Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC
BÁO CÁO KIẾN TẬP
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH PHÚ THỌ
ĐỊA ĐIỂM KIẾN TẬP
PHÒNG NỘI VỤ HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
Người hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Ngành đào tạo
Lớp
Khóa học
: Lê Ngọc Nguyên
: Nguyễn Thị Hồng Nhung
: Quản trị Nhân lực
: 1205.QTND
: 2012 - 2016
Hà Nội - 2015
Nguyễn Thị Hồng Nhung
0
1.2.3 Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã.............................................................................9
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã.............................................10
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã......................................13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI HUYỆN
TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ....................................................................................19
2.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã tại huyện Tam Nông......................................19
2.1.1 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã theo năng lực, trình độ..........................................19
2.1.2 Chất lượng CB,CC cấp xã theo kỹ năng....................................................................22
2.1.3 Chất lượng CB,CC qua mức độ hoàn thành công việc...................................................23
2.1.4 Chất lượng CB,CC theo phẩm chất, đạo đức công vụ....................................................23
2.2 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng của CB,CC cấp xã Huyện Tam Nông ......................24
2.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân......................................................................................24
Nguyễn Thị Hồng Nhung
1
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân.......................................................................................26
2.3 Tính cấp thiết nâng cao chất lượng CB,CC cấp xã huyện Tam Nông...................................30
CHƯƠNG 3.MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ..............................32
3.1. Quan điểm về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông ...............32
3.1.1 Mục tiêu chung.....................................................................................................32
Tôi xin cam đoan bài báo cáo này là quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
nghiêm túc của tôi trong thời gian một tháng kiến tập qua. Trong đó tôi nhận có
tham khảo một số văn bản như: Luật, nghị định, thông tư và các văn bản của
phòng Nội vụ huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ. Và một số thông tin từ sách, báo,
trang web. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về
thông tin sử dụng trong bài cáo cáo này!
Phú Thọ, tháng 5 năm 2015
Người làm:
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Kiến tập là một giai đoạn giúp sinh viên tiếp cận với kiến thức thực tế,
giúp cho sinh viên học hỏi được những kinh nghiệm làm việc tại cơ quan thực
tập, vận dụng những kiến thức lĩnh hội được ở nhà trường để áp dụng vào thực
tế.
Qua thời gian một tháng kiến tập tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
của các thầy,cô trong khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực trường Đại học Nội vụ
Hà Nội và sự hưỡng dẫn nhiệt tình của các cán bộ, công chức trong phòng Nội
vụ - Uỷ ban nhân dân huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ tôi hoàn thành
tốt quá trình kiến tập này.
ĐH
Đại học
QLNN
Quản lý nhà nước
SC
Sơ cấp
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
TS
Thạc sỹ
UBND
Uỷ ban nhân dân
Nguyễn Thị Hồng Nhung
luận chính trị; trình độ tin học, ngoại ngữ yếu và thiếu nên việc nắm bắt, hiểu
biết các văn bản pháp luật của cán bộ, công chức chưa đầy đủ, chính xác; cập
nhật các văn bản pháp luật của cán bộ, công chức còn chậm dẫn đến tình trạng
lúng túng, va vấp trong xử lý công việc; thậm chí vi phạm pháp luật gây ảnh
hưởng đến chất lượng công việc. Một số cán bộ, công chức chưa qua đào tạo,
làm việc theo tinh thần thụ động, ỷ lại, trông chờ. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng
của nền kinh tế thị trường, nhiều cán bộ, công chức bị tha hóa về đạo đức dẫn
Nguyễn Thị Hồng Nhung
1
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
đến tham ô, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu cho
nhân dân…
Do yêu cầu của hiện tại của Huyện Tam Nông vì vậy cần phải nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhận thấy tầm quan trọng của vấn
đề, tôi quyết định chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng cán
bộ, công chức cấp xã tại huyện Tam Nông Tỉnh Phú Thọ”. Với mong muốn đưa
ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở
đây.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu để làm rõ thực trạng chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã tại huyện Tam Nông, từ đó đề ra những giải pháp để nâng cao
chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, để đáp ứng được nhu cầu của địa phương.
Phục vụ nhân dân một cách tốt nhất.
3. Nhiệm vụ nhiên cứu
cán bộ, công chức.
Ngoài các phương pháp trên, tôi còn sử dụng các phương pháp khác như
quan sát, điều tra thông qua các cán bộ, công chức của phòng Nội vụ huyện Tam
Nông, tỉnh Phú Thọ.
6. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Nghiên cứu, phân tích đưa ra tiêu chí đánh giá chất lượng
cán bộ, công chức cấp xã tại Tam Nông nói riêng và của tỉnh Phú Thọ nói chung.
Về mặt thực tiễn: Làm rõ thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
tại huyện Tam Nông, qua đó đánh giá chất lượng, đưa ra những giải pháp để
nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã trong huyện.
Nếu được ứng dụng thì sẽ giúp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
cấp xã trong huyện.
Có thể làm tư liệu cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1:Tổng quan về huyện Tam Nông và cơ sở lý luận nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Tam Nông.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện tại huyện
Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nâng cao chất lượng cán bộ, công
chức cấp xã tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
B. NỘI DUNG
Nguyễn Thị Hồng Nhung
3
Lớp 1205.QTND
QL 32, QL 32A, QL 32C. Tam Nông được xác định là vùng kinh tế trọng điểm
về công nghiệp của tỉnh,trên địa bàn huyện có 2 khu công nghiệp trung tâm là
Nguyễn Thị Hồng Nhung
4
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
khu công nghiệp Trung Hà và Khu công nghiệp Tam Nông. Ngoài ra còn có
nhiều doanh nghiệp tiêu biểu khác.
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của huyện Tam Nông.
Huyện Tam Nông được hình thành từ ngày 05 tháng 5 năm 1969 trong
kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tam Nông là tên một huyện của tỉnh Phú Thọ
(miền Bắc) kết nghĩa với tỉnh Long Châu Sa.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, huyện Tam Nông và huyện Thanh
Bình được sát nhập lại, Tam Nông được giữ lại làm tên của huyện mới, huyện lỵ
đặt tại Thị trấn Thanh Bình. Về sau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
chủ trương khai thác Đồng Tháp Mười, Quyết định của Trung ương ngày 10
tháng 8 năm 1983, huyện Tam Nông được tách ra làm hai huyện Thanh Bình và
Tam Nông. Huyện lỵ Tam Nông đặt tại xã Tân Công Sính nay là Thị trấn Tràm
Chim.
1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội cán bộ, công chức cấp xã.
1.2.1 Các khái niệm liên quan.
1.2.1.1
Khái niệm cán bộ cấp xã:
quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau
đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Khái niệm công chức cấp xã:
Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã là công
dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc
UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là hoạt động nhằm nâng
cao một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn
diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng
lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, công chức và cơ cấu, số
lượng, độ tuổi, thành phần, tình trạng sức khỏe… của cả đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã
1.2.2 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực
tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp lụât của Nhà nước vào dân,
gắn bó với nhân dân.
Cán bộ, công chức cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ, công chức
6
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
nhà nước cấp trên.
Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Nguyễn Thị Hồng Nhung
7
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
Trưởng Công an;
Chỉ huy trưởng Quân sự;
Văn phòng - thống kê;
Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
Tài chính - kế toán;
Tư pháp - hộ tịch;
Văn hoá - xã hội.
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và không chuyên
trách:
Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao
động, làm việc tại công sở để thực hiện chức trách được giao, bao gồm: Cán bộ
giữ chức vụ qua bầu cử gồm: Cán bộ chủ chốt của cấp ủy đảng, HĐND, UBND,
những người đứng đầu ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.
khai, vận động, dẫn dắt nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước, họ tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân. Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất,
làm cho Đảng, Nhà nước “ăn sâu, bám rễ” trong quần chúng nhân dân, tạo nên
quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh
động hay không, tùy thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động
nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng, củng
cố tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở, phát triển phong trào cách mạng quần
chúng ở cơ sở. Họ là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng hệ thống chính trị
cấp xã, là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực của địa phương,
động viên mọi tâng lớp nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục
tiêu về kinh tế - xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cơ sở.
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã.
1.2.4.1 Tiêu chí số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức luôn đi liền với chất
lượng.
Nguyễn Thị Hồng Nhung
9
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Để nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức, cần phải giải quyết tốt
mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng cán bộ, công chức. Chỉ khi nào hai
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
với yêu cầu công việc. Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với hệ thống văn bằng
hiện nay và được chia thành các trình độ như sơ cấp, trung cấp, đại học và trên
đại học. Tuy nhiên khi xem xét về trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức
cấp xã cần lưu ý sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với yêu cầu thực hiện
công việc.
Tiêu chí về kỹ năng nghề nghiệp: Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá chất
lượng cán bộ, công chức, phản ánh tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ.
Có thể chia thành 3 nhóm kỹ năng chính:
Kỹ năng kỹ thuật: khả năng nắm vững các phương pháp sử dụng phương
tiện, công cụ cũng như kiến thức về một lĩnh vực cụ thể nào đó.
Kỹ năng quan hệ: nói đến khả năng giao tiếp, phối hợp, chia sẻ, động
viên, tạo sự chú ý.
Kỹ năng tổng hợp, tư duy chiến lược: Cán bộ, công chức có khả năng
tổng hợp, tư duy trong công việc một cách linh hoạt để vận dụng vào thực tiễn.
Điều này liên quan đến khả năng nhìn nhận tổ chức như một thể thống nhất và
sự phát triển của các lĩnh vực, hiểu được mối liên hệ phụ thuộc giữa các bộ phận
bên trong của tổ chức; dự đoán được những thay đổi trong bộ phận này sẽ ảnh
hưởng tới bộ phận khác ra sao.
Nguyễn Thị Hồng Nhung
11
Lớp 1205.QTND
không đáp ứng yêu cầu công việc, chứng tỏ chất lượng cán bộ, công chức thấp.
Nguyễn Thị Hồng Nhung
12
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
1.2.4.6 Tiêu chí về phẩm chất đạo đức công vụ
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Phẩm chất đạo đức công vụ: Là sự thể hiện đặc thù đạo đức chung của xã
hội trong công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm thực hiện chức năng của
Nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội, đó là những qui
tắc chuẩn mực, giá trị được xã hội thừa nhận là tốt đẹp, do quá trình tu dưỡng
rèn luyện, theo tiêu chuẩn có được khi họ thi hành công vụ. Phẩm chất đạo đức
công vụ thể hiện trong mối quan hệ khi thi hành công vụ, đó là: quan hệ với Nhà
nước, nhân dân; quan hệ với cấp trên, cấp dưới; quan hệ với đồng nghiệp (cùng
cấp), trong các mối quan hệ này phản ánh các mối quan hệ lợi ích: Lợi ích cá
nhân với cá nhân; lợi ích cá nhân với xã hội. Từ đó hình thành nên chuẩn mực
đạo đức chung và những chuẩn mực đạo đức cụ thể được pháp luật qui định.
Luật cán bộ, công chức năm 2008 qui đinh: “Cán bộ, công chức phải thực hiện
cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư trong hoạt động công vụ”
Trước yêu cầu của việc xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh,
không chỉ đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ mà cả lập trường, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề
nghiệp. Do vậy, cán bộ, công chức cần rèn luyện những phẩm chất đạo đức công
cán bộ cấp xã đã được nâng lên, nhưng những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực
nhà nước và quản lý nhà nước, quản lý kinh tế thì rất yếu và thiếu. Hơn thế nữa,
đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã lại thường biến động qua mỗi cuộc bầu cử.
Đây cũng chính là lý do tạo cho người cán bộ chính quyền cấp xã không an tâm
trong công tác, không có ý chí học tập nâng cao trình độ. Điều này có hạn chế
rất lớn đến chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã. Đây là
một trong những nguyên nhân làm cho đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã chưa
đáp ứng được với yêu cầu của công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.
Công tác đào tạo đội ngũ CB,CC chính quyền cấp xã là một yêu cầu vừa
cơ bản, vừa cấp bách. Nếu không đào tạo thì không thể có đội ngũ cán bộ công
chức cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH đất
nước; không thể trẻ hóa được đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã.
1.2.5.2 Cơ chế tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã
Tuyển dụng CB,CC là khâu quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã. Nếu công tác tuyển dụng tốt thì sẽ tuyển được những
công chức có năng lực, trình độ chuyên môn, khả năng thực hiện công việc tốt.
Ngược lại nếu công tác tuyển dụng không được chú trọng, nghiêm túc thì sẽ
tuyển những công chức không có năng lực, không có trách nhiệm và không có
khả năng thực hiện nhiệm vụ. Trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay
không phải ai cũng được tuyển chọn qua thi tuyển mà có những người chuyển
ngành sau chiến tranh, hoặc được bổ nhiệm, bầu cử và phê chuẩn. Do vậy sẽ tồn
14
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
tại những cán bộ, công chức không đảm bảo đúng tiêu chuẩn về trình độ chuyên
môn, trình độ học vấn theo tiêu chuẩn của pháp luật hiện nay, thậm chí tuyển cả
15
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
giá, phải gắn vào công việc, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà cán bộ, công chức
hoạt động, phải được thực hiện thường xuyên và lưu trữ kết quả đầy đủ, làm tài
liệu căn cứ để theo dõi quá trình diễn biến sự phát triển của cán bộ, công chức.
Do vậy đánh giá là hoạt động chính xác nhất đo lường khả năng hoàn thành
nhiệm vụ của cán bộ, công chức.
Tuy nhiên việc đánh giá CB,CC hiện nay chưa lấy hiệu quả công việc làm
thước đo chủ yếu; các tiêu chí đánh giá còn nặng về định tính nên kết quả đánh
giá còn mang tính tương đối, thiếu khách quan; quá trình đánh giá còn nặng về
hình thức, xuê xoa, chiếu lệ, thiếu tính chiến đấu, thiếu tinh thần xây dựng; vẫn
còn tình trạng lãnh đạo các đơn vị bao che, làm thay công chức, thuộc quyền
quản lý.
1.2.5.5 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức cấp xã
Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn
biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, công chức giúp cho cấp ủy và thủ trưởng
phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và tác động, làm cho cán bộ, công
chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc. Qua đó để có thưởng phạt
nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, cái tiêu cực, phát huy những nhân tố tích cực;
đồng thời nắm vững thực trạng của CB,CC và là cơ sở để làm tốt công tác cán
bộ từ quy hoạch cho đến đào tạo và sử dụng bố trí cán bộ.Thực tế cho thấy, đối
với cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, một số cán bộ khi mới được đề bạt,
bổ nhiệm, mới được bầu cử đều là những người tốt, có đạo đức, trung thành, tận
tụy, liêm khiết, có uy tín đối với đồng bào nhân dân địa phương song trong quá
trình hoạt động vốn dĩ đã hạn chế về trình độ năng lực so với cán bộ các vùng
Trong thời gian vừa qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách hướng
về cán bộ, công chức cấp xã nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ, công
chức và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở cơ sở để có thể đảm đương
được nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, hệ thống chính sách đối với cán
bộ, công chức cấp xã chung hiện nay vẫn còn một số bất cập.
Chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã khu vực miền núi nói riêng, cán bộ, công chức cấp xã trên phạm vi cả nước
nói chung chưa trở thành đòn bẩy kích thích làm việc với sự nhiệt tình hăng say.
Hệ thống chính sách, vẫn mang tính chắp vá không đồng bộ. Chưa khuyến khích
những người công tác ở cơ sở vùng sâu, vùng xa; cơ chế quản lý, việc xây dựng
ban hành và tổ chức thực hiện chính sách còn chồng chéo, thiếu nhất quán,
không đồng bộ từ quy hoạch đến đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng đến cơ chế
kiểm tra, giám sát...
Tất cả những bất hợp lý về chính sách cán bộ như nêu trên dẫn đến kết
quả nhiều cán bộ, công chức có năng lực thực sự không muốn tham gia vào
công tác địa phương hoặc nếu tham gia có quan điểm nay làm mai nghỉ, hoặc
Nguyễn Thị Hồng Nhung
17
Lớp 1205.QTND
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
cán bộ, công chức đương chức cửa quyền chỉ bố trí người thân cận, người trong
dòng họ, người địa phương... Có nhiều xã, phường, thị trấn bố trí số lượng cán
bộ, công chức nhiều hơn quy định, nhưng bên cạnh đó có nhiều xã, phường, thị
trấn thì đang thiếu các các chức danh này, dẫn đến cán bộ, công chức thiếu đồng
bộ về cơ cấu, độ tuổi, giới tính và non kém về năng lực, không biết làm. Đây là
Chuyên môn nghiệp vụ:
TS 0 người. ĐH 89 người chiếm 20,99%, CĐ 19 người chiếm 4,48%.TC 282
người chiếm 66,50%. SC 34 người chiếm 8,01%. CQĐT 0.
Học vấn phổ thông:
THPT 423 người chiếm 99,76%, THCS 1 người chiếm 0,24%.
Trình độ chính trị:
Cử nhân 0 người. cao cấp lý luận chính trị 3 người chiếm 0,70%. TC 262 người
chiếm 61,79%. SC 0 người. CQĐT 159 người chiếm 37,51%.
Tin học:
Nguyễn Thị Hồng Nhung
19
Lớp 1205.QTND