Cấu trúc formant của nguyên âm tiếng việt trong kết hợp với âm tắc và thanh điệu (trên cơ sở khảo sát thực nghiệm) ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 50

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, trong đó mỗi âm
tiết là một đơn vị hoàn chỉnh độc lập, là đơn vị cuối cùng trong việc phân xuất
các đơn vị của lời nói, đồng thời âm tiết cũng là cơ sở để phân tích cấu trúc
kết hợp các âm vị.
Các âm vị trong tiếng Việt có ba loại: nguyên âm, phụ âm và thanh
điệu. Nguyên âm và phụ âm là những âm vị tuyến tính, chúng kết hợp với
nhau theo trật tự trước sau trong quá trình phát âm. Chúng là những âm vị có
thể phân tách ra thành từng đơn vị nhỏ hơn, nên còn gọi là những âm vị đoạn
tính. Trái với loại âm vị trên, thanh điệu là âm vị phi tuyến tính, bao trùm toàn
bộ âm tiết và gắn liền với âm tiết trong suốt quá trình phát âm. Thanh không
thể chiết ra khỏi âm tiết được, mà nhất thiết phải gắn với âm tiết, vì thế nên
thanh còn gọi là âm vị siêu đoạn tính.
Chính do vai trò của âm tiết như vậy nên từ lâu nhiều tác giả đã quan
tâm nghiên cứu đơn vị cơ bản này, đặc biệt là bằng phương pháp thực
nghiệm. Các công trình thực nghiệm đã được công bố nhiều hơn cả là nghiên
cứu về hệ thanh điệu và formant của nguyên âm đơn.
Có thể coi Lê Văn Lý là người đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm về
thanh điệu. Những nghiên cứu thực nghiệm về thanh điệu tiếng Việt còn có
thể kể: Nguyễn Hàm Dương (1962); Han Mieko(1968), Hoàng Cao cương
(1982); Cao Xuân Hạo (1986), Vũ Kim Bảng (1984), Nguyễn Văn Lợi, Vũ
Thanh Phương, Andrea Phạm Hoa...
Những nghiên cứu thực nghiệm về formant tiếng Việt có thể kể:
Nguyễn Văn Ái (1973, 1974); Vũ Kim Bảng (2002).

1


Tuy nhiên, trong phạm vi âm tiết tiếng Việt, xét về các đặc trưng âm
học của nó, còn có một số vấn đề chưa được đề cập tới, đó là: mối quan hệ

Formant và cấu trúc formant của nguyên âm là một trong những lĩnh
vực nghiên cứu mang tính ứng dụng cao đã được thực hiện ở nhiều ngôn ngữ
trên thế giới. Theo hướng nghiên cứu này, người ta đã thu được nhiều thành
công và đã có kết quả nghiên cứu ứng dụng vào công nghệ xử lí tiếng nói:
phần mềm tổng hợp tiếng nói thực hiện bằng phương pháp tổng hợp formant
đã được tích hợp vào các tiện ích của điện thoại di động, hộp thư trả lời tự
động, xếp hàng tự động... Những tiến bộ và điều kiện kĩ thuật hiện nay, đặc
biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép các nhà khoa học
nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống đặc trưng âm học của các ngôn
ngữ nói chung và của nguyên âm nói riêng.
Vào thế kỉ thứ 19, các nhà khoa học đã nhận thấy vai trò của cộng
hưởng trong bộ máy phát âm, đặc biệt là cấu trúc formant của nguyên âm
trong việc tạo ra bộ máy phát âm nhân tạo, tiền đề cho những máy tổng hợp
lời nói và phần mềm tổng hợp có thể bắt chước giọng nói của con người trong
những năm sau này. Các nhà ngữ âm học và cả kĩ sư tin học trong lĩnh vực
công nghệ tiếng nói đã quan tâm đến ba khía cạnh của formant trong lời nói
tự nhiên: đặc điểm cấu trúc formant, đặc điểm địa phương (regional
characteristics), và đặc trưng cá nhân của người nói (subject characteristics).
Đặc điểm cấu trúc âm học của formant được nghiên cứu khảo sát sâu
và kĩ hơn ở nhiều ngôn ngữ khác nhau mà điển hình là tiếng Anh. Việc lập
bản đồ âm học các nguyên âm tiếng Anh đã thực hiện bằng cách dùng tần số
formant của các nguyên âm làm cơ sở. Việc lập bản đồ nguyên âm này được
tiến hành ngay sau khi xuất hiện máy phân tích phổ lời nói, do hai tác giả
Peterson và Barney tiến hành vào năm 1952, các tác giả đã phân tích một tập

3


hợp gồm 10 nguyên âm đơn của mỗi người nói trong tổng số 76 người gồm cả
nam, nữ và trẻ em [126, tr 175].

liệu của họ cũng cho thấy một mức thay đổi đáng kể giữa các nguyên âm
được coi là điển hình và sự gối lên nhau giữa các nguyên âm khác nhau. Các
tác giả đã chỉ ra sự thay đổi của rất nhiều nguyên âm khác nhau khi các
formant của chúng được dựng lên so sánh với nhau [126, tr 176].
Những tư liệu này đã hé mở một khía cạnh quan trọng trong hoạt động
tiếp nhận nguyên âm, đặc biệt là bản chất hệ thống của formant liên quan đến
các giá trị tuyệt đối của chúng. Họ đã lưu ý rằng có một sự đa dạng trong các
thuộc tính âm học của các nguyên âm ở trẻ em, phụ nữ và đàn ông nảy sinh từ
những khác biệt về độ dài của bộ máy phát âm, cũng như sự đa dạng do
những khác biệt giữa các cá thể ở bộ máy phát âm và thay đổi mang tính thói
quen của cơ quan phát âm. Kết quả là nhiều nhà nghiên cứu đã lập ra các
thuật toán nhằm chuẩn hoá nét biến thể của tư liệu, trên cơ sở sự khác biệt về
trường độ của bộ máy phát âm.
Thí nghiệm của Ladefoged và Maddieson chứng minh các tần số
formant xác định đặc trưng âm vị học của hệ thống nguyên âm. Bằng việc
dùng lời nói tổng hợp, họ đã chứng minh nếu một hệ thống nguyên âm trong
một câu bị dịch chuyển thì người nghe sẽ thẩm nhận sự di chuyển mang tính
hệ thống của nguyên âm vào trong đường giao âm học của một nguyên âm
khác xét về mặt âm vị học.
Ví dụ: nguyên âm của từ head (cái đầu) có thể bị làm cho nghe thành
nguyên âm của từ hid (trốn) nếu các tần số formant của tất cả các nguyên âm
khác bị hạ xuống. Dường như người nghe có thể tiếp nhận một cách bình
thường đối với một người nói ở một vài từ ban đầu mà họ nghe thấy [109, tr
74].
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu cấu trúc formant của tiếng Anh cấu
trúc formant của các nguyên âm tiếng Thụy Điển cũng được nghiên cứu rất kĩ

5



Năm 1999, James J.Hant và Abeer Alwan đã nghiên cứu và lập mô
hình cho chuyển tiếp formant trong bối cảnh nhiễu. Đánh giá cao vai trò quyết

6


định của chuyển tiếp formant trong việc nhận ra vị trí cấu âm của các phụ âm,
các tác giả đã đưa ra giả định nếu chuyển tiếp formant này “nhúng” vào trong
một môi trường nhiễu, và tiến hành xác định ngưỡng của các trượt lướt thanh
điệu (tone glides) và đường formant cá thể ở các tần số khác nhau, có trường
độ khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngưỡng là độc lập với mức tần số
và chỉ phụ thuộc vào trường độ và tần số trung tâm của chuyển tiếp [96, tr
1896].
Năm 1958, trong bài viết Effect of Third-Formant Transitions on
Perception of Voiced Stop Consonants đăng trên The Journal of Acoustical
Society of America, Vol. 30, No. 2, 122-126, tác giả dựa trên lời nói tổng hợp
(synthetic speech) đã tiến hành thực nghiệm và đi đến nhận xét “chuyển tiếp
formant thứ ba là chìa khóa cho việc thẩm nhận các âm /b d

/”, “sự đa dạng

của chuyển tiếp formant thứ ba tương ứng cặp đôi với chuyển tiếp formant
thứ hai ở vị trí đầu trước nguyên âm /i/ và / /”. Từ kết quả miêu tả về chuyển
tiếp và mức độ ổn định của formant thứ ba các tác giả đi đến nhận xét “sự tồn
tại của locus formant thứ ba tương tự với locus đã được tìm thấy trước đó đối
với formant thứ nhất và thứ hai” [103, tr 124].
Cũng năm 1958, P.C. Delattre, A. M. Liberman, F. S. Cooper qua khảo
sát âm xát tiếng Anh Mĩ, đã cho rằng chuyển tiếp formant là các tương liên
âm học của vị trí cấu âm. Tác giả cũng đã tổng kết những nghiên cứu đã có
trước đó và cho rằng có hai loại tín hiệu âm học để nhận ra vị trí cấu âm của

Năm 1995, một nghiên cứu chuyển tiếp formant giữa âm tiết đầu có kết
thúc là nguyên âm và âm tiết thứ hai có nguyên âm là âm đầu trong chuỗi kết
hợp hai âm tiết trong tiếng Trung Quốc chuẩn cũng đã được nghiên cứu, (Yan
Jingzhu). Trong nghiên cứu này 661 chuỗi kết hợp âm tiết tiếng Trung trong
đó âm tiết đầu có kết thúc là nguyên âm và âm tiết thứ hai bắt đầu bằng một
nguyên âm (VV) được một người bản ngữ nam nói tiếng Bắc Kinh tạo ra, âm
thanh tiếng nói là chuỗi kết hợp âm tiết được phân tích bằng máy Kay và

8


Sonagraph 5500. Kết quả cho thấy một sự chuyển tiếp formant được hình
thành trong kết hợp âm tiết. Tần số formant có giá trị tại điểm bắt đầu của sự
chuyển tiếp cân bằng với formant của nguyên âm hạt nhân của âm tiết đầu
[97, tr 42].
Đặc điểm địa phương ở formant được quan tâm nghiên cứu trên
phương diện tìm các đặc trưng phương ngữ thể hiện trong cấu trúc của
formant. Theo hướng này, người ta mới chỉ quan tâm đến những khác biệt
vùng địa phương formant của một ngôn ngữ. Ví dụ bài viết "Tần số formant
của nguyên âm trong âm tiết /hVd/ trong lời nói của phụ nữ người miền Nam
Australia" của Andrew Butcher, năm 2006.Trong khoảng thời gian 5 năm
(2002 - 2006) các nguyên âm được ghi âm bởi các sinh viên năm thứ hai
chuyên ngành bệnh học lời nói tại trường đại học Flinder ở Adelaide. Trong
nghiên cứu này, dữ liệu chỉ bao gồm những phụ nữ trẻ, những người lớn lên ở
miền nam Australia (n = 92, độ tuổi trung bình là 22 tuổi), đa số họ được huấn
luyện. Trước khi phát âm danh sách các từ có cấu trúc /hVd/ được chuẩn bị
trước và ba dấu hiệu của mỗi nguyên âm là đọc từ những danh sách ngẫu
nhiên. (năm 2006, n = 22 ghi âm cộng thêm vào từ "Who'll (ai sẽ) " theo trật
tự tạo ra dấu hiệu của tha âm vị trước bên của /u/). Trong tất cả các trường
hợp lời nói được ghi âm trực tiếp trên ổ cứng máy vi tính trong môi trường

người nước ngoài là Han Mieko (1968) đề cập đến khi thực hiện một loạt
nghiên cứu âm vị học các ngôn ngữ châu Á. Cụ thể, trong công trình "Studies
in phonology of Asian Languages: Vietnamese Vowel" 11 nguyên âm đơn
tiếng Hà Nội đã được nghiên cứu và mô tả. F1 và F2 của 11 nguyên âm được
đo, phân tích, cuối cùng tác giả đi đến kết luận rằng có sự chi phối ảnh hưởng
bởi các yếu tố khác là thanh tính và phụ âm tính đến chất lượng của nguyên
âm. Khi thực hiện một nghiên cứu về trường độ cố hữu của 11 nguyên âm
đơn tiếng Việt, kết quả nghiên cứu của Han Mieko cho thấy có sự ảnh hưởng

10


của thanh điệu đối với các cấu trúc formant của nguyên âm. Theo bà thanh 6
làm thay đổi vị trí F1 của nguyên âm, nó ảnh hưởng mạnh nhất đến các
nguyên âm có độ mở hẹp và trung bình và ảnh yếu đến các nguyên âm có độ
mở rộng. Thanh này hầu như không ảnh hưởng đến F2 [98, tr 92].
Khi nghiên cứu số lượng formant của nguyên âm tiếng Việt, Nguyễn
Văn Ái (1974) đã phân tích 11 nguyên âm đơn tiếng Việt ở vị trí mạnh
(nguyên âm đứng riêng thành âm tiết) và ở vị trí yếu (nguyên âm nằm trong
kết hợp âm tố, nhằm để phân tích hai nguyên âm ngắn ă, â là hai nguyên âm
không bao giờ xuất hiện riêng thành âm tiết) bằng máy xônagorap đã ghi
được khoảng 1300 đơn vị âm tiết do ba người phát âm (1 nữ, 2 nam). Kết quả
thực nghiệm cho thấy: số lượng formant của mỗi nguyên âm không giống
nhau hoàn toàn. Ở nguyên âm u, thường xuất hiện từ một đến hai formant; đôi
khi có formant thứ ba nhưng cường độ rất yếu. Những nguyên âm khác có số
lượng formant tương đối cố định: /i, e,

,

,


250 - 420 Hz

2380 - 3360 Hz

ê

354 - 595 Hz

2000 - 2830 Hz

e

595 - 840 Hz

1630 - 2380 Hz

ư

250 - 420 Hz

840 - 1190 Hz

ơ

354 - 595 Hz

1000 - 1190 Hz

a

, o/, và / , / có thể thay thế nhau được ở vùng tần số F1

này. Vậy những tiêu chí khu biệt các nguyên âm cùng nhóm trên là ở những
F2 có vùng tần số lớn hơn các F1.
Nguyên âm dòng trước /i, e, / có vùng tần số F1 và vùng tần số F2
nằm cách xa nhau; u, o,

là những nguyên âm dòng sau, bản thân chúng có

vùng tần số F1 và F2 cách nhau trung bình. Các nguyên âm tiếng Việt nằm
trong khoảng tần số 250 -3800Hz [1].
Hoàng Cao Cương (1986) [13] khi phân tích các sonagram đã nhận
thấy ở các âm tiết có chứa các thanh điệu 1, 3, 5, F2 của nguyên âm thường
được thể hiện rõ hơn, trong khi đó các âm tiết chứa các thanh còn lại thể hiện

12


F1 rõ hơn. Về dạng của formant, trong mọi trường hợp các F1 đều bằng
phẳng, trong khi F2 của các âm tiết chứa các thanh 3, 5 lại có dạng đi lên. Tác
giả cho rằng nếu quan niệm F2 là đặc trưng quan trọng của nguyên âm thì dễ
nhận thấy trong hệ thanh điệu Việt chỉ có thanh 1 là giúp cho dễ nhận diện
các chiết đoạn. Các thanh 4 và 6 làm cho người ta khó nhận diện các đoạn
nằm ở vị trí chung âm. Các thanh 3 và 5 có những ảnh hưởng nhất định đối
với F2.
Ngoài ra khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của phụ âm tới nguyên âm, tác
giả nhận thấy đặc trưng chuyển tiếp giữa C1 tới V và từ V tới C2 rất khác
nhau. Trong khi các chuyển tiếp C1V thường dễ dàng được thẩm nhận vì kích
thước lớn (giảm hoặc tăng cường độ từ 3-5dB, trường độ ít nhất là 15ms) thì
các chuyển tiếp VC2 thường thể hiện mờ nhạt (dao động và biến thái cường

trúc chùm nét khu biệt của các chiết đoạn nằm trong khoảng đo 75 -100 Hz
chính là biểu hiện của xu thế này. Những biểu hiện này đạt đến mức cực đoan
ở các thanh 5' và 6'. Ở các âm tiết có chứa hai thanh này, C2 bị biến mất và để
nhận diện ra chúng, người bản ngữ phải tận dụng các đặc thù locus bộc lộ ở
cuối cấu trúc chính âm. Tuy nhiên, do chỗ các bộ phận nằm ở cuối các âm tiết
có chứa thanh thường nghèo nàn về các đặc trưng cố hữu cho nên sự nhận
diện những bộ phận này thường gặp nhiều khó khăn trong thực tế.
Năm 2002, những kết quả nghiên cứu về hệ formant của 9 nguyên âm
đơn tiếng Hà Nội đọc tách rời đã được tác giả Vũ Kim Bảng trình bày trong
giới hạn phạm vi nghiên cứu là các CTV người Hà Nội và kết quả nghiên cứu
được tính theo giới tính. Việc trình bày giá trị khách quan của formant tính
bằng Hz trong mối tương quan với giá trị cảm nhận tính bằng đơn vị Bark cho
phép đưa ra các nhận xét về sự phân bố của hệ thống nguyên âm đơn tiếng Hà
Nội. Đây chính là cơ sở để tiếp tục thực hiện nghiên cứu các formant này trong
chuỗi lời nói liên tục cũng như các nguyên âm có sự tác động của thanh điệu.
Các đặc trưng âm học khác của tiếng Việt được nghiên cứu theo trình tự âm tố

14


(nguyên âm, phụ âm), âm tiết bao gồm cả thanh điệu và chuỗi lời nói góp phần
làm sáng tỏ đặc điểm đơn lập của tiếng Việt [6].
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Dựa vào việc mô tả cấu trúc formant của các nguyên âm đơn trong kết
hợp với thanh điệu và âm tắc ở các vị trí khác nhau trong âm tiết, mục đích
chính của luận án là: cung cấp các thông số âm học quan trọng cho quá trình
tổng hợp tiếng Việt, nhận dạng giọng nói tiếng Việt.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu cấu trúc formant của nguyên âm ở

, p, t, k/ và 6

phụ âm cuối tắc, mũi /m, n, p, t/ và / , k/.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phục vụ cho việc mô tả cấu trúc formant của nguyên âm trong các
kết hợp, chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phương pháp: phương pháp miêu tả và
ngữ âm học thực nghiệm. Ngoài ra, để chỉ rõ sự ảnh hưởng giữa thanh điệu
đến formant của nguyên âm, giữa phụ âm đầu và cuối đến formant so sánh
với formant nguyên âm ở trạng thái độc lập, một số thủ pháp thống kê và so
sánh cũng được sử dụng để trình bày, thể hiện và nhận xét các kết quả.
Để quan sát, miêu tả, phân tích các thông số âm học (các giá trị formant
(F1, F2) của nguyên âm) cũng như vẽ các biểu đồ, luận án đã sử dụng phần
mềm phân tích ngữ âm Praat.
Minh hoạ chương trình Praat và các cửa sổ của nó. Praat gồm màn hình
phía trên hiển thị dạng sóng của âm; màn hình dưới hiển thị các tham số:
1- Cửa sổ phía trên biểu thị dạng sóng của nguyên âm.
2 - Cửa sổ phía dưới biểu thị ảnh phổ trong đó có hiển thị đường nét
diễn tiến formant của nguyên âm. Ảnh phổ biểu thị vùng năng lượng của
formant là những khoảng tối sậm màu; vùng sậm màu ở dưới cùng biểu thị F1
của nguyên âm, những vùng sậm màu phía trên biểu thị vùng tần số F2.

16


Đường nét của formant của nguyên âm được hiển thị bằng những điểm liên
tục màu đen nhạt;
3- Cửa sổ nhỏ phía trên bên phải hiển thị các giá trị formant của nguyên
âm trên từng điểm đo.
Trục tung bên trái là thang đo và các mức tần số Hertz (Hz), trục hoành
phía dưới là trường độ của âm được tính bằng mili giây (ms). Các khoảng đo

- Điểm kết thúc chuyển tiếp của các formant, thời điểm mà các formant kết
thúc quá trình đi lên hoặc đi xuống, bắt đầu diễn tiến đều đặn như formant
của âm tiết trong kết hợp thanh điệu không bị chi phối bởi phụ âm đầu.
Chương trình Praat tính toán diễn tiến tần số của tất cả các formant (F1,
F2, F3, F4) của nguyên âm theo thời gian từ đầu đến cuối của một âm tiết.
Như vậy, khi đã xác định được hai điểm trên trong một Spectrogam, chúng tôi
có thể xác định được:
- Trường độ (ms) của phụ âm đầu và trường độ formant của nguyên
âm
- Diễn tiến vùng tần số (Hz) của các formant trong giai đoạn chuyển
tiếp và thời gian (ms) chuyển tiếp.
- Diễn tiến tần số (Hz) của các formant trong giai đoạn ổn định và
thời gian (ms) ổn định.
Kết quả đo trở thành nguồn tư liệu để vẽ các biểu đồ. Chúng tôi vẽ hai
loại biểu đồ:
- Biểu đồ thể hiện vùng tần số F1, F2 của các nguyên âm đơn của 6
CTV.

18


- Biểu đồ thể hiện trường độ formant của các nguyên âm trong các kết
hợp.
Tất cả các dữ liệu thông số âm học về trường độ (ms), vùng tần số
formant (Hz) của những CTV tiêu biểu, sau khi xử lí, được chuyển sang dạng
văn bản Excel. Dữ liệu được trình bày ở phụ lục.
Về ghi âm, chúng tôi lựa chọn 6 CTV là các phát thanh viên của Đài
tiếng nói Việt Nam, giọng Hà Nội, có độ tuổi từ 30 đến 40, được yêu cầu phát
âm theo bảng từ. Nguyên âm được chọn làm thực nghiệm ở đây là 9 nguyên
âm đơn dài, xuất hiện trong kết hợp với 6 thanh điệu, và kết hợp với phụ âm ở

mềm CoolEdit Pro, tín hiệu ghi âm được số hóa 16 bit, Mono, tần số lấy mẫu
11025 Hz.
7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần chỉ ra các đặc điểm
cấu trúc formant nguyên âm tiếng Việt trong quan hệ với các đơn vị chiết
đoạn và siêu đoạn. Trên cơ sở so sánh với một số tác giả khác nhằm chỉ ra các
nét đặc thù riêng của tiếng Việt được thể hiện ở các formant.
Những kết quả khảo sát của luận án là một tổng quan nghiên cứu về
formant của nguyên âm trong mối quan hệ với thanh điệu và âm tắc. Nó có
thể làm cơ sở và được tiếp tục nghiên cứu rộng hơn sang các phong cách nói
khác, ở những vùng phương ngữ khác nhau, các cá nhân ở nhóm tuổi khác
nhau, ứng dụng cho các mục đích tổng hợp, nhận dạng và giám định âm
thanh lời nói tiếng Việt.
Luận án sẽ đóng góp các kết quả khoa học mới:
- Nghiên cứu quy luật biến đổi cấu trúc formant của nguyên âm khi kết
hợp với thanh điệu và âm tắc mô tả trên ba phương diện: trường độ, vùng tần
số và diễn tiến vùng tần số.
- Mô hình hoá và đưa ra các tham số đặc trưng cho vùng quá độ giữa
formant và âm tắc, giữa formant và thanh điệu. Những nghiên cứu này tạo
tiền đề cho việc cải tiến, nâng cao chất lượng của các hệ tổng hợp âm thanh
tiếng nói, nhận dạng tiếng Việt.

20


8. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục luận án
được cấu trúc gồm 4 chương như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết
Trong chương này chúng tôi trình bày tổng quan về nghiên cứu formant

biến đổi âm sắc của âm thanh đi qua chúng. Chính vì vậy, hai khoang miệng
và họng là hai hộp cộng hưởng quan trọng nhất, chúng tạo nên hai formant
chính F1 và F2 đặc trưng của mỗi nguyên âm.

Hình 1.1: Đỉnh formant của nguyên âm /ee, uh, ah/ trong tiếng Anh (theo
Ladefoged)
Hiện nay, nhờ sự phát triển của các phần mềm tin học, người ta có thể
đo được chính xác tần số formant, số lượng formant của nguyên âm tương
ứng với vị trí cấu âm khác nhau.

23


1.2. Cấu tạo bộ máy phát âm của con ngƣời
Các cơ quan cấu âm được miêu tả dưới đây bao gồm có phổi, khí quản,
thanh hầu, các khoang họng, khoang miệng cùng với các bộ phận cấu thành
của chúng tạo thành một nhóm được gọi bằng thuật ngữ là bộ máy phát âm
(vocal tract). Vì các lí do miêu tả và chức năng hoạt động mà bộ máy phát âm
thường được chia ra thành hai phần, một phần nằm ở phía trên thanh hầu, và
một phần nằm ở phía dưới thanh hầu. Nằm trong thanh hầu là các dây thanh:
kẽ hở giữa các dây thanh được gọi là khe thanh (glottis), và bộ máy phát âm
phía trên khe thanh vì thế được gọi là bộ máy phát âm phía trên thanh hầu
(supraglottal), còn ở phía dưới nó là bộ máy phát âm phía dưới thanh hầu
(subglottal). Việc lựa chọn điểm phân chia này được dựa vào sự phân biệt có
tính chức năng. Hệ hô hấp ở phía dưới khe thanh cung cấp nguồn năng lượng
chính cho việc tạo ra các âm thanh lời nói, trong khi đó bộ máy phát âm phía
trên khe thanh xác định chất lượng ngữ âm của các âm thanh lời nói. Các
công trình mô tả ngữ âm về âm thanh lời nói chủ yếu quan tâm đến hoạt động
phía trên thanh hầu.
Phổi (Lung): là một bộ phận gồm có vô số những bọng hơi nước rất

yết hầu

răng

thực quản
nắp thanh quản
dây thanh

Hình 1.2: Hình ảnh minh họa các cơ quan cấu âm của con người
(nguồn: Courtesy of Mike Gasser/Indiana University)
Dây thanh (Vocal Cord): gồm hai sợi ở cơ đàn hồi, hình nẹp có cấu
trúc niêm mạc. Một đầu dây thanh nối liền với sụn giáp cố định; một đầu kia
nối với sụn phễu. Nhờ các cơ mà sụn phễu có thể cử động linh hoạt làm cho
hai dây thanh có thể khép chặt để ngăn luồng hơi từ phổi đi ra hoặc mở ra
theo những dạng khác nhau. Ở trạng thái tĩnh dây thanh của đàn ông dài
khoảng 1,5 cm, của phụ nữ khoảng 1,2 cm. Dây thanh dày lên theo tuổi tác,
đặc biệt vào tuổi 14 -15, dây thanh dày lên rất nhanh, tạo nên hiện tượng gọi
là “vỡ giọng”.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status