Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam - Pdf 50


 

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước
ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam
PGS.TS. Đỗ Văn Đại | 22/01/2013 |
Trong thời gian gần đây, bên cạnh những tranh chấp được giải quyết bằng Trọng
tài Việt Nam (như của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam gọi tắt tiếng Anh là
VIAC) tại Việt Nam, đã xuất hiện những tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài
nước ngoài (tức thành lập theo pháp luật nước ngoài (1) tại Việt Nam.
Ví dụ, Hợp đồng mua bán số 84-346.2 được ký kết giữa Conares Metal Supply
L.t.d và Công ty cơ khí kết cấu thép xây dựng có thỏa thuận tranh chấp “sẽ được
giải quyết chung thẩm theo quy tắc Trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế (sau
đây gọi tắt là ICC), nơi giải quyết Trọng tài là Hà Nội”. Thực tế các bên có tranh
chấp về hợp đồng và phía nước ngoài đã khởi kiện ra Trọng tài của ICC với nơi
giải quyết tranh chấp là tại Hà Nội (Việt Nam). Tương tự trong vụ việc sau đây
(mà chúng ta sẽ sử dụng để minh họa cho bài viết): theo thỏa thuận của Hợp
đồng ký ngày 11/1/2005 và Điều khoản tham chiếu do Hội đồng trọng tài của ICC
lập đã được các bên ký ngày 02/9/2011 thì các bên đã chọn Luật áp dụng là Luật
Việt Nam, tố tụng trọng tài được tiến hành phù hợp với Luật Trọng tài Việt Nam và
địa điểm giải quyết tranh chấp là TP. Hồ Chí Minh. Cũng như trong vụ việc trước,
ở đây Trọng tài giải quyết tranh chấp là Trọng tài của ICC và địa điểm giải quyết
tranh chấp là tại Việt Nam.
Khi vụ việc được giải quyết bằng Trọng tài Việt Nam tại Việt Nam thì hiển nhiên
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với nhiều vấn đề từ khi vụ việc được thụ ký
(như áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, xác định thẩm quyền của Trọng tài,
triệu tập nhân chứng…) đến sau khi có phán quyết trọng tài (như xem xét hủy
phán quyết trọng). Khi tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nước ngoài tại
Việt Nam, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền như đối với Trọng tài Việt Nam đã nêu
trên không? Thông qua vụ việc thứ hai nêu trên, chúng ta thấy Tòa án Việt Nam
có thẩm quyền và qua đây, chúng ta sẽ làm rõ phạm vi thẩm quyền của Tòa án

là Trọng tài nước ngoài khi địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là tại Việt
Nam.
1.2. Cơ sở pháp lý ghi nhận thẩm quyền
Trên cơ sở nào Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với hoạt động tố tụng của
Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam?
Về thẩm quyền của Tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, khoản
1 và 3 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “yêu cầu liên quan đến việc Trọng
tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật
về Trọng tài thương mại; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết
định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài” là “những yêu cầu về kinh
doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”. Nếu chỉ căn cứ vào
quy định vừa nêu, chúng ta không có cơ sở để lý giải thẩm quyền của Tòa án Việt
Nam đối với hoạt động tố tụng Trọng tài nước ngoài vì hai điều khoản này chỉ nói
đến việc “giải quyết các vụ tranh chấp” của “Trọng tài thương mại Việt Nam”, đối

 



 
với quyết định “của Trọng tài nước ngoài”, điều khoản trên chỉ đề cập đến “yêu
cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”, tức là khi hoạt động tố tụng trọng tài
đã kết thúc.
Thực ra, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự về yêu cầu về kinh doanh, thương mại
thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án còn một điều khoản nữa ghi nhận thẩm
quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vấn đề không được nêu trong hai điều
khoản trên. Đó là khoản 4, theo đó “các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại
mà pháp luật có quy định” cũng “thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”. Quy
định này cho phép ghi nhận thẩm quyền của Tòa án không trên cơ sở các quy
định cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự mà trên cơ sở quy định trong văn bản

động trọng tài là thẩm quyền đối với toàn bộ hoạt động trọng tài mà không có sự
phân biệt Trọng tài trong nước hay nước ngoài”.
Với trình bày trên, chúng ta thấy, Tòa án đã căn cứ vào Điều 1 Luật Trọng tài
thương mại hiện hành để cho rằng, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối “hoạt
động trọng tài nước ngoài tại Việt Nam”.
1.3. Đối chiếu so sánh với pháp luật nước ngoài
Nghiên cứu so sánh cho thấy, hướng thừa nhận thẩm quyền như trên không xa
lạ. Không hiếm hệ thống pháp luật ghi nhận thẩm quyền của Tòa án nước mình
đối với hoạt động trọng tài trên lãnh thổ nước mình cho dù đó là hoạt động của
Trọng tài nước ngoài (6).
Tây Ban Nha có Luật Trọng tài năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
Trong Luật này có nhiều quy định về thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động
của Trọng tài (như chỉ định hay thay đổi Trọng tài viên, trợ giúp trọng tài trong việc
thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) và Điều 1 Luật Trọng tài
Tây Ban Nha quy định: “Luật này áp dụng cho trọng tài có địa điểm trên lãnh thổ
Tây Ban Nha dù là trọng tài quốc nội hay quốc tế” (7). Quy định này cho phép Tòa
án Tây Ban Nha can thiệp đối với hoạt động trọng tài diễn ra tại Tây Ban Nha.
Tương tự như vậy theo pháp luật của Áo: Áo sửa đổi pháp luật trọng tài vào năm
2006 và theo Luật năm 2006, Tòa án Áo có thẩm quyền chỉ định hay thay đổi
trọng tài viên, trợ giúp trọng tài, giải quyết hủy phán quyết trọng tài… và phạm vi
áp dụng Luật này là đối với Trọng tài (quốc nội hay quốc tế) có địa điểm tại Áo (7).
Ở Tunisi, “sự can thiệp của Tòa án không thể giới hạn ở trợ giúp Trọng tài; đương
nhiên một sự kiểm soát trước Tòa án Tunisi tồn tại khi trọng tài diễn ra ở Tunisi”.
Ở đây, Tòa án Tunisi có cả thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài “khi trọng tài diễn ra trên lãnh thổ Tunisi hay khi quy định về trọng tài của Tunisi
được các bên hoặc Hội đồng trọng tài lựa chọn” (địa điểm trọng tài tại Tunisi chỉ là
một tiêu chí ghi nhận thẩm quyền của Tòa án Tunisi đối với hoạt động tố tụng của
Trọng tài) (9).
Pháp mới sửa đổi pháp luật trọng tài vào năm 2011 và đã mở rộng trường hợp
Tòa án (thẩm phán) Pháp có thẩm quyền can thiệp đối với hoạt động tố tụng trọng

trọng tài liên quan là trọng tài trong nước hay trọng tài nước ngoài.
Vấn đề tiếp theo mà chúng ta cần quan tâm là Tòa án có thẩm quyền đối với
những hoạt động cụ thể nào của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
Phạm vi thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
2.1. Xem xét thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
Trong quá trình tố tụng trọng tài, chúng ta thường gặp trường hợp một bên phủ
nhận thẩm quyền của Hội đồng trọng tài. Đối với hoàn cảnh này, pháp luật hiện
nay theo hướng Hội đồng trọng tài tự giải quyết bất đồng giữa các bên về thẩm
quyền của Hội đồng trọng tài (14).
Khi Hội đồng trọng tài ra quyết định về thẩm quyền của mình (có thẩm quyền hay
không có thẩm quyền), một bên có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp để xem xét lại
vấn đề thẩm quyền của Hội đồng trọng tài không? Ở Pháp, Tòa án không can
thiệp vào chủ đề này và chỉ tập trung giám sát kết quả của hoạt động trọng tài (tức

 



 
tập trung vào xem xét sau khi có phán quyết trọng tài) (15). Pháp luật của chúng
ta theo hướng rất khác. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại,
“trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài quy định tại
Điều 43 của Luật này (Xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài
không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài), trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng trọng tài, các bên
có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội
đồng trọng tài”.
Điều đó có nghĩa là, trong hoạt động tố tụng trọng tài, Tòa án Việt Nam có thẩm
quyền xem xét lại Quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm quyền của Hội đồng
trọng tài. Quy định trên hiển nhiên được áp dụng cho Trọng tài Việt Nam và, theo

2.3. Đối với phán quyết trọng tài
Trọng tài nước ngoài có thể ra phán quyết đối với vụ việc được giải quyết tại Việt
Nam (phán quyết trọng tài là một quyết định trọng tài nhưng không phải quyết định
trọng tài nào cũng là phán quyết trọng tài. Quyết định cuối cùng của Hội đồng
trọng tài về nội dung tranh chấp là phán quyết trọng tài (19) còn quyết định trong
quá trình tố tụng chỉ là một quyết định trọng tài thông thường trong quá trình giải
quyết tranh chấp (20) với cơ chế điều chỉnh rất khác so với phán quyết trọng tài
(21)). Đối với vụ việc mà chúng ta đang nghiên cứu, chúng tôi chưa thấy có phán
quyết trọng tài về nội dung tranh chấp nhưng, đối với vụ việc liên quan đến
Conares Metal Supply Ltd. nêu trên, Trọng tài của ICC đã ra phán quyết và câu
hỏi được đặt ra là Tòa án Việt Nam có thẩm quyền gì đối với phán quyết loại này?
Đối với phán quyết trọng tài (tức quyết định cuối cùng về nội dung tranh chấp),
pháp luật hiện hành của chúng ta có hai cơ chế điều chỉnh rất khác nhau. Đối với
quyết định (phán quyết) của Trọng tài nước ngoài, chúng ta có quy định trong Bộ
luật Tố tụng dân sự và Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam (22) (lúc này Tòa án có thẩm quyền công nhận hay không công
nhận phán quyết trọng tài) còn, đối với phán quyết trọng tài trong Luật Trọng tài
thương mại, chúng ta có quy định về thi hành phán quyết trọng tài (23) mà không
có thủ tục công nhận và cho thi hành nhưng phán quyết trọng tài có thể bị yêu cầu
hủy tại Tòa án (lúc này Tòa án có thẩm quyền để quyết định hủy hay không hủy
phán quyết trọng tài) (24). Đối với phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam mà chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta áp dụng cơ chế nào trong hai cơ
chế trên?
Theo khoản 12 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại: “Phán quyết của trọng tài nước
ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam
hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận
lựa chọn”. Quy định này tương thích với khoản 2 Điều 342 Bộ luật Tố tụng dân sự
về quyết định trọng tài nước ngoài (25). Với quy định như vừa nêu, có nhiều khả
năng quyết định (phán quyết) của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam phải theo thủ
tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như trường hợp liên quan đến

Nam không có nghĩa là không thể được công nhận và cho thi hành ở nước ngoài.
Ở một số nước như Pháp, phán quyết của Trọng tài nước ngoài vẫn có thể được
công nhận và cho thi hành mặc dù bị hủy theo pháp luật của nước nơi phán quyết
được tuyên (28). Do đó, phía nước ngoài vẫn có thể đưa phán quyết của Trọng tài
ra nước ngoài thi hành nếu phía Việt Nam có tài sản ở nước ngoài; phán quyết
Trọng tài không có giá trị đối với phía Việt Nam ở Việt Nam nhưng vẫn có thể ràng
buộc họ ở nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài cho phép công nhận và cho thi
hành phán quyết trọng tài bị hủy ở nước mà tranh chấp được giải quyết. Đây là
điều mà phía Việt Nam cần lưu ý, nhất là khi họ có tài sản (cố định hay lưu động
như xe, tầu, máy bay) ở nước ngoài và không nên ngộ nhận rằng phán quyết
trọng tài bị hủy ở Việt Nam sẽ không được công nhận và cho thi hành ở nước
ngoài (29).

 



 
Kết luận
Vấn đề Tòa án Việt Nam có thẩm quyền can thiệp vào hoạt động tố tụng của
Trọng tài nước ngoài ở Việt Nam đã được đặt ra trong quá trình xây dựng Luật
Trọng tài thương mại và hiện nay vẫn có quan điểm trái chiều nhau.
Trong vụ việc được nghiên cứu, Tòa án đã ra Quyết định về thẩm quyền của Hội
đồng trọng tài nước ngoài và là quyết định đầu tiên mà chúng tôi biết liên quan
đến thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với hoạt động tố tụng của Trọng tài
nước ngoài tại Việt Nam. Trước sự chưa rõ ràng của văn bản và trước những
quan điểm trái chiều nhau về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với Trọng tài
nước ngoài tại Việt Nam, Quyết định này đáng được lưu tâm và không thiếu yếu
tố thuyết phục. Về phạm vi thẩm quyền, Tòa án có thẩm quyền trong những
trường hợp nào đối với Trọng tài Việt Nam tại Việt Nam thì cũng có thẩm quyền

(3). Trong thực tế việc khai thác quy định trong văn bản khác Bộ luật Tố tụng dân
sự để xác định thẩm quyền của Tòa án là khá phổ biến. Ví dụ, liên quan đến một
mảnh đất bà Hương chuyển nhượng quyền sử dụng cho chị Tho và chị Tho yêu
cầu bà Hương cùng chồng (ông Thiện) thực hiện thủ tục sang tên, trong Quyết
định số 168/2012/DS-GĐT ngày 28/3/2012 Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
đã xét rằng, “do vợ chồng bà Hương, ông Thiện phải thi hành một bản án khác có
liên quan đến diện tích đất nêu trên của chị Tho nên Thi hành án dân sự huyện
Nhơn Trạch có thông báo bằng văn bản cho chị Tho có quyền khởi kiện tại Tòa
án. Như đã phân tích, thực tế không có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chị
Tho chỉ yêu cầu được xác định 166m2 đất thuộc quyền sử dụng của chị. Lẽ ra,
trong trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm hướng dẫn chị Tho viết lại đơn khởi
kiện và Tòa án căn cứ vào khoản 6, Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004 “các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định” để thụ lý việc dân sự
và xác định quan hệ là “yêu cầu xác định quyền sử dụng tài sản”. Các yêu cầu
khác về dân sự mà pháp luật quy định trong trường hợp cụ thể này được quy định
tại Điều 41 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 (nay là Điều 74 Luật Thi
hành án dân sự năm 2008). Do đó, việc giải quyết yêu cầu của chị Tho thuộc
thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Nhơn trạch”.
(4). “Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa
thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm
quyền của Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng
trọng tài ra quyết định;”.
(5). “Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”.
(6). Theo một số chuyên gia về trọng tài, “rất nhiều hệ thống pháp luật, trực tiếp
hay gián tiếp, theo hướng những quy định tố tụng của họ đương nhiên áp dụng
cho trọng tài có địa điểm trên lãnh thổ nước mình, không cần phải phân biệt đó là
trọng tài quốc nội hay quốc tế”: Ph. Fouchard, E. Gaillard và B. Goldman, Traité
de l’arbitrage commercial international, Nxb. Litec 1996, phần số 92.
(7). Về pháp luật trọng tài Tây Ban Nha, xem La nouvelle loi espagnole sur

do hiểu “thông thoáng” các quy định tại Điều 1.
(13). Nghị quyết 48-NQ/TW ban hành ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống phát luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020, nêu rõ: “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ,
tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp
hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Thực hiện Nghị
quyết 48-NQ/TW, UBTVQH Khóa XI đã ban hành Kế hoạch số 900/UBTVUQH11
ngày 21/3/2007, trong đó đề ra nhiệm vụ “nghiên cứu và phát triển việc tổng hợp
án lệ” trong giai đoạn từ 2007 đến 2012.


 



 
(14). Theo khoản 1 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại Việt Nam, “trước khi xem
xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa
thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét
thẩm quyền của mình. Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình thì Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật
này. Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng
tài vô hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội
đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên
biết”.
(15). Emmanuel GAILLARD và Pierre DE LAPASSE, Commentaire analytique du
décret du 13  janvier 2011 portant réforme du droit français de l’arbitrage: Cahiers
de l’arbitrage, 01/4/2011 n° 2, tr. 263, phần số 99.
(16). Về chủ đề này, xem Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về
Trọng tài thương mại, Nxb. CTQG 2011, phần số 181 và 182.

tiến hành thành lập Hội đồng xét đơn và mở phiên họp để OB được tham gia quá
trình xét đơn để bảo vệ quyền lợi của mình.
(22). Theo khoản 4 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự, “quyết định của Trọng tài
nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Toà án Việt Nam công
nhận và cho thi hành”.
(23). Theo khoản 1 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại, “hết thời hạn thi hành
phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành
và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của
Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài”. Với quy
định này, nếu không có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, phán quyết trọng tài
được thi hành ở Việt Nam như bản án của Tòa án mà không cần phải qua thủ tục
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
(24). Về những điểm khác nhau đối với hai loại phán quyết (quyết định) này, xem
Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải, sđd, phần số 329 và tiếp theo.
(25). “Quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh
thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các bên
thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật
kinh doanh, thương mại, lao động”
(26). Về vụ việc này, xem Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải, Tuyển tập bản án,
quyết định của Tòa án Việt Nam về trọng tài thương mại, Nxb. Lao động 2010,
quyết định số 44 và 45.
(27). Theo khoản 6 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại, “trong trường hợp Toà án
quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không
có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài
không thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết
tranh chấp”.


 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status