013- 2014)
các lớp khác thuộc hệ này cũng có con số ấy cũng khá ấn tượng. ( Theo thống kê ở
ba lớp thường xuyên có đến 16/74 gia đình các em học sinh có tình trạng cha mẹ ly
thân, ly dị, mồ côi cha hoặc mẹ, chiếm tỉ lệ 21.62 %).
Ví dụ: Em Mai Văn Vinh là học sinh lớp 10A5 ( năm học 2012- 2013), hiện
nay là học sinh lớp 11A4, cư ngụ tại xã Mỹ Thạnh Bắc. Cha mẹ ly dị khi em còn
nhỏ, em phải sống với mẹ cùng với bà ngoại đã già. Cha em tuy sống không xa đó
nhưng không hề quan tâm cộng với việc kinh tế gặp rất nhiều khó khăn nên ảnh
hưởng rất lớn đến tâm lý của em. Từ lúc học cấp THCS, em đã có hiện tượng trốn
học chơi game, bi da, hay cáu gắt với mẹ và ngoại, lại hay vô lễ với giáo viên,
thậm chí là đánh bạn. Em lại còn thói xấu hút thuốc rất nhiều. Khiến cho kết quả
học tập suốt các năm THCS và đầu học kì I lớp 10 là rất thấp. Khó khăn lắm em
mới có thể lên lớp cuối năm.
1.1.3. Đặc điểm về lối sống của gia đình:
- Ngoài thời gian đến trường thì gia đình là nơi mà các em gắn bó nhiều nhất.
Vì thế, gia đình là yếu tố rất quan trọng để hình thành nên nhân cách của các em.
Những cách cư xử, hành vi, thái độ của những người trong gia đình có tác động rất
xuyên có học lực rất kém. Tất cả các em đều là những học sinh có điểm thấp nhất
trong các kì tuyển sinh lớp 10. Cá biệt có em có tổng điểm ba môn chưa đạt được 2
điểm. Chúng ta có thể theo dõi bảng thống kê sau:
Bảng 4:
Thống kê số điểm tuyển sinh lớp 10 hệ Giáo dục thường xuyên
Năm học
Số lượng tuyển
Hình thức tuyển
Điểm trúng tuyển
2012- 2013
27
Thi tuyển
1.5- 10
2013- 2014
43
Thi tuyển
5.5- 15.25
Khá
Trung
bình
Yếu
Kém
0
4
19
17
2
( 0 %)
( 9.52 %)
( 45.23%)
(40.47 %)
( 4.78%)
2.1.Về phía giáo viên chủ nhiệm:
Hơn ai hết, trong hoạt động giáo dục, giáo viên chủ nhiệm chiếm vị trí vai trò
vô cùng quan trọng. Điều đó lại càng quan trọng hơn đối với các lớp giáo dục
thường xuyên. Giáo viên chủ nhiệm luôn giữ vai trò là cầu nối giữa Ban giám hiệu,
giữa các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường, giữa giáo viên bộ môn,…với
học sinh của lớp mình. Chính vì thế, người giáo viên chủ nhiệm phải quản lý một
cách toàn diện lớp học bằng chính năng lực và tâm huyết của mình.
Thực tế trong thời gian qua tại trường, Ban giám hiệu nhà trường, từ đầu
năm học cũng đã cố gắng sắp xếp công tác chủ nhiệm các lớp giáo dục thường
xuyên cho những giáo viên chủ nhiệm năng nổ, có kinh nghiệm và nhiệt huyết với
nghề. Chính vì điều đó mà ở các lớp này đã đạt được kết quả học tập khá ổn định.
Tuy nhiên, do là thời gian áp dụng việc đưa lớp giáo dục thường xuyên vào
trường phổ thông còn mới cộng với việc kinh nghiệm đúc kết chưa nhiều nên kết
quả đạt được cũng còn hạn chế. Đặc biệt là công tác giáo viên chủ nhiệm. Cũng từ
đó mà qua việc phát phiếu thăm dò ( năm 2014), các em học sinh ở một số lớp vẫn
còn chưa có ấn tượng tốt về giáo viên chủ nhiệm của mình. Đặc biệt có lớp có đến
60% học sinh mong muốn thay giáo viên chủ nhiệm vì cảm thấy giáo viên ấy chưa
hiểu được tâm lý học sinh. Đó cũng là một con số đáng phải suy nghĩ, khiến chúng
ta cần phải có cách nhìn nhận đúng đắn hơn trong công tác chủ nhiệm.
Chính vì thế, là một người tâm huyết với nghề cộng với việc đã công tác ở
các lớp này một thời gian, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau nhằm đạt
được hiệu quả tốt hơn.
- Trước hết, giáo viên chủ nhiệm cần phải nghiên cứu hoàn cảnh gia đình học
sinh. Việc nắm thông tin ấy có thể làm bằng nhiều cách. Ta có thể tìm hiểu thông
qua giáo viên chủ nhiệm cũ, thông qua việc tìm hiểu trực tiếp từ các em, hoặc tốt
nhất là ta đến nhà các em nếu có thể,…Từ đó, ta có thể có những kế hoạch hỗ trợ,
giúp đỡ các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn một cách kịp thời hơn.
- Thứ hai, giáo viên chủ nhiệm phải nắm vững tâm lý của từng em học sinh.
Đó có thể là: tâm tư, nguyện vọng, ước mơ, sở thích, thắc mắc, khó khăn,…Từ đó,
ta có thể điều chỉnh kịp thời các biện pháp giáo dục để đạt được hiệu quả tốt nhất.
tránh đó là đừng quá nghiêm khắc để các em tránh xa chúng ta hơn và đừng quá
gần gũi đến sỗ sàng khiến các em thiếu sự tôn trọng chúng ta.
- Thứ bảy, giáo viên chủ nhiệm phải có sự kết hợp chặt chẽ với giáo viên bộ
môn. Trong công tác giáo dục, chúng ta luôn đòi hỏi phải có sự “ đồng tay”. Tức là
tất cả các giáo viên đều có nhiệm vụ quan tâm học sinh và tất cả các giáo viên phải
luôn có sự gắn kết với nhau. Đặc biệt, người giáo viên chủ nhiệm phải luôn chủ
động liên hệ với các giáo viên bộ môn để kịp thời nắm bắt tình hình học sinh của
lớp mình hơn. Tránh trường hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn
không có mối quan hệ tốt với nhau. Nếu được, giữa giáo viên chủ nhiệm và các
giáo viên bộ môn của mỗi lớp dạy có ít nhất một cuộc họp vào giữa mỗi học kì để
bàn các biện pháp giáo dục hiệu quả hơn. Hoặc giáo viên chủ nhiệm có thể xin dự
giờ nhiều môn học của các giáo viên bộ môn để nắm bắt rõ hơn tình hình học tập
của các em ở từng môn học.
- Thứ tám, giáo viên chủ nhiệm phải có sự liên hệ chặt chẽ với gia đình học
sinh. Trong các phương pháp giáo dục học sinh thì đây là phương pháp khá hiệu
quả. Bởi ngoài nhà trường, gia đình là môi trường giáo dục có sức ảnh hưởng lớn
10
nhất đến các em. Việc duy trì mối liên hệ với gia đình học sinh có nhều cách. Ta có
thể trao đổi với phụ huynh học sinh qua các cuộc họp phụ huynh học sinh của lóp.
Ta có thể mời riêng phụ huynh của từng em để trao đổi cụ thể. Và tốt nhất là ta trao
đổi thông qua việc đến thăm nhà học sinh. Và cuối cùng là cách đơn giản mà mang
lại nhiều hiệu quả đó là trao đổi qua kênh điện thoại.
- Ngoài các biện pháp trên, người giáo viên chủ nhiệm cần phải lưu ý một số
vấn đề khác trong công tác giáo dục học sinh. Mặc dù chủ nhiệm một lớp có rất
nhiều học sinh cá biệt nhưng ta không nên gọi các em là học sinh cá biệt để tránh
gây ảnh hưởng tâm lý mặc cảm, bị xúc phạm ở các em. Trong việc giao tiếp tránh
việc quá nghiêm khắc, vụng về thiếu tình cảm đối với các em. Nếu muốn phạt học
sinh phải phạt theo hướng tích cực. Chẳng hạn những em vi phạm ta cho các em đi
Từ những thực tế trên, cấp quản lý nhà trường cần đánh giá và xác định lại
đúng đắn hơn vai trò và trách nhiệm của giáo viên bộ môn trong từng tiết học. Còn
đối với giáo viên bộ môn cần thể hiện và nâng cao hơn nữa khả năng sư phạm của
mình trong từng tiết học.
Thiết nghĩ, giáo viên bộ môn trước tiên cần đầu tư hơn về bộ môn của mình,
cần đơn giản hóa kiến thức để phù hợp với đối tượng học sinh nhằm tạo ra sự thoải
mái và hứng thú hơn đối với các em trong giờ học. Chúng ta xem việc truyền đạt tri
thức là quan trọng nhưng quan trọng hơn là em có sẵn sàng tâm thế để đón nhận nó
chưa. Vì thế trong trường hợp đó, chúng ta mạnh dạn dành ra một khoảng thời gian
nhất định để giảng giải, phân tích, tâm sự, thậm chí là kể chuyện,…miễn là có ích
cho sự phát triển tâm lý của các em để các em bớt căng thẳng và tập trung hơn vào
việc học.
Ví dụ: Trong quá trình dạy lớp 10A5 (năm học 2012-2013), lúc đầu tôi đã
có cảm giác rất vất vả. Các em thường xuyên nói chuyện, ít phát biểu trong giờ
học, hay phát biểu tinh tinh,…Điều đó làm tôi thường xuyên mất hứng thú trong
từng tiết dạy. Sau đó, tôi đã băn khoăn rất nhiều. Tôi đã áp dụng rất nhiều cách và
cuối cùng đã có hiệu quả đáng kể. Vào đầu tiết học tôi cố gắng thân thiện với các
em bằng cách hỏi thăm các em bằng nột số câu hỏi nhỏ về chuyện gia đình, về
chuyện bạn bè, chuyện học hành,…Đôi khi tôi bắt chuyện bằng một câu chuyện
vui, hoặc câu chuyện có ý nghĩa đối với các em. Trong tiết học, nếu có học sinh
nào vi phạm tôi cố gắng kiềm chế dùng lời lẽ thật khéo léo và ghi vào sổ theo dõi
cá nhân đề có dịp gặp riêng em ( nếu có thể) để khuyên răn, uốn năn các em một
cách nhẹ nhàng. Trong quá trình học thì thỉnh thoảng xuống gần lớp hơn, hoặc
xem vở các em, nhắc nhở nhẹ nhàng những em không chép bài,…Cố gắng dùng
nhiều lời khen hơn để tạo sự khích lệ cho các em. Từ đó, tôi cảm nhận rằng các em
thật sự là những học trò cũng có nét thật đáng mến và những lúc dạy tôi cảm nhận
các em luôn xem tôi là người thân của mình. Các em sẵn sàng tâm sự những điều
các em băn khoăn nếu có thể. Chính vì thế, sau gần ba năm gắn bó với các lớp
cá biệt lớp giáo dục thường xuyên nói riêng.
Qua đó, tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp sau để hoạt động của ĐoànHội- Đội đạt hiệu quả hơn.
- Thứ nhất, ta cần đổi mới mạnh mẽ hơn hình thức sinh hoạt cờ. Hãy giảm
mạnh những thông báo, sinh hoạt chung chung hay những lời quở trách huyên
thuyên về các lỗi vi phạm của các em. Vấn đề này trường ta đã có áp dụng nhưng
chưa thật rõ nét và hiệu quả. Để cải tiến triệt để, thiết nghĩ mỗi buổi sinh hoạt cờ ta
cần có một giáo án hẳn hoi. Và giáo án ấy có sự chung tay góp sức của những
người có liên quan và có năng lực. Đó có thể là bí thư đoàn, tổng phụ trách, giáo
viên phụ trách giáo dục- tuyên truyền pháp luật, cán bộ phụ trách tư vấn học
đường, giáo viên phụ trách văn nghệ,…Yêu cầu cơ bản của nội dung sinh hoạt mỗi
tiết sinh hoạt cờ phải đảm bảo có sự nhận xét ngắn gọn, có đưa ra kế hoạch tuần
tới, và thời gian văn nghệ, trò chơi, tuyên truyền, giáo dục kĩ năng sống,…và nhất
thiết có những phần thưởng nhỏ để khích lệ tinh thần các em, để các em thích thú
hơn. Và chú ý chọn người tuyên truyền, giáo dục kĩ năng sống hay quản trò phải có
sự gần gũi, tạo được sự hứng thú, lôi cuốn được học sinh. Tránh trường hợp buổi
tuyên truyền, giáo dục chỉ là một bài đọc nói suông nhàm chán.
- Thứ hai, ta cần đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình, câu lạc bộ, đội, nhóm
nhằm thu hút, tập hợp thanh thiếu niên tham gia sinh hoạt, vui chơi theo năng
khiếu, sở trường,…Hiện nay, công tác này đã được nhà trường khá quan tâm.
Trường đã xây dựng được hai câu lạc bộ ( Văn học và Văn nghệ), một đội An toàn
giao thông và đã thu hút nhiều học sinh tham gia đồng thời đạt hiệu quả đáng khích
lệ.
13
Ví dụ: Mô hình Câu lạc bộ Văn học của trường đã được thành lập năm
2011. Từ đó đến nay, câu lạc bộ đã hoạt động định kì ít nhất hai lần/ năm, đã phát
động được nhiều đợt sáng tác văn học và nhận được sự đóng góp của rất nhiều học
sinh và giáo viên, kể cả học sinh giáo dục thường xuyên. Hiện nay, Câu lạc bộ đã
định hướng và giúp đỡ của họ là rất cần thiết.
Từ năm 2008, trường chính thức trở thành trường có hai cấp học. Điều đó
mang lại nhiều niềm vui cho mọi người. Đặc biệt là đối với các em học sinh và
những bậc phụ huynh.
14
Nhưng từ đó việc quản lý cùng lúc hai cấp học cũng lại là một áp lực khá lớn
đối với ban giám hiệu. Đặc biệt là năm học 2011- 2012 lại càng áp lực ơn khi đưa
mô hình giáo dục thường xuyên vào trường THPT. Tuy vậy, với quyết tâm cao cùng
với năng lực lãnh đạo hiệu quả việc chỉ đạo công tác giáo dục học sinh nói chung
và học sinh lớp giáo dục thường xuyên có nhiều điểm đáng ghi nhận.
Với mong muốn công tác giáo dục học sinh các lớp giáo dục thường xuyên
đã đạt được nhiều hiệu quả hơn nữa, tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp mang
tính tham khảo sau:
- Thứ nhất, ban giám hiệu cần đánh giá hằng năm hiệu quả công tác giáo dục
thường xuyên tại đơn vị vào cuối năm học ở hội đồng sư phạm. Từ cuộc đánh giá
ấy mà ban giám hiệu nắm bắt được nhiều vấn đề từ ý kiến của tất cả các giáo viên
( đặc biệt là các giáo viên dạy lớp và giáo các giáo viên chủ nhệm các lớp này). Và
cũng từ đó vào đầu mỗi năm học, ban giám hiệu sẽ có cái nhìn khái quát hơn về
những mặt làm được và chưa được để có sự điều chỉnh, phân công cho phù hợp
hơn.
- Thứ hai, ban giám hiệu cần đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, đánh giá
hiệu quả công tác giáo dục học sinh của những giáo viên có đảm nhiệm dạy và chủ
nhiệm các lớp giáo dục thường xuyên. Cần có sự kiểm tra thường xuyên hơn kể cả
đột xuất các tiết dạy, tiết sinh hoạt lớp. Thường xuyên kiểm tra sổ chủ nhiệm, kiểm
tra qua sĩ số học sinh hằng ngày. Đặc biệt là phải có bộ phận kiểm tra, theo dõi việc
thực hiện nề nếp, nội quy của các em học sinh. Và không dừng lại ở việc kiểm tra,
thống kê, báo cáo số liệu hằng ngày mà phải có sự làm việc, đôn đốc, bàn giao cụ
ban giám hiệu để có hướng giải quyết kịp thời và hiệu quả hơn.Và cần thiết có
những khen ngợi kịp thời cho các cá nhân có thành tích tốt trong công việc ấy.
- Thứ sáu, ban giám hiệu cần nâng cao hơn nữa hiệu quả tác động của hoạt
động hướng nghiệp cho các em học sinh. Đặc biệt ở các em học sinh ở lớp giáo dục
thường xuyên. Vì sao tôi lại nói thế. Bởi lẽ, do phần lớn các em học rất yếu,
phương pháp học tập không khoa học,…dẫn đến các em không biết thật sự mình
học giỏi môn nào, có năng khiếu về lĩnh vực nào,…khiến các em không biết hoặc
không tha thiết việc chọn nghề. Theo thống kê ở năm học 2013- 2014 có đến trên
50% các em học sinh ở lớp 12A4 thuộc hệ giáo dục thường xuyên mong muốn nhà
trường tư vấn riêng cho đối tượng lớp các em, tư vấn sâu, tư vấn kĩ hơn nữa. Vì các
em cho rằng, mặc dù nhà trường đã có rất nhiều cuộc tư vấn hướng nghiệp, thậm
chí tham quan thực tế các trường đại học, cao đẳng nhưng các em còn cảm thấy khá
mơ hồ, còn nhiều băn khoăn chưa dám trao dổi do ngại trình bày trước các lớp
không phải thuộc hệ giáo dục thường xuyên như mình. Nếu nhà trường đáp ứng
được yêu cầy ấy, tin chắc rằng nó sẽ là động lực rất lớn tác động tích cực đến thái
độ học tập của các em hơn.
2.5. Về phía Sở GD- ĐT:
Trong thời gian vừa qua, Sở Giáo dục và đào tạo cũng đã có nhiều cố gắng
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục các lớp giáo dục thường xuyên trong
trường phổ thông. Cụ thể qua việc sơ kết hai năm thực hiện chương trình giáo dục
thường xuyên trong trường phổ thông vào tháng 6 năm 2013, việc kiểm tra và chỉ
đạo thường xuyên trong công tác chuyên môn giáo dục thường xuyên,…Từ đó,
việc giáo dục thường xuyên trong trường phổ thông đã dần đi vào ổn định và đạt
được một số hiệu quả nhất định.
Qua thực tế công tác, tôi xin thẳng thắn đưa ra một số biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục thường xuyên trong trường phổ thông như sau:
- Thứ nhất, Sở Giáo dục và đào tạo cần có cơ chế tổ chức sĩ số học sinh các
lớp giáo dục thường xuyên ít hơn so với lớp trung học phổ thông. Vì tôi nhận thấy
với lớp học hơn 40 học sinh sẽ gây khó khăn và áp lực rất lớn cho việc quản lý lẫn
giảng dạy của giáo viên.
xuyên vì sợ các bạn chê cười. Vì thế ta có thể nhờ các đoàn thể ( có thể là hội
khuyến học, hội phụ nữ,…) mà thông qua đó phụ huynh các em học sinh là hội
viên, đến nhà vận động cùng giáo viên chủ nhiệm nhằm tăng sức thuyết phục hơn.
- Thứ hai, hiện nay các cơ sở kinh doanh dịch vụ ngoài trường học ( đặc biệt
là các quán bida, game,…) mở rất nhiều. Nó đã khiến nhiều em học sinh ( trong đó
có nhiều học sinh giáo dục thường xuyên) phải nghiện nên mê chơi rồi trốn học
hoặc học tập rất sa sút. Thông qua các đoàn thể ( đoàn thanh niên xã, công an xã,
…), nhà trường xin hỗ trợ kiểm tra, vận động họ kí cam kết kinh doanh đúng giờ,
không cho học sinh đến và sử dụng vào giờ học của các em, không cho các em chơi
quá thời gian quy định,… Từ đó sẽ giảm bớt các em học sinh sa vào các tệ nạn xã
hội hơn và ngăn các em không còn lơ là trong học tập.
17
PHẦN C. PHẦN KẾT LUẬN:
I. Kết quả:
Sau một thời gian công tác, qua những nỗ lực của bản thân cùng với sự học
hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, tôi luôn vận dụng linh hoạt các biện pháp nói
trên và cũng đã gặt hái được một số kết quả khả quan:
Lớp giáo dục thường xuyên mà tôi đã chủ nhiệm, do lần đầu đảm nhận nên
có những hạn chế nhất định nhưng có có những thành công khá khả quan. Lớp tôi
luôn tham gia tốt các phong trào, các hoạt động của nhà trường. Các em học sinh đa
số ngoan, có mối quan hệ bạn bè tốt. Mối quan hệ giữa thầy và trò luôn thân thiện,
có sự hợp tác khá hiệu quả. Giáo viên bộ môn đánh giá khá tốt về nề nếp và việc
thực hiện nội quy của lớp. Riêng phụ huynh học sinh, tôi đã tạo ra được niềm tin rất
lớn nơi họ.
Ở các lớp giáo dục thường xuyên mà tôi giảng dạy, đa số các em chăm chú
lắng nghe giảng bài và hợp tác với giáo viên. Tôi luôn cố gắng giao tiếp với các em
thật nhẹ nhàng, chân tình, sẵn sàng nghe các em tâm sự, giãi bày. Trước khi đến
lớp, tôi luôn cố gắng soạn giảng nghiêm túc, cố gắng mang lại cách truyền đạt tốt
Tất cả các giáo viên cần có sự gắn bó, đoàn kết hơn nữa trong công tác quản
lý và giảng dạy các em học sinh ở các lớp giáo dục thường xuyên. Hãy đặt lợi ích
chung lên trên hết. Tất cả vì học sinh thân yêu và vì trách nhiệm của chúng ta với
sự nghiệp giáo dục.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
---1. Giáo trình tâm lí giáo dục.
2. Tài liệu giáo dục học.
3. Tài liệu tập huấn giáo viên chủ nhiệm với công tác tư vấn tâm
lý- giáo dục cho học sinh trung học.
4. Tạp chí giáo dục.
5. Và một số báo, tạp chí khác.
20
MỤC LỤC
-----
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
3
3
4
4
C. PHẦN KẾT LUẬN
4
4
6
6
7
7
8
9
9
11
12
14
16
17
17
18
I. Kết quả
II. Kinh nghiệm
III. Đề xuất và kiến nghị
* Tài liệu tham khảo
18